Uhm mở đầu bài viết thì tôi có vài lời muốn nói rằng góc nhin, tư duy suy luận và kết luận đều là theo quan điểm cá nhân của tôi. Chính tôi tự tìm hiểu, vận dụng trực tiếp vào bản thân mình.Nên sẽ còn rất nhiều thiếu sót mong các bạn đọc và cảm nhận.
Thực ra, để hiểu tại sao tôi lại chọn viết ra những suy nghĩ của riêng minh, ta phải quay lại với bản chất của một kẻ thích sáng tạo dưới góc nhìn khoa học.
Dưới lăng kinh của thân kinh học, bộ não của một người đam mê sáng tác lúc thăng hoa sẽ hoạt động chủ yếu ở dải sóng não Theta (4Hz - 8Hz) - tần số của sự liên tưởng phóng khoáng, nơi các ý tưởng kết nối với nhau một cách bùng nổ, và sóng não bộ ngập tràn Dopamine, tạo ra một dòng chảy năng lượng khổng lồ trực chờ được phóng thích ra ngoài.
Những chuyện gì sẽ xảy ra nếu chiếc "nhà máy điện" công suất cao đó bị bắt dừng lại? Khi một người có khả năng sáng tọa mạnh mẽ bị ép phải kìm nén, không được tạo ra thứ gì mới, dòng năng lượng đó không tự dưng mất đi, Nó bị nghẽn lại và quay ngược vào bên trong, tự ăn mòn chính chủ thể.
Lịch sử đã chứng minh, rất nhiều vĩ nhân sở hưu bộ não sáng tạo vượt bậc, khi không tìm được lối thoát cho dòng chảy tư duy hoặc bị thực tại vùi dập. Họ dã rơi vào trạng thái tự hủy hoại bản thân một cách tàn nhẫn. Vincent van Gogh tự cắt tai của mình và kết thúc cuộc đời trong sự cô độc; Nikola Tesla những năm cuối đời rơi vào hoang tưởng cực, cô lập bản thân hoàn toàn với thế giới; hay như danh họa Edvard Munch suốt đời bị hành hạ bởi chứng trầm cảm và lo âu nặng nề. Khi cái van sáng tạo bị khóa, bộ não của họ tự động bật chế độ tự vệ sai hướng: quay ra sản sinh ra những suy nghĩ tiêu cực, lo âu, tự làm tổn thương và nhìn mọi thứ xung quanh bằng một lăng kính vô cùng đen tối.
Tôi không dám so sánh mình với những vĩ nhân ấy. Nhưng ở một góc độ nào đó, tôi hiểu rất rõ cái cơ chế "tự ăn mòn" này. Khi bản thân tôi bị mắc kẹt giữa đống sách vở dài dằng dặc, giữa những thứ giải trí vô thưởng vô phạt trên mạng xã hội khiến cái máu sáng tạo bị đóng băng, não tôi cũng bắt đầu dở chứng. Nó lập tức vẽ ra đủ trò suy diễn, tự đẩy tôi vào trạng thái chán chường, lo âu về đủ thứ chuyện trên đời mà chẳng vì một lý do cụ thể nào cả.
Để rồi từ những suy diễn vô cớ đó, tôi bắt đầu trượt dài vào vũng lầy của sự tự ti. Tôi nhìn vào gương và tự chất vấn bằng những câu hỏi đầy cay nghiệt: "Tại sao mình lại kém cỏi thế này?". Những mục tiêu từng vạch ra, những kế hoạch bản thân đã đổ bao công sức và cố gắng để thực hiện, nhưng khi kết quả không như ý, tôi lập tức phủ nhận sạch trơn. Tôi thấy mọi nỗ lực của mình thật vô lý, và mọi thứ mình làm thật vô nghĩa.
Trong trạng thái tăm tối đó, tôi hoàn toàn phớt lờ những cố gắng của chính mình. Tôi quên mất rằng bản thân đã từng nỗ lực ra sao, quên đi cả những thành quả — tuy không phải cái gì đó quá to lớn vĩ đại, nhưng rõ ràng nếu đôi khi nghĩ lại, chúng vẫn đủ để làm mình có chút niềm tự hào. Thế nhưng, cơ chế tự vệ sai lệch của bộ não lúc này lại chọn cách vận hành tàn nhẫn hơn: Tôi chủ động phóng to những lỗi sai của mình lên gấp trăm lần, biến một vấp ngã nhỏ thành một bản án thất bại định hình nên cả con người tôi, trong khi lại thu nhỏ mọi điểm tốt của bản thân xuống mức vô hình.
Chính cái sự bất công tuyệt đối này với chính mình đã ép tôi phải đi tìm một lối thoát. Và đó là lúc tôi nhận ra, mình không thể để bộ não tự ăn mòn như vậy mãi được.
Trong những khoảnh khắc chạm đáy đó, tôi chọn cách không trốn chạy nữa. Tôi bắt đầu tự ép mình phải cố gắng nhìn lại, tự đối diện với vùng tối của bản thân bằng một cái nhìn kỹ càng và soi xét. Đó là một quá trình đầy nghiêm khắc, nhưng kỳ lạ thay, trong sự nghiêm khắc đó lại có cả phần bao dung. Bởi vì suy cho cùng, dù là những góc đen tối hay tiêu cực nhất, thì đó cũng chính là tôi, là một phần máu thịt mà tôi không thể chối bỏ.
Và ngay khi tôi dám đứng lại để bao dung và thấu hiểu, một phép màu tâm lý đã xảy ra. Cái thứ mà tôi từng nghĩ là một "con quỷ" đáng sợ đang chực chờ nuốt chửng lấy mình, bỗng chốc lại hóa thành một cậu bé chỉ biết giận hờn, đang ngồi lủi thủi ở một góc nhỏ trong khu vườn tâm hồn. Cậu bé ấy quấy phá chỉ vì cảm thấy cô độc và sợ hãi trước thực tại. Khi bản thân tôi nhận ra và chấp nhận sự thật đó, mọi giông bão bấy lâu nay bỗng tan biến. Lúc này, tâm hồn tôi dần dần bình tĩnh lại, trở nên yên bình đến lạ kỳ, giống như một mặt hồ phẳng lặng không còn một gợn sóng.
Viết ra những suy nghĩ này, đối với tôi, chính là cách để tôi mở cửa bước vào khu vườn đó, để vỗ về cậu bé ấy và đưa mọi thứ trở lại sự cân bằng vốn có.
Tôi sực nhớ đến một lý thuyết kinh điển về "The Shadow" (Mặt tối) của nhà tâm lý học lỗi lạc Carl Jung mà mình từng đọc được ở đâu đó. Khi tự soi chiếu lại hành trình của mình, tôi mới thực sự thấu hiểu những gì ông muốn truyền tải. Trong cái xã hội bận rộn và vội vã ngày nay, chúng ta luôn có xu hướng lao ra ngoài để kiếm tìm những thứ hạnh phúc xa xôi, hữu hình, mà lại vô tình quên đi việc phải quay vào bên trong để nuôi dưỡng "đứa bé" và chăm sóc "khu vườn tâm hồn" của chính mình.
Chúng ta trốn chạy mặt tối, phủ nhận những tổn thương, để rồi để mặc cho những "con quỷ" lo âu và tiêu cực tự do quấy phá trong vô thức. Một khi chúng ta còn thật sự chẳng thể hiểu nổi chính bản thân mình, thì làm sao chúng ta có thể tìm kiếm được hạnh phúc đích thực cho cá nhân? Và làm sao ta có thể mang lại hạnh phúc cho bất kỳ một ai khác?
Viết ra suy nghĩ của chính mình, suy cho cùng, chính là bước đầu tiên để tôi học cách hiểu bản thân. Chỉ khi dám đối diện, dám bao dung với cả những phần tăm tối nhất, mặt hồ tâm trí mới có thể thực sự phẳng lặng, và từ đó, một thứ hạnh phúc tự thân, vững chãi mới có cơ hội được định hình.