John Rawls là một nhà triết học chính trị nổi tiếng ở Mỹ và tư tưởng của ông ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống chính trị Âu - Mỹ những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ II. Rawls đã có những quan điểm đặc sắc về con người, nêu bật khả năng tự ý thức của con người về tự do và công bằng trong xã hội dân chủ.
Bức màn vô thức (veil of ignorance) cùng với Vị trí đầu tiên (original position), là một lý thuyết được phát triển bởi John Rawls trong cuốn A Theory of Justice.
Bức màn vô thức là một phần của một phương pháp tư duy lâu đời có liên quan đến khế ước xã hội. Các tác phẩm của Immanuel Kant, Thomas Hobbes, John Locke, Jean Jacques Rousseau, và Thomas Jefferson đã từng đưa ra những ví dụ về khái niệm này. Người đầu tiên đặt tên cho nó là John Rawls.
"Vị trí đầu tiên được thiết kế như một điểm nhìn công bằng và vô tư, thứ mà chúng ta phải tiếp nhận khi suy luận về các nguyên tắc nền tảng của công lý. Khi tiếp nhận điểm nhìn này, ta phải tưởng tượng bản thân ở vị thế của những cá nhân tự do và bình đẳng, cùng nhau đồng thuận và cam kết với các nguyên tắc công bằng xã hội và chính trị. Đặc điểm nổi bật nhất của vị thế nguyên thủy là “bức màn vô tri”: để đảm bảo tính vô tư trong phán đoán, các chủ thể bị tước bỏ toàn bộ tri thức về đặc tính cá nhân cũng như hoàn cảnh xã hội và lịch sử của bản thân. Tuy nhiên, họ vẫn biết về một số lợi ích căn bản mà mọi người đều có, cùng với các sự kiện khái quát về tâm lý học, kinh tế học, sinh học và các khoa học xã hội lẫn tự nhiên khác. Các chủ thể trong vị thế nguyên thủy được trao cho một danh sách các quan niệm chủ yếu về công lý rút ra từ truyền thống triết học chính trị và xã hội, và được giao nhiệm vụ lựa chọn quan niệm về công lý nào thúc đẩy tốt nhất lợi ích của họ trong việc kiến tạo các điều kiện cho phép họ theo đuổi mục đích tối hậu và các lợi ích nền tảng của mình một cách hiệu quả. Rawls cho rằng lựa chọn hợp lý nhất đối với các chủ thể trong vị thế nguyên thủy là hai nguyên tắc công lý: nguyên tắc thứ nhất bảo đảm các quyền và tự do cơ bản bình đẳng cần thiết để bảo vệ các lợi ích nền tảng của những công dân tự do và bình đẳng, cũng như cho phép họ theo đuổi nhiều quan niệm khác nhau về cái thiện. Nguyên tắc thứ hai bảo đảm sự bình đẳng công bằng trong cơ hội giáo dục và việc làm, cho phép mọi người cạnh tranh một cách công bằng để đạt được quyền lực và địa vị; đồng thời bảo đảm cho tất cả mọi người một mức tối thiểu các phương tiện phổ quát (bao gồm thu nhập và của cải) cần thiết để theo đuổi lợi ích của mình và duy trì lòng tự trọng với tư cách những con người tự do và bình đẳng.”
Sức hấp dẫn của thí nghiệm tư tưởng này có lẽ chỉ nằm ở bề mặt và mang tính truyền cảm hứng:

1. Không tồn tại con người nào bị tước bỏ khỏi đặc tính cá nhân và hoàn cảnh lịch sử xã hội của mình

Điều này đúng cho cả chính các chủ thể lẫn những người chịu ảnh hưởng từ phán đoán của họ. Những trải nghiệm mà bạn từng sống qua sẽ luôn bóp méo hoặc ít nhất tác động đến quan niệm của bạn về điều gì là công bằng.

2. Rawls phớt lờ các động lực quyền lực chính trị - xã hội vốn có tính cứng nhắc

Một phần trong sự biện hộ ngầm của Rawls đối với điểm trên là: nếu cơ hội trở nên bình đẳng hơn, thì các vị trí quyền lực sẽ phản ánh sự đa dạng lớn hơn. Rất hiếm khi một người xuất thân từ hoàn cảnh “khó khăn” thực sự bước vào được tầng lớp quyền lực. Trái lại, những người chấp nhận khuôn mẫu hiện trạng (status quo paradigm) mới thường là những người tiến thân vào các vị trí ấy, như thể đó là điều kiện tiên quyết. Ngay cả khi ai đó có xuất thân đặc biệt, nhiều năm bị nhào nặn bởi môi trường xã hội vẫn thường “uốn thẳng” họ để họ cuối cùng hòa nhập với đồng đẳng của mình trong giới quyền lực. Ví dụ: Kamala Harris. Một ứng cử viên tổng thống da đen, bà nổi tiếng với lập trường “cứng rắn với tội phạm”, thứ đã gây tổn hại đáng kể cho chính cộng đồng người da đen mà bà đại diện. Bà là hình mẫu đối nghịch với điều người ta kỳ vọng ở một ứng cử viên da đen, và điều đó rất có thể chính là yếu tố góp phần giúp bà đạt được vị trí hiện tại. Dĩ nhiên đây chỉ là 1 ví dụ cá biệt, nhưng hiện tượng này lại rất phổ biến. Chẳng hạn, phụ nữ ở vị trí quyền lực thường có xu hướng thể hiện thái độ “cứng rắn”, thậm chí hơn cả các đồng sự nam giới. Có lẽ đó là kết quả của quá trình điều kiện hóa từ môi trường xã hội trước đó, không hẳn là điều kiện tiên quyết, mà là một sự phát triển tự nhiên.

3. Hầu như không tồn tại “general facts” trong khoa học xã hội

Từ lâu đã như vậy, và ngay cả trong thời đại của Rawls, kinh tế học đã liên tục thay đổi paradigm shift, nơi mà những “basic facts” hay chính xác hơn là những sự kiện được xem là quan trọng, luôn thay đổi.
Thế nhưng Rawls gần như bỏ qua toàn bộ điều này, như thể nó chưa từng quan trọng ngay từ đầu. Ngay lúc này đây, tồn tại ít nhất 3 trường phái lớn trong kinh tế học, mỗi trường phái lại có những quan niệm cực kỳ khác biệt về điều gì mới là basic facts (hoặc facts that mattered). Bất kỳ câu hỏi nào về tính đúng đắn của một lý thuyết đều sẽ vấp phải vấn đề rằng: không lý thuyết nào có thể được xác lập như chân lý một cách hoàn toàn minh bạch, bất kể mức độ thực nghiệm cao đến đâu.
Điều đó không có nghĩa rằng chúng ta không thể đưa ra quan điểm hay niềm tin về tính hợp lệ của các lý luận khoa học ấy. Nhưng ngay khi bắt đầu đưa các niềm tin đó vào, ta đã rời khỏi phạm vi của thí nghiệm tư tưởng mà Rawls đề xuất.
Hãy chia kinh tế học thành ba nhóm lớn và xem chúng dẫn đến những kết luận nào từ các basic facts của chúng. Mỗi kết luận đại diện cho một trường phái khác nhau:

A/ Một nền kinh tế lành mạnh không cần sự can thiệp nào của nhà nước ngoài mức thuế tối thiểu phục vụ thực thi pháp luật.

Mọi can thiệp vượt quá điều đó đều nên tránh gần như hoàn toàn, ngoại trừ vài ngoại lệ như thuế tài sản. Những gì còn lại nên thuộc về các cá nhân/ tư nhân, vì họ hiểu rõ lợi ích của mình hơn bất kỳ tác nhân bên ngoài nào.

B/ Một nền kinh tế lành mạnh cần sự can thiệp hạn chế từ nhà nước.

Các tác nhân trong thị trường đôi khi có thể cấu kết, giành lợi thế bất công hoặc hành động trái với lợi ích của chính họ vì những nguyên nhân ngẫu nhiên. Do đó, cần tồn tại các cơ chế điều tiết và cải cách thể chế để bảo vệ công dân cũng như sửa chữa nền kinh tế khi thị trường thất bại. Ngoài ra, tốt hơn hết nên để nền kinh tế tự vận hành nhằm đạt tới trạng thái cân bằng.

C/ Một nền kinh tế lành mạnh cần được giám sát và điều chỉnh liên tục.

Các tác nhân không chỉ có thể hành động tiêu cực mà nền kinh tế còn hiếm khi đạt và duy trì trạng thái cân bằng. Vì vậy, cần xây dựng các cơ chế ổn định tự động trong khuôn khổ pháp lý, đồng thời nhà nước phải đóng vai trò chủ động trong việc kiểm soát và phân phối áp lực lạm phát lẫn nhu cầu tiêu dùng.
3 trường phái này vừa khác biệt vừa mâu thuẫn với nhau. Nếu ta chấp nhận facts của một trường phái nào đó, thì ta đã đưa ra một lựa chọn nằm ngoài phạm vi trung lập mà thí nghiệm tư tưởng yêu cầu.

4. Tính duy lý tự thân không phải nền tảng thích hợp cho công lý

- Điều này không hoàn toàn liên quan riêng đến Rawls mà đúng hơn là 1 số người theo chủ nghĩa tự do bảo vệ “vị thế nguyên thuỷ” (original position). Người ta thường lập luận rằng Rawls cho phép ta có một nền tảng duy lý để bác bỏ chế độ nô lệ, và từ đó ngầm khẳng định tư tưởng của ông có giá trị lớn.
Nhưng có vài vấn đề ở đây.
Trước kia, một giáo sư kinh tế tên Steven E. Landsburg từng “duy lý” suy nghĩ về một vấn đề công lý. Tại Steubenville có một vụ án hiếp dâm, nơi nạn nhân chỉ phát hiện vài ngày sau rằng: mình đã bị cưỡng hiếp khi bất tỉnh. Từ câu chuyện ấy, vị giáo sư đã tiến hành một thí nghiệm tư tưởng logic:
“Giả sử rằng bạn, hoặc tôi, hoặc người mà chúng ta yêu thương, hay thậm chí một người mà ta quan tâm từ xa, bị cưỡng hiếp trong lúc bất tỉnh theo cách không gây tổn hại thể chất trực tiếp nào: không thương tích, không mang thai, không lây bệnh. Dù không có thiệt hại thể chất, chúng ta vẫn cảm thấy kinh hoàng, ghê tởm và bị tổn thương sâu sắc trước ý nghĩ bị đối xử như vậy. Liệu pháp luật có nên ngăn cản những hành vi hiếp dâm như thế? Chúng có nên bị xem là bất hợp pháp không?”
Biết đâu ta chẳng cần đến “tính duy lý” làm nền tảng cho những xác tín đạo đức kiểu như “chế độ nô lệ là xấu”? Bởi nếu phải/chỉ cần tới logic để phân tích đúng sai, thì bạn cũng đồng thời mở đường cho mọi kết cục có thể tưởng tượng được, kể cả tận thế hay bất kỳ hành vi tàn bạo nào, miễn là ai đó dựng lên được một lập luận đủ logic.
Vậy hãy thử nối vd này với vấn đề trước đó về việc chấp nhận “general facts” từ khoa học xã hội.

Cùng thử giả định 1 số câu hỏi được đặt ra cho Original Position

"Người tham gia ban đầu ở vị trí công bằng"
- Thế nào là công bằng?
- Công bằng của bạn và của tất cả những người còn lại trên thế giới có giống nhau k?
- Công bằng nào công bằng hơn?
"Họ cùng lập khế ước với nhau tạo ra 1 xã hội công bằng"
- Họ là ai? Ai có quyền thiết lập general facts về công bằng ban đầu?
- Làm sao bạn biết được công bằng của người khác ntn nếu bạn không sống cuộc sống của họ?
- Nếu bỏ luôn trải nghiệm sống nền thì làm sao bạn biết thế nào là công bằng, bất công? Con người sau bức màn vô tri còn là con người nữa k?
- Equality hay equity?
Có thể thay "lợi ích" và "nhu cầu" vào chữ "công bằng" trong những câu hỏi trên.
Có thể cho rằng Bức màn vô thức khả thi cho việc đảm bảo đáp ứng công bằng tầng thấp nhất nhu cầu sinh lý căn bản của con người (Thức ăn, nước uống; không khí để thở; nơi trú ngụ, quần áo; nghỉ ngơi và duy trì nòi giống) nhưng vẫn chỉ dừng ở mức tối thiểu.
Xã hội con người k còn là xã hội nguyên thuỷ nữa. Chúng ta đã phức tạp tới nỗi ngay cả nhu cầu sinh lý căn bản của mỗi con người đều đang và sẽ khác biệt ngày càng sâu sắc.