Paulo Freire
Paulo Freire
Lời nói đầu
Paulo Freire là cái tên chắc không còn mấy xa lạ với người Việt Nam chúng ta, đặc biệt là sau khi cuốn sách Lý Thuyết Sư Phạm Phê Phán được dịch giả Lê Hồng Vân chuyển ngữ từ bản gốc Pedagogy Of The Oppressed của tác giả.
Đối với sự hình thành của chủ nghĩa Marx và Marx – Lenin ở Việt Nam, có thể nói đây là một bề dày tương đối phức tạp, còn tồn đọng nhiều vấn đề và mâu thuẫn nhất định trong hệ thống, việc đọc và phân tích cuốn sách này của Paulo Freire như một cách để đánh giá lại nó hay hệ thống hiện hành, đặc biệt là trong mảng giáo dục và nhận thức của học sinh sinh viên, nhằm xây dựng nên một nền giáo dục dân chủ, tự do, khai phóng, nhất là khi giáo dục Việt Nam đang dần hội nhập với giáo dục quốc tế, và nền giáo dục đặc quyền đang dần biến mất, khi khoảng cách giữa người dân và giáo dục không còn quá xa nữa.
Tất nhiên, thứ mà ta nhắm vào là đào tạo nên những con người biết suy nghĩ theo chính kiến riêng của mình, tự mình giải phóng mình, chứ không phải là vì thành tích hay bảng điểm cá nhân trong giáo dục, vì điều này chính là phản giáo dục, như John Dewey đã đề cập trong cuốn sách Dân Chủ và Giáo Dục của ông, và John Dewey là người có ảnh hưởng tới Paulo Freire.
Lý do vì sao tên cuốn sách lại là Pedagogy of The Opressed?
Ta hãy cùng phân tích những từ cấu tạo nên cái tên trên, thứ nhất Pedagogy, có nghĩa là sư phạm, có nghĩa là dạy học, ở đây ta hiểu Pedagogy ám chỉ hành vi dạy học của người thầy, của người giáo viên trong một lớp học, người thầy đó cần có sự tương tác nhất định đối với học sinh của mình, thứ hai The Opressed, lược dịch và hiểu nôm na có nghĩa là bị áp bức, ở đây, nó ám chỉ là những người bị áp bức, có thể là bị áp bức bởi hệ thống giáo dục, mà hệ thống giáo dục này lại được xây dựng dựa trên những kẻ áp bức, sở hữu người khác. Từ đó, ta có thể hiểu rằng, Sư phạm phê phán ở đây, như một công cụ chống lại những kẻ áp bức, giải phóng người bị áp bức ra khỏi cái gông mà họ đã dính vào, cũng như qua sư phạm, ban cho họ sự tự do chính đáng thuộc về họ.
Góc nhìn của Freire về giáo dục:
Theo như cuốn sách Lý Thuyết Sư Phạm Phê Phán của Freire, ông tập trung chỉ trích nền giáo dục truyền thống, thầy đọc trò chép, hay phương thức giảng dạy coi học sinh như một cái thùng để có thể đổ đầy kiến thức vào, ông gọi loại giáo dục kiểu này là loại giáo dục ký thác theo kiểu ngân hàng, trong đó người thầy coi học sinh như những tài khoản ngân hàng, để có thể ký thác càng nhiều kiến thức vào đầu các em càng tốt, lý thuyết này có nét rất giống với vị triết gia tiền bối đã ảnh hưởng tới ông, John Dewey. Paulo Freire, thay vào đó, đã đề xuất ra một giải pháp sư phạm của riêng ông, mà ông gọi nó chính là sư phạm phê phán, trong phương pháp này, ông nói ta nên có một phương thức giảng dạy mới đối với việc học, ở đây người học được coi như là người dạy và người dạy thì được coi như là người học, thầy và trò sẽ cùng nhau tương tác, đặt câu hỏi, đối thoại về những chủ đề, mà khi những chủ đề này được nhắc ra, hay được đề cập tới, nó sẽ khiến cho người học, hay những người bị áp bức, nhận thức được hoàn cảnh và cái thực tại đang diễn ra xung quanh họ, từ đó khiến họ hành động, tương tác với thực tại đó, cải biến thực tại, để giải phóng họ khỏi ách áp bức, hay bóc lột. Những chủ đề đó là những chủ đề không nằm trong khuôn khổ giáo trình hay sách giáo khoa, mà nó có thể rất rộng, bao hàm tất cả các mặt của đời sống chính trị xã hội của người học, đó có thể là chủ nghĩa bảo thủ, chủ nghĩa tự do, phân biệt chủng tộc, sự phân tầng giai cấp trong xã hội hiện đại, chiến tranh, bệnh tật, đói nghèo,…Muốn hiểu được chủ đề nào cần nói và chủ đề nào cần dùng để tương tác với người học, thì chúng ta cần dùng tới một phương pháp xã hội học trong giáo dục, tức là nghiên cứu những suy nghĩ, về điều kiện và hoàn cảnh sống của những người sống trong xã hội đó, thường là một vùng, một thị xã hay một huyện. Phương pháp này được Freire nêu rõ trong cuốn sách Lý Thuyết Sư Phạm Phê Phán của ông, có thể phân loại nó dành riêng cho các nghiên cứu sinh ở bậc học thạc sĩ trở lên, nó nằm ở chương IV của cuốn sách, tuy nhiên không thể đọc trước chương này mà cần phải đọc các chương I, II, III của nó.Đối với Freire, nền giáo dục truyền thống, tức là nền giáo dục được xây dựng nên bởi chính quyền Brazil thời bấy giờ, tức chính quyền đã gây nên cái đói nghèo, cái khốn khổ và thiếu thốn cho hàng triệu người dân Brazil đã xây dựng nền giáo dục đó, một phần vì ông đã từng lớn lên trong đói nghèo dưới chế độ này, nên những gì ông chỉ trích trong lĩnh vực giáo dục, trong cuốn sách của mình, cũng nhằm một mục đích chỉ trích chính chính quyền đã tạo nên sự đói nghèo, hay nền giáo dục của chính quyền đó, nền giáo dục của những kẻ độc tài.Trong phần mở đầu của mình, ông cũng tập trung chỉ trích chủ nghĩa bè phái cánh tả và chủ nghĩa bè phái cánh hữu trong cả lĩnh vực chính trị và giáo dục, vì cả hai chủ nghĩa này, đều là hai dạng lý luận có sự liên quan tới chính quyền Brazil thời bấy giờ, và tất cả phép biện chứng mà họ xây dựng nên trong khung tư tưởng của họ, đều nhằm mục đích mang con người về lại với trật tự giai cấp cũ, cho dù đó là cánh tả với những sự lý luận biện chứng mang tính giải phóng nhưng lại mang tính định mệnh luận, còn cánh hữu thì lại tập trung bảo tồn trật tự thứ bậc cũ trong xã hội, chống lại phép biện chứng. Và nếu ngả về phía bên nào, thì cũng đều không thể mang lại cho con người sự tự do đích thực mà họ xứng đáng có được.
Freire, Dewey và chủ nghĩa Marx
Nếu như đọc tác phẩm của cả ba người này, bạn sẽ thấy họ đều có điểm chung đó là cùng chỉ trích sự phân biệt giai cấp trong xã hội và sự bất bình đẳng trong điều kiện của những con người sống trong xã hội đó. Nó bao gồm giáo dục, tiền bạc, sự áp bức và bóc lột, cũng như đói nghèo. Tuy nhiên, nếu ta đọc kỹ qua các tác phẩm của những con người này, bạn lại thấy họ có những giải pháp khác nhau để có thể khiến cho xã hội thay đổi và trở nên tiến bộ hơn, mặc dù cả ba người đều có dính dáng tới chủ nghĩa xã hội, riêng Dewey thì là một người có liên quan tới chủ nghĩa Trotskyism, một dạng chủ nghĩa chống lại Stalinism thời bấy giờ. Bạn có thể xem qua cuốn sách Kinh Nghiệm Và Giáo Dục, bản do Phạm Anh Tuấn dịch, trong đó phần cuối sách có đề cập tới nội dung này.
Đối với Freire, những gì mà Marx đã ảnh hưởng tới ông, đó chính là việc qua đôi mắt của mình, ông nhìn thấy được, sự áp bức và đói nghèo đang diễn ra và hiện hành ở khắp mọi nơi trên thế giới, và động lực trong ông để đưa ra một lý thuyết, mà cụ thể ở đây là lý thuyết sư phạm, nhằm mục đích giải phóng những người bị áp bức. Ông coi lý thuyết sư phạm phê phán của mình như một công cụ hữu hiệu, để trao quyền cho cả người học và người dạy, để từ đó, họ có thể phá vỡ được sự kìm kẹp, có trong hệ thống giảng dạy được xây dựng bởi chính quyền áp bức, mà họ là một phần trong đó.
Đối với Dewey, cũng gần giống như Freire, tuy nhiên, ông không đọc Marx, lý thuyết của ông về Kinh Nghiệm, nó mang khuynh hướng dân chủ, và có phần ngả theo chủ nghĩa tự do(Liberalism) hơn so với Freire, mặc dù chỉ trích sự phân biệt giai cấp trong xã hội, hay nói đúng hơn là chỉ trích giai cấp nhàn tản trong xã hội Mỹ thời ông sống, thứ mà Thorstein Veblen sau này sẽ phát triển trong cuốn sách Lý Thuyết Về Tầng Lớp Nhàn Rỗi của mình. Dewey vẫn không bao giờ phủ nhận sự tồn tại đáng có của chủ nghĩa tư bản, phương pháp giáo dục cho sinh viên, học sinh của ông, cũng nhằm một mục đích để sau này các em có thể có một cái nghề và cống hiến trực tiếp vào nền kinh tế, và nghề này, cần phù hợp với sự hứng thú, năng khiếu có bên trong các em.
Đối với Marx, ông đã quá nổi tiếng trong giới hàn lâm lẫn đại chúng rồi, các tác phẩm của ông được trích dẫn rất nhiều bởi nhiều học giả nổi tiếng trên khắp thế giới, số lượng triết gia kinh tế hay triết gia đọc Marx nhiều vô số kể, đếm có khi lên tới hàng chục, thậm chí hàng trăm người có sức ảnh hưởng trong lĩnh vực kinh tế, đọc Marx. Mặc dù chỉ là một lý thuyết nói về sự hình thành của tư bản, nói về cách mạng và đấu tranh giai cấp trong một xã hội đầy rẫy bất công, ở đây chính là bất công về mặt kinh tế, bất bình đẳng về mặt thu nhập. Và sử dụng phép duy vật biện chứng trong lý luận, để có thể thực hiện giải phóng giai cấp bị áp bức bóc lột, khỏi giai cấp bóc lột trong xã hội tư bản, nhưng không thể nào phủ nhận được, tầm quan trọng của Marx và những lý thuyết của ông đối với hậu thế, đặc biệt là ở các nước phát triển. Giáo Trình Triết Học Mác Lê ở nước ta vẫn chưa thể hiện hết những phần tinh túy trong triết học Marx. Mà theo Trần Đức Thảo, trong cuốn Tuyển Tập, Tập 3 do Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia ấn hành, thì ông đã dành hẳn gần 30 trang sách, chỉ để nói về chủ nghĩa lý luận không có con người của Louis Althusser, một nhà lý luận Marxist nổi tiếng khác cũng đã từng trích dẫn Trần Đức Thảo, thứ mà sẽ được nhìn thấy trong chủ nghĩa Stalin sớm sẽ vươn mình và nuốt trọn lấy toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, để từ đó xây dựng nên một nhà nước toàn trị Xô Viết, quan liêu, kém dân chủ, việc này sẽ ảnh hưởng tới Việt Nam và phong trào cải cách ruộng đất của nó vào năm 1954, một phong trào bị Trần Đức Thảo chỉ trích nặng nề vì nhắm vào giai cấp tư sản và tiểu tư sản đã từng ủng hộ Việt Minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp, cũng như quyên góp và giúp đỡ dân nghèo. Cuốn giáo trình Mác Lenin được giảng dạy trong các trường đại học, phần lớn là mang âm hưởng của Stalin và chủ nghĩa toàn trị Xô Viết, mà theo Trần Đức Thảo, nó đã bóp méo chủ nghĩa Marx nhân văn vốn được Marx dày công xây dựng trong nó, trong bài nghiên cứu về con người và nguồn gốc ý thức của nó trong Tuyển Tập, Tập 3 của ông.
Trần Đức Thảo
Trần Đức Thảo
Nhìn vào lý thuyết Marxism hiện hành ở Việt Nam, và triết học giáo dục của Freire, tôi thấy triết học và việc dịch sách của Freire như một điểm sáng nhất định trong hệ tư tưởng Marx của Việt Nam cũng như giữa những người đọc Marx khác ở Việt Nam và chịu ảnh hưởng bởi ông, vì trong triết học của Freire có sự phê phán, có phản biện và suy tư, nó chỉ trích sự biến con người thành một vật vô cơ, và biến con người từ cái tồn tại thành cái không tồn tại, như ông đã nói tới trong cuốn sách Lý Thuyết Sư Phạm Phê Phán của mình, nó cho người học có cái nhìn rộng mở về thế giới xung quanh, về cái thực tại mà họ cần phải thay đổi, thay vì bắt họ ngồi yên lắng nghe và tiếp thu như một cái thùng rỗng vô hồn. Nhận thức được điều này, như một công cụ chống lại những kẻ áp bức, bóc lột, thậm chí, đó có thể là chính quyền xây dựng nên cái sự áp bức bóc lột đó. Rộng hơn, là chống lại chủ nghĩa toàn trị đang dần xuất hiện, không chỉ ở phương Đông mà cả Phương Tây. Và điều này nên được xây dựng, ngay từ chính trong nền giáo dục non trẻ của chúng ta. Sự phê phán đối với lý thuyết Marxist hiện hành là điều cần thiết, nếu như ta muốn đất nước trở nên tốt đẹp hơn.
Kết luận:
Bất cứ ai làm trong mảng giáo dục hay nghiên cứu về giáo dục, đều nên đọc cuốn sách này, thậm chí đó có thể là ngay cả các bạn sinh viên, hay những người ngoài ngành có quan tâm tới giáo dục. Việc biết được và đọc Freire sẽ là nhận thức lớn trong việc cải tổ lại Marxism ở Việt Nam, vốn được trình bày trong chủ nghĩa Mác Lenin đang được dạy trong các trường đại học. Đây cũng có thể là sự tham khảo tốt cho các thầy, các cô, những người đam mê triết học, những người làm việc trong bộ máy chính quyền, những người nghiên cứu về giáo dục, sinh viên và những ai quan tâm, đều nên thử đọc Freire một lần trong đời. Lý thuyết sư phạm của ông tuy không phải giải pháp cho toàn bộ vấn đề mà người ta quan tâm, nhưng nó là động lực thúc đẩy và dẫn lối con người ta giải quyết những vấn đề đó.