7/2021: Đọc 10 cuốn sách về dinh dưỡng, sức khỏe- Tổng số sách đã đọc được 300 quyển
1/ Ban Chinh La Bac Sy Tot Nhat Cua Minh - De Agostini
2/ Ban Chinh La Bac Sy Tot Nhat Cua Minh 8
3/ Sách nấu ăn dưỡng sinh Osawa - Thu Ba
4/ Đường Là Hiểm Hoạ Của Toàn Nhân Loại Tác Giả : William Dufty
5/ Loi Don Thoi Hay Bo Ngoai Tai - Van Vo Tam
6/ Ung Thu_ Tin Don Va Su That - Ruy Bang Tim
7/ Ung Thu - Su That, Hu Cau, Gian Lan Va Nhung Phuong Phap Chua Lanh Khong Doc Hai - Ty Bollinger
8/ Minh Triet Trong An Uong Cua Phuong Dong - Ngo Duc Vuong
9/ Tuoi Moi Lon Va Van De Tinh Duc - Nhieu Tac Gia
10/ Sổ tay dưỡng sinh OSAWA
Hai chức năng của tim
a. Tâm thu, tim bơm máu vào động mạch phổi để được oxyhóa
b. Tâm trương, tim hút máu từ các tĩnh mạch về
Muốn có sức khỏe dẻo bền thì nên dùng các thức ăn không nhiễm hóa chất, rau cỏ ngũ cốc không bón phân hóa học, tránh uống các thức pha chế trong kĩ nghệ, tránh ăn những sản phẩm từ xa đến. Ví dụ mình nên tránh đừng dùng những thức ăn miền nhiệt đới trong lúc mình ở miền ôn đới như Âu Châu hoặc Mỹ Châu và ngược lại. Theo triết lý Á Ðông thì vạn vật được điều hành do hai nguyên tính Âm và Dương, nhưng hai nguyên tính ấy tuy ngược nhau mà lại bổ sung cho nhau rất mật thiết, như ngày và đêm, giống cái giống đực, lạnh và nóng, sáng và tối, lỏng và đặc, nặng và nhẹ, v...v... Âm được tượng trưng bằng dấu hiệu, tánh chất nó li tâm, bành trướng, giãn ra, phân tán, nẩy nở... Nói tới Âm là ta cảm thấy lạnh lẽo, tối tăm (như ta hay gọi là Cõi Âm), về hình thức thì nó vươn thẳng lên, cao vọi như hình chữ nhất dựng đứng, về vị thì ngọt ngào, về chất thì cái gì có nước (như các thứ dưa, cà chua), mềm dẻo, v...v... Ngược lại Dương tượng trưng bằng dấu hiệu, có tính chất hướng tâm, chậm chạp, thu hẹp, kết tụ, thấp lùn như hình chữ nhật nằm ngang, nóng ấm, nhỏ bé, mặn đắng, khô khan, cứng ròn, màu vàng, đỏ tươi, v...v... Trên mặt đất là li tâm, dưới mặt đất là hướng tâm. Cỏ cây nào mọc thẳng trên mặt đất (hầu hết) là có Âm tính, trái lại nếu mọc thẳng xuống dưới mặt đất là có Dương tính (như cà rốt, bồ công anh, củ sen...). Trên mặt đất mà bành ra có chiều trở xuống là Dương (bí đỏ), dưới mặt đất mà bành ra là Âm (đậu phộng, các thứ khoai như khoai tây, khoai lang, khoai mì, khoai sọ...). Cà chua (tomate) tuy là đỏ (màu Dương), nhưng có nhiều nước nên nó là Âm. Mía tuy mọc thẳng lên trên mặt đất nhưng chứa nhiều nước ngọt nên nó là Âm.
Có thể ăn theo trong bữa cơm một quả mận muối (umebosi), rong biển, và nhất là, như đã nói trên kia, nhai thức ăn thật kĩ, một búng cơm từ 50 lần tối thiểu đến 100 hoặc 200 lần càng tốt. Nhai như thế, ngoài sự lợi ích là giúp cho dạ dày đỡ làm việc nhiều, ta học được sự bền chí, dịu hiền. Trước khi ăn ta nên tri ân Trời Ðất đã sinh ra các thức ăn và cảm ơn bàn tay những người nông dân đã ra sức cày cấy trồng trọt để cung cấp thức ăn cho ta.
Cơn đau là điều cảnh báo sau cùng. Bạn biết bạn hơn ai hết rằng chính bạn hành hạ thân thể bạn, vậy ngưng ngay đi: Đường là thuốc độc, sách nói, nó nguy hại hơn á phiện, hơn phóng xạ nguyên tử.
Vào thời đó người ta chết tự nhiên như ngủ luôn không bao giờ thức dậy. Sau rốt đường tinh chế lúc ấy không can dự gì đến thức ăn, người ta chỉ dùng đường thiên nhiên. Củ sâm được dùng với đường thiên nhiên (Tổ tiên người Mỹ đã biết phẩm chất huyền diệu của củ sâm, nhờ người da đỏ chỉ bảo. Họ pha trộn óc của loài sóc với sâm để trị vết thương súng đạn… ). Bộ Luật của Thánh Mose, Giáo Luật Manu, Kinh Dịch, Hoàng Đế Nội Kinh, Tân Ước, Kinh Koran,… không nói đến đường. Lời sấm truyền cho ta biết chút ít về giống mía thời ấy: “Nó thật hiếm có, và xa xỉ” . Có thể nước Ấn Độ trồng được cây này. Các huyền15 thoại của những giống dân sống ở Thái Bình Dương, từ Hạ Uy Di xuống tới Tân Tây Lan, có đề cập nhiều đến mía. Có đủ bằng chứng cho thấy Trung Quốc đã ép buộc Ấn Độ đem mía triều cống cho họ. Các xứ ngoài vòng đai nhiệt đới không thành công bao nhiêu về việc trồng mía. Một đoạn trong kinh Atharva Veda là một khải hoàn ca đề cao chất ngọt: “Ta ban thưởng nhà ngươi cây mía để ngươi trìu mến ta”. Ấn Độ xưa kia kính trọng bò như vật linh thiêng nên bò được ăn mía như người. Đường được dùng chung với bánh mì chapatti hay nêm canh. Về sau dân quê uống nước mía ép như người Da Đỏ ở Bắc Mỹ châu khoái uống sirô lấy từ cây phong (maple). Thuở ấy, tiếng Hy Lạp chưa có chữ đường . Các thủy thủ dưới thời Alexander Đại Đế (năm 325 trước Thiên Chúa), khi xuôi dòng sông Indus, xem mía như cây chứa mật ong; có khi họ gọi đường cục là „muối Ấn Độ‟ vì nó cũng giòn. Người La Mã gọi nó bằng chữ Latinh: „Saccharum Dioscoride‟, và diễn tả Đường như mật ong ở thể cứng. Phân khoa y dược ở Đại học Djondisapour (Đế Quốc Ba Tư rất hãnh diện về phân khoa này) là nơi đã tìm ra cách thanh lọc và làm đặc nước mía. Không khí và thời gian không làm dậy men sản phẩm này, nhờ vậy việc chuyên chở và mậu dịch được dễ dàng (khoảng chừng năm 600 trước Thiên Chúa). Trung Hoa dưới đời vua Tần đã cho nhập cảng những „hòn mật ong‟ (stone honey) từ Bokhara (thuộc Liên Sô cũ) là nơi mật mía được hớt bọt cẩn thận, rồi trộn với sữa để làm thành món ngon, và sang trọng cho vua chúa. Thuở ấy đường được dùng làm món thuốc kỳ diệu, quí giá, hiếm hoi, hết sức cần thiết trong lúc có tai ương hay bệnh dịch. Trong khi tiếng Latinh thời Trung cổ dùng từ ngữ Đường (mà các xứ phương Tây dùng sau này) để diễn tả một miếng gì quí giá, một món gì có dược tính thần hiệu, thì tiếng Phạn dùng từ ngữ Khanda để diễn đạt ý tưởng muối Ấn Độ (Indian Salt). Anh ngữ biến Khanda thành Candy. Hết vinh rồi đến nhục, đế quốc Ba Tư, cũng như bao đế quốc khác, phải chịu qui luật nghìn đời này. Khi quân Hồi chiếm vương quốc ấy thì chiến lợi phẩm quí giá nhất là khám phá được bí quyết chế biến mía thành dược phẩm. Về sau, người Árập khai triển công nghiệp chế biến Đường này.
Mohamed mất vì cảm sốt. Người kế vị nuôi mộng bá chủ hoàn cầu với đoàn quân chỉ có vài ngàn người. Ông là người cầm quân xuất sắc nhất Đông Tây. Trong vòng 125 năm, vương quốc Hồi mở rộng ra từ Sông Indus đến Đại Tây Dương, kể cả xứ Tây Ban Nha, từ Kashmir (Ấn Độ) đến phần đất phía trên của Ai Cập. Vị quân vương đắc thắng cưỡi ngựa vào thành Jerusalem với một túi lúa mạch, một túi chà là và một túi nước lã bằng da thú. Sử chép rằng vua Omay Yad Caliph Walid II đã chế nhạo kinh Koran, mặc quần áo kỳ dị, ăn thịt heo, uống rượu vang, bỏ bê hành trì kinh kệ và cho phổ biến các thức uống có pha đường. Quân Árập chiếm đóng mang theo gạo của xứ Ba Tư và những khúc mía lấy của Ấn Độ. Họ chủ trương trồng mía thực tế hơn nhập cảng đường từ nơi xa xăm. Dân của vương quốc Hồi Giáo chẳng bao lâu mắc nhiều bệnh mới lạ, khó trị nên buộc lòng họ phải tách rời khoa học ra khỏi tôn giáo. Từ đó y khoa và phẫu thuật tạo được nhiều kỳ công. Họ bắt đầu sử dụng thuốc gây mê, khởi xướng khoa học hóa chất, nhận thức được trị số của số không (0), tái khám phá ra Đại số học, xúc tiến khoa Thiên văn, phát minh ra cồn, khai triển ngành kim khí và dệt, đẩy mạnh kỹ nghệ thủy tinh, sành sứ và da thuộc và cho sản xuất theo phương thức của Trung Hoa. Chính Trung Quốc góp sức xây dựng nền văn minh Tây phương với giấy và đường. Và chính Đường đã gây sự suy tàn của Đế quốc Ả rập. Kinh Koran của Thánh Elijah Mohamed, nhà tiên tri, không nói đến đường. Tuy nhiên những quân vương kế thừa, hiếu chiến nhất lịch sử, ra lệnh làm những thỏi đuờng và nhiều thứ nước uống ngọt ngào để dâng lên triều đình và cung cấp cho binh đội. Một nhà bình luận Âu Châu tin rằng đạo quân Árập đã mất nhuệ khí vì ăn quá nhiều đường. Leonhard Rauwolf, nhà thực vật học người Đức, năm 1573 có viết trong nhật ký: “Quân Thổ Nhĩ Kỳ và quân Moor ăn hết miếng đường này đến miếng đường khác ở khắp các nẻo đường, không tỏ vẻ gì hổ thẹn. Cứ theo lề thói này thì họ sẽ mê ăn và chả còn gì là dũng sĩ thời trước nữa”. Ông nhận xét hậu quả của tật nghiện đường của Quân đội đế quốc Thổ giống như các quan sát viên cận đại tiên đoán sự bại trận của lính Mỹ nghiện heroin và marijuana ở Á châu vậy. Đây là lời cảnh cáo đầu tiên của cộng đồng khoa học về việc lạm dụng đường. Vào thời kỳ hưng thịnh của đế quốc Hồi, đường là đề tài hệ trọng nơi chính trường; người ta bán rẻ linh hồn cho nó. Đường đã đánh gục quân Ả rập, giờ đây quân Thập Tự chinh cũng bị thảm bại vì mê mệt “thứ nước sốt ngọt lịm”. Các Hoàng Đế Âu Châu nhận thấy các Đại sứ của họ ở triều đình Ai Cập đã hảo ngọt và bị mua chuộc bằng đường, nên bãi chức và triệu hồi về nước.Cuộc viễn chinh trọng đại của quân Thập Tự kết thúc vào 1204. Vài năm sau, tại thánh đường Lateran ở La Mã, Hội thánh lại dự trù tổ chức Thập Tự chinh để trừng phạt bọn ngoại đạo và bọn Do Thái. Năm 130617 Đức Giáo Hoàng Clement V, đang bị đày ở Avignon, nhận được thỉnh nguyện thư yêu cầu ngài phục hồi uy danh cho Thập Tự Quân, như thời hoàng kim của đoàn quân này trước kia. Thỉnh nguyện thư được sao nhiều bản và gửi trình các vua xứ Pháp, Anh và Sicile, nhằm khơi động „Chiến lược đường‟ để thanh trừng bọn Árập xảo trá. “Mía được trồng khắp nơi trên đất Hồi giáo, cho nên triều đình rất giàu có. Nếu chiếm mấy vùng ấy, ta cũng gây tổn thất nặng nề cho triều đình của họ và đồng thời thánh địa chúng ta đang ở sẽ được đảo Cyprus (Địa trung Hải, phía Nam Thổ Nhĩ Kỳ) tiếp tế đầy đủ. Mía đã trồng ở Morea, Malta và Sicile, nay mía phải được trồng ở các vùng Cơ Đốc giáo khác. Không có chi là e ngại vì chúng ta là người Cơ Đốc giáo. ”- Nghe cái lối thuyết phục quỷ quái này, chắc có lẽ người Cơ Đốc giáo nào cũng muốn vội vã chạy đến trái cấm để cắn một miếng thật to! Và hậu quả tất yếu là suốt 7 thế kỷ, 7 tội trọng đã quấy nhiễu 7 biển, dựng nên chế độ nô lệ, gây bao cảnh diệt chủng và bao tội ác có tổ chức khắp nơi.
Noel Deerr, sử gia người Anh, nói toạc ra: “Mua bán nô lệ là cách làm giàu trên xác chết. Trong 20 ngàn phu da đen, hết 2/3 bị buộc tội chống đối kế hoạch sản xuất đường”. Trên mặt trận cạnh tranh đường, Bồ Đào Nha đứng ngay tuyến đầu. Khi quân Thổ Nhĩ Kỳ chiếm bán đảo Iberia (thuộc Tây Ban Nha), họ đem mía vào trồng. Đồn điền mía lớn nhất nằm ở tỉnh Granada và Valencia. Nhà hàng hải Bồ Đào Nha, Ông Henry, đi thám hiểm bờ phía Tây của Phi Châu để tìm đất trồng mía. Ông không thấy nơi nào vừa ý, mà chỉ thấy những thân người đen bóng, đủ sức làm việc dưới nắng gay gắt miền nhiệt đới. Năm 1444, Henry đem 235 người da đen từ Legos (thủ đô của Nigeria – Phi Châu) đến Seville (thành phố miền Nam Tây Ban Nha) để bán nô lệ. Từ đó trang lịch sử mua bán nô lệ bắt đầu mở ra. Mười năm sau, Giáo Hoàng bị xúi dục nhúng tay vào việc buôn nô lệ. Bọn Hồi giáo, bọn tà giáo, bọn Do Thái, và bọn phản nghịch Chúa Kitô đều bị bắt nhốt để biến thành nô lệ, vì lý do thật đơn sơ: „để cứu rỗi linh hồn họ. ‟Mồ hôi của đám phu da đen đã nới rộng diện tích các đồng mía ở Madeira (đảo ở biển gần Maroc, Phi châu) và các đảo Canary (gần Madeira) để tô điểm cho đế quốc Bồ Đào Nha „theo ý trời‟. Một thi sĩ da đen trích trong tập thơ CANE (cây mía hay cây gậy đánh người) của Ông, mấy câu sau đây để viết lên tường:
Ôi! nhóm người da trắng tội lỗi Bóp méo Thánh Kinh, lừa dối dân lành.
Năm 1546, Bồ Đào Nha nắm quyền kiểm soát mua bán đường ở châu Âu. Tây Ban Nha là nước láng giềng cũng bám sát đàn anh. Khi quân Moor rút lui khỏi xứ này, họ để lại cả rừng mía ở Granada và Andalusia (2 tỉnh miền Nam Tây Ban Nha). Năm 1493, khi trở lại Tân thế giới, Christopher Columbus đem theo vài khúc mía theo chỉ thị của Nữ Hoàng Isabella. Trong quyển sách viết về chuyến đi này, Peter Martyr xác nhận là đoàn thám hiểm tìm thấy mía mọc trên các đảo Hispaniola (biển Caribê). Columbus đề nghị đem thổ dân ở các đảo này về làm việc tại các đồn điền mía. Nữ Hoàng không đồng ý nên hai chiếc tàu đã chở đầy dân nô lệ phải quay về biển Caribê. Nữ Hoàng băng hà. Vua Ferdinand cho tuyển mộ một thành phần nô lệ Phi Châu để phát triển kỹ nghệ đường Tây Ban Nha, năm 1510. - Vào thời điểm này, Bồ Đào Nha trồng mía ở Brazil bằng công sức của nô lệ. Họ dùng mưu lược rất thâm. Trong lúc dân Do thái, các Thầy Chữa Miệt Vườn, và nhiều người tà đạo bị thiêu sống, thì Bồ Đào Nha mở toan các cửa ngục, đưa hết tội phạm sang Tân Thế Giới. Tù nhân khổ sai được khuyến khích giao hợp với các phụ nữ nô lệ để gây ra giống tạp chủng đủ sức sống trong môi trường oi bức của các đồng mía. Các con buôn giang hồ Hòa Lan nhập cuộc vào năm 1550. Họ hạ giá chuyên chở bằng tàu thủy, và bán chịu nô lệ, tiền mua sau này trả cũng được. Chẳng mấy chốc họ thiết lập được nhà máy đường ở Antwerp. Họ mua mía khắp nơi và bán đường cho các xứ vùng biển Baltic, Đức và Anh
Năm 1560 vua Charles V của Tây Ban Nha cho xây nhiều đền đài lộng lẫy ở thủ đô Madrid và ở Toledo nhờ thuế đường. Không có sản phẩm kỹ nghệ nào ảnh hưởng đậm đà vào chính trường Tây phương cho bằng Đường. Uy quyền và giàu sang của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha lên tột đỉnh. Cũng như các vương quốc Árập trước kia, họ phải theo luật tuần hoàn vũ trụ để chịu suy vong. Thích trèo cao thì phải chịu ngã nặng, lên nhanh thì xuống cũng nhanh. Và chỉ nhìn thấy vua chúa háu ngọt, ta cũng có thể đoán biết được ngày tàn của họ sắp đến. Đế Quốc Anh đứng im chờ cơ hội. Lúc đầu Nữ Hoàng Elizabeth I do dự việc chấp thuận cho thi hành chế độ nô lệ ở các thuộc địa vì „sợ oán hận thiêng liêng đối với Vương quốc của Bà‟. Đến 1588, Bà phê chuẩn phần phụ chương hiến pháp nhằm công nhận cho Công Ty Hoàng Gia được độc quyền mua bán nô lệ ở miền Tây Phi Châu. Quân Tây Ban Nha đã tiêu diệt thổ dân ở các đảo West Indies (Vịnh Caribê) để đem dân Phi Châu vào trồng mía. Bất cứ ai muốn vay 500$19 tiền vàng để xây nhà máy làm mật mía đều được chánh phủ chấp thuận. Lúc ấy hạm đội Anh đến đánh đuổi quân Tây Ban Nha và đặt ách đô hộ lên bản xứ qua hình thức ký hiệp ước. Dân nô lệ rút lên núi để đánh du kích. Người Anh cho làm rượu Rum bằng nước mía dậy men. Họ đem rượu rum lên Bắc Mỹ Châu để đổi lấy da thú của người Da Đỏ chất phác, rồi đem da thú ấy sang Âu Châu, bán giá gắp trăm lần giá mua.
Công ty của Nữ Hoàng thường cho các tay mạo hiểm tìm dân nô lệ dọc theo bờ biển phía tây Phi Châu để bán cho mấy ông chủ đồn điền mía ở vùng biển Caribê để mua thêm đường, mật mía và rượu rum với giá rẻ. Rum cho dân Da Đỏ ở Hoa Kỳ, đường và da thú cho Âu Châu, mật mía cho các thuộc địa. Kế hoạch thương mại tam giác này cứ tiếp diễn cho đến lúc các đảo Barbados (Caribê) và các thuộc địa khác trở nên cằn cỗi, không còn loại hoa mầu nào ngốc đầu lên nổi. Đường là nguồn lợi rất khổng lồ nên khoảng 1660, Anh Quốc chuẩn bị chiến tranh để chiếm ưu thế. Bộ luật hàng hải ban hành năm 1660 cấm chuyên chở đường, thuốc lá và các món hàng khác từ thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ Châu (tức Hoa Kỳ) đến bất cứ hải cảng nào không thuộc xứ Anh, đến Ái Nhĩ Lan, hay các thuộc địa khác của Anh. Lúc ấy thuộc địa Bắc Mỹ muốn tự do mậu dịch với các cường quốc Âu Châu; nhưng mẫu quốc (Anh) lại muốn bảo vệ quyền lợi riêng tư và giữ độc quyền chuyên chở đường thủy. Thuộc địa Bắc Mỹ không có võ lực nên Vương Quốc Anh làm chủ đại dương và kiểm soát doanh nghiệp đường. Chữ Đường được truyền miệng vào Anh ngữ thành chữ Sugar.
Có vài người viết sử Hoa kỳ lý luận rằng chính thuế đánh vào trà mới gây nên chiến tranh dành độc lập của Mỹ quốc, nhưng các sử gia khác lại bảo nguyên do là tại Đạo Luật Mật Mía. Năm 1733 cho phép đánh thuế nặng nề vào đường và mật mía của các nơi nào không là thuộc địa của Anh. Mấy ông chủ tàu buôn ở New England (Hoa Kỳ) cho chở rượu rum đến Phi châu để đổi lấy người da đen rồi đem họ về bán cho mấy ông chủ người Anh ở Caribê. Từ chỗ này mật mía được đem về Hoa kỳ làm rượu rum để đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng. Lúc ấy mỗi người dân Hoa Kỳ (kể cả đàn bà và trẻ nít) trung bình hằng năm dùng bốn galông rượu rum. Đạo Luật Mật Mía (1733) chẳng những làm suy thoái ngành thương mại Hoa kỳ mà còn làm khổ bao nhiêu người làm rượu rum. “Trước khi đến Âu châu thùng đường nào cũng đẫm máu và nước mắt của dân nô lệ. Nếu biết được điều này mấy ai không khổ tâm khi20 định vui hưởng các món ngọt ngào. “Triết gia người Pháp, Claude Adren Helvetus viết câu này vào giữa thế kỷ 18 khi Pháp nhập cuộc tranh giành đường. Đại Học Sorbone lên án ông. Nhiều tu sĩ đệ trình ý tưởng độc hiểm này của ông lên triều đình. Ông phải xin từ bỏ ý tưởng ấy để vớt vác lại địa vị. Tuy nhiên ý tưởng ấy đã làm Âu châu tỉnh ngộ. Ông dám nói cho thiên hạ nghe điều mà họ chỉ dám nghĩ thầm. Ba thế kỷ sau (1792) Âu Châu đã thúc tỉnh đến độ lập ra „Hội Chống Đường‟ (Anti Saccharite Society) đầu tiên. Phong trào tẩy chay đường lan rộng toàn Âu Châu. Các công ty Anh Quốc ở Đông Nam Á (Mã Lai, Singapore, Đông Dương, Miến Điện, Ấn Độ) làm ăn phát đạt nhờ Á phiện. Họ bèn loan truyền khẩu hiệu: “Đường ở vùng East Indies của chúng tôi không cần mồ hôi lao động của nô lệ” để đề cao lòng nhân từ của họ. Nhà sản xuất đồ sứ gốm, B. Henderson Rye Lane Peckham đã kính cẩn thông báo cho các thân hữu ở Phi châu rằng bà đang cho bán các sản phẩm dùng đựng đường có khắc khẩu hiệu vừa nêu trên. Họ còn hô hào: Gia đình nào mỗi tuần ăn năm cân Anh đường của East Indies (Caribê) suốt 21 tháng thì được xem như không ủng hộ hành vi bắt hay giết một nô lệ. Tám gia đình dùng một lượng đường như thế trong 19 năm rưỡi sẽ giúp cho 100 người nô lệ khỏi bị bắt hay bị giết.
Đế quốc Anh thuở ấy là trung tâm kỹ nghệ đường của thế giới ; ở các đế quốc khác đường là dược liệu quí báu. Món gì ta ưa thích đều trở thành món cần thiết. Thói mê ngọt trói ta vào nhu cần ăn ngọt. Đường và nô lệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Bênh vực nô lệ cũng là đề cao thói khoái đường của mình. Khi đám nô lệ nổi loạn ở các đảo vùng vịnh Caribê thuộc Anh thì dân da trắng bèn xin Hoàng Gia cứu giúp. Quốc Hội bàn tàn xôn xao: “Ta không thể để mấy thuộc địa làm cản trở nguồn lợi phong phú của đất nước ta như thế này”. Một chính khách có máu mặt cũng dõng dạc nói : “Việc mua bán dân da đen đem lại cho nước ta sự giàu có và một hải lực hùng hậu. ” Xưa kia khi đường bắt đầu nhập vào nước Anh thì giá đắt đỏ. Mỗi cân Anh giá 25 bảng Anh, bằng lương một năm của công nhân. Vào khoảng năm 1300, vài lần ăn đường cho thỏa thích thì tiền phải trả độ chừng 1/3 chi phí buổi lễ an táng trọng thể. Đến triều đại Elizabeth I thì giá còn phân nửa. Năm 1602, giá một cân đường bằng một chục đủ đầu trứng gà. Trong vòng một thế kỷ, từ 1700 đến 1800, lượng đường tiêu thụ ở Anh tăng 8 lần, (từ 20 triệu cân lên đến 160 triệu cân). Sau đó bánh mì và đường được tiêu thụ cùng cân lượng. Mỗi người ăn 72 cân một năm
Hoàng Đế Napoleon Bonaparte tô đậm nét lịch sử của đường. Tức giận vì con buôn ở Venise bóc lột, Ông bèn chú tâm vào việc khai triển kỹ nghệ đường. Từ năm 1700, đường là món hàng xuất cảng quan trọng nhất và đem lại phồn thịnh cho nước Pháp. Anh quốc bèn phong tỏa nguồn nguyên liệu nhập vào Pháp bằng Hải quân, nên kỹ nghệ đường phải ngưng trệ, giá đường lên tận trời xanh, chỉ vua chúa mới ngậm được kẹo. Đoàn quân Napoleon, như thời quân Hồi Giáo xưa kia, rất thèm ngọt, lúc họ tung hoành khắp Âu Châu. Napoleon kêu gọi các nhân tài hợp tác giải quyết vấn đề. Năm 1747 khoa học gia Đức Franz Carl Achard thí nghiệm cây phòng phong đem từ Italy về, nguồn gốc của nó có thể là ở Babylonia. Vua nước Phổ, Frederic William III bảo trợ công tác của Achard. Tuy các khoa học gia Pháp, dưới áp lực của cuộc phong tỏa của Hải quân Anh, và để đặc biệt tuân hành chỉ thị đặc biệt của Hoàng Đế, đã dày công nghiên cứu. Benjamin Delassert đã thành công biến củ cải ngọt Babylonia thành các thỏi đường tại Plassay, năm 1812. Napoleon tặng huy chương danh dự cho Ông, rồi ra lệnh trồng củ cải đường trên toàn nước Pháp. Hoàng Đế cũng cho xây dựng nhà máy đường, cấp học bổng cho chuyên khoa củ cải ở các Đại Học. Năm trăm lò đường được cấp giấy phép hoạt động. Ngay năm sau, Pháp đạt thành quả rực rỡ với 8 triệu cân đường làm với củ cải trồng trên đất nhà. Quân viễn chinh Pháp được tiếp tế đầy đủ đường để chuẩn bị tiến vào Moscow.
Nhưng, cũng như quân Moor trước kia, họ phải chịu thảm bại trên đường Bắc tiến. Đoàn quân thiện chiến Pháp không quen với khí hậu băng giá khắc nghiệt, lại bị đường phá sức, phải tháo lui khi đối đầu với quân kháng chiến chưa bị „oải gân‟ vì đường pha với nước trà. Ôi! ngọt mật chết ruồi. Napoleon đã phá vỡ kế hoạch phong tỏa nguyên liệu mía của Anh. Tín đồ Quakers ở Anh bèn nhảy qua việc trồng củ cải đường, cũng để tỏ thái độ chống chế độ nô lệ. Các cơ sở trồng mía ở mấy thuộc địa phản đối kịch liệt, củ cải phải vứt cho bò ăn. Đến thế chiến thứ nhất việc chuyên chở bằng tàu bị kẹt, nên củ cải mới ngóc đầu nổi. Pháp là nước đầu tiên bãi bỏ mậu dịch nô lệ qua sắc luật năm 1807, gần 1/4 thế kỷ sau Anh mới đặt ngoài vòng pháp luật chế độ nô dịch tại các thuộc địa chỉ trừ Bắc Mỹ châu. Các đồn điền mía ở Barbados và Jamaica (Caribê) bị phá sản. chính phủ Anh bồi thường cho mấy ông chủ từ 75 đến 399 bảng Anh mỗi đầu người da đen. Đến 1846 đám da đen thức tỉnh nổi loạn. Lao công ở các đảo vùng biển Đông Nam Á (East Indies) được chiêu mộ để thay thế. Nhưng khoa học kỹ thuật của Hoa Kỳ đang chờ thời. James Watt đã hoàn tất động cơ dùng hơi nước. Figuier thành tựu phương pháp làm than bằng xương thú vật, và Howard sang chế nồi phi áp suất (chân không). Tuy nhiên còn cần đường thì còn cần nô lệ. Củ cải đường phải trồng, thái mỏng và ngọn cây phải hớt bằng tay người, mía phải săn sóc và đốn bằng tay người, và chỉ có người da đen mới chịu nổi nắng miền xích đạo, quê hương của mía.
Khi Hiệp Chủng Quốc (Hoa Kỳ) bắt đầu làm ăn lớn lao với thuộc địa riêng của mình là Cuba thì cũng là lúc họ thoát khỏi ách cai trị của Anh. Cuba là nước nhược tiểu điển hình sống bám theo kinh tế của một cường quốc. Nhờ đất đai phì nhiêu, Cuba cung cấp khá nhiều nguyên liệu cho nền kỹ nghệ đồ sộ của Hoa Kỳ. Xưa kia đường màu nâu có vị tươi mát tự nhiên. Ngày nay những nhà máy lọc đường khổng lồ dùng xương thú vật để chế ra đường trắng như thủy tinh.Tiểu bang Louisiana có trồng mía, nhưng không phải đó là nguồn lợi quan trọng. Quan trọng cho ngân sách liên bang là thuế. Thuế đánh vào hàng tiêu dùng (đây là nguyên do cuộc dấy loạn vì rượu whiskey) và vào hàng nhập cảng mới được nhiều tiền; 90% đường tiêu dùng ở Hoa Kỳ đều nhập từ Cuba. Thuế đoan cho đường nhập là 2 xu một cân Anh; thuế này đóng góp vào 20% của ngân quỹ Liên Bang. Chẳng mấy chốc Hoa kỳ đã vượt anh Quốc rất xa về lượng đường, hơn cả lượng đường của toàn thế giới năm 1865. Vào khoảng 1920, năm mà chính phủ cấm sản xuất rượu vì hạnh phúc toàn dân, thì lượng đường tăng gấp đôi, và cứ tăng mãi và cơ thể người dân cứ chịu thêm khổ ách chưa từng có trong lịch sử loài người. Kỳ lạ thay á phiện và đường luôn kề vai nhau. Cả hai đều gây nghiên ngập cho con người, đều cho cảm giác mê ly và đều được dùng trị bệnh. Buôn lậu á phiện song song với mậu dịch đường hình như bắt đầu ở Ba Tư. Chính người Árập loan truyền các chất này đi khắp nơi theo vó ngựa viễn chinh của họ. Vài thế kỷ sau, từ món thuốc trị bệnh, các chất ấy trở thành mê ly. Người Trung Hoa bắt đầu hút á phiện vào thế kỷ 17. Tàu buôn Bồ Đào Nha đem đường và á phiện vào Trung Hoa đầu tiên. Sau đó Anh quốc thay thế. Xưa kia triều đình Trung Hoa chỉ khuyên dân chúng nên hạn chế uống rượu, nhưng đến 1760 thì cấm ngặt không cho mua bán á phiện. Anh bèn gây chiến với Trung Hoa (Anh giữ độc quyền trồng á phiện ở các đảo East Indies. Đó là kho bạc của Anh) Hiệp ước Nam Kinh (1842) chấm dứt chiến tranh nha phiến. Nhưng đến 1858, Trung Hoa lại nhập á phiện theo yêu cầu của Anh.
Lúc ấy ngành hoá học đưa ra thị trường: đường cát trắng và bạch phiến. Đồng thời cuộc cách mạng kỹ nghệ làm ra được nồi sấy khô sữa, trái cây, và cũng sáng chế kịp thời kim tiêm thuốc và ống chích để trị các bệnh “văn minh”. Thời ấy chích morphine là cách trị vạn năng, kể cả bệnh dành cho các giống dân ăn ngọt suốt ngày: Tiểu Đường. Sau chiến tranh Nam Bắc ở Hoa Kỳ, tật nghiện Morphin được gọi là bệnh của quân đội. Hằng ngàn binh sĩ đã giải ngũ mà không giải nổi tật nghiện ma túy. Lại còn thêm tật thèm sữa đặc có đường nữa. Khoa học tiến thêm một bước đáng kể: tinh chế bạch phiến thành thuốc giảm đau. Y khoa đón tiếp niềm nở phát minh này. Món thuốc đầu tiên mang tên đa vận, rồi rút gọn thành Heroin. Heroin có trị lành tiểu đường? Bác sĩ nha khoa Robert Boesler ở New Jersey có nói vào năm 1912: Việc sản xuất đường bằng kỹ nghệ tân tiến đích thực đưa đến nhiều bệnh mới. Đường trắng chỉ là axít đậm đặc được kết tinh. Trước kia đường mắc mỏ nên chỉ người giàu mới mua được, nay giá đường đã hạ nên đã gây suy thoái sức khoẻ quần chúng. Đã đến lúc cần tỉnh giác quần chúng. Sự mất sinh lực do dùng đường ở thế kỷ qua (19) và đầu thế kỷ này (20) không bao giờ bù đắp được vì di chứng đã lưu lại trên chủng tộc rồi.
Rượu được sử dụng hằng ngàn năm nay mà không gây biến tính cho nòi giống. Rượu không chứa axít độc hại. Cái gì bị đường tàn phá thì vô phương cứu gỡ. Nhà văn hài hước nổi tiếng của Hoa kỳ, Mark Twain có viết nhật ký vào khoảng 1840: Làng tôi có hai cửa hàng bách hóa. Chú tôi làm chủ một cái. Trẻ nít đến mua món nào đáng giá từ 5 xu đến 10 xu đều được phép nhúm một ít đường bỏ vào miệng. Người nào đến mua một cái bánh Trifle (làm với hạnh nhân, kem sũa, chút ít rượu và có mứt sệt trên mặt) thì họ tự do hớp một ngụm rượu Whiskey, ít hay nhiều tùy khả năng. Tôi là đứa trẻ hay đau ốm (vì có sẵn thùng đường ở nhà) dễ mệt mỏi, tánh chợt vui chợt buồn. Thuốc men thì đủ các thứ. Nhưng bệnh này chưa khỏi thì chứng khác lại ngoi lên. Rượu hại chỉ say nhóm mày râu, Quốc gia dân tộc đã điên đầu, Phụ lão nam nhi nay hảo ngọt Xã hội đang lùi xuống hố sâu.
Cà phê là chất kỳ lạ… Dân Á Rập cách nay 8 thế kỷ đã tiên phong sử dụng cà phê, họ gọi nó bằng từ ngữ giản dị „Kahula‟, có nghĩa là sức mạnh. Dù bị đả kích vậy mà chẳng mấy chốc Cà phê đã lan tràn khắp vùng Hồi Giáo rồi vào Âu Châu. Các vị lãnh đạo tôn giáo đặt tên nó là thức uống của ma quỉ, các y sĩ bảo nó là nhân duyên của nhiều bệnh tật, các vị lãnh đạo chính trị xem nó như là nguyên tố gợi lên sự phản nghịch và tạo loạn. Vào cuối thế kỷ 17 đã có nhiều hiệu bán cà phê mọc lên từ Venice đến Luân Đôn. Các văn sĩ, triết gia, thương gia, hạng quyền quý thời ấy đều ưa chuộng cà phê. Đến thế kỷ 18, các thuộc địa miền nhiệt đới ở Châu Phi, Châu Á, châu Mỹ nhận lệnh trồng cà phê. Rồi giá cà phê hạ xuống để trở thành thức uống bình dân cho mọi giai cấp và hiện là thức uống được toàn cầu ưa chuộng. Đây là thứ nông sản trọng yếu. Hằng triệu mẫu đất phì nhiêu được đắc dụng, và nền kinh tế của các nước thuộc thế giới thứ ba hoàn toàn bị nó khống chế. Một phần trăm mậu dịch quốc tế thuộc cà phê. Bước vào một quán cà phê nổi tiếng dành cho khách sành điệu ta nhận thấy ngay một khung cảnh đặc biệt: yên tĩnh, ánh đèn lờ mờ, mùi104 thơm ngào ngạt, nhạc của Jean Sebastian Bach văng vẳng từ cuối phòng - cảnh trí thật tôn nghiêm. Đó là một thánh đường nho nhỏ, có dáng dấp kiều diễm nhưng thông thoáng. Các khách thân quen khẽ hớp một ngụm cà phê với phong cách sùng mộ rồi ngẩn đầu lên tờ báo hay sách thơ dày cộm của một thi hào Liên Sô. Ngay cảnh trí sinh hoạt của người Mỹ, một bình lọc cà phê cũng là nghi thức cần thiết cho buổi sáng.Tại sao quần chúng quí mến nó: nó có gì huyền diệu? Câu hỏi thật ra không có gì gút mắc. Dù hào nhoáng và hương vị có cám dỗ đến đâu, nhất quyết cà phê không phải là món ăn hay thức uống có giá trị dinh dưỡng hay giải khát. Trái lại nó làm cho thêm khát nước và làm mất đi vài chất dinh dưỡng của cơ thể. Đích thực nó là vị thuốc mê, một chất kích thích thể xác và tinh thần. Tuy cà phê được dùng hợp pháp, rẻ tiền, xã hội ái mộ, nhưng nó là món thuốc gây nghiện ngập.Dược chất đáng ngại nhất trong cà phê là cafein (trimethyl dioxypurin), tinh thể màu trắng có kiềm tính. Các chất kích thích khác là: trigonellin (thành phần chủ yếu trong chất nicotine), các chất dầu có hương thơm và vài loại axit. Cà phê tác hại não tùy (medulla oblongata) cho nên nó dấy động cả hệ thống thần kinh: nhịp thở nhanh hơn, mạch máu nhảy mau hơn, áp suất máu gia tăng. Gan tiết chất Glycogen dự trữ, tăng mức đường trong máu lên, tạm thời gây cảm giác hưng phấn, và triệt tiêu sự thèm ăn. Thận và bọng đái bị kích thích nên phải đi tiểu nhiều (cà phê có thể gây ra bệnh di tinh, xuất tinh sớm, bệnh bất lực sinh lý trở nên trầm trọng hay khó trị). Tính nhu động của đầu ruột già (colon) cũng bị kích thích mạnh. Tóm lại nhiều cơ quan bị chấn động. Cũng có nhiều hậu quả tâm lý cho người dùng, tuy ít chính xác trong việc nghiên cứu và thiết lập tài liệu nhưng lại được chứng nghiệm nơi các người thường uống cà phê. Giác quan thường được thức tỉnh, màu sắc và âm thanh được cảm nhận với cường độ cao hơn. Phần trước của bộ óc, cứ điểm của ý thức và sinh hoạt trí tuệ bị kích thích. Nhờ đó người uống mới khai triển óc phân tích, óc phê bình, mới dễ tiếp thu các quan niệm mới và được mẫn tiệp trong sự giao tế phức tạp, trong sự bày tỏ các nguyên tắc chi phối các hiện tượng khác biệt, và trong sự phát biểu chi tiết các ý tưởng. Rõ ràng, cà phê đã gắn liền với cuộc sống của các lý thuyết gia, văn sĩ, khoa học gia… Tuy nhiên phần thưởng vẻ vang dành cho thể lực và năng lực tinh thần này phải trả bằng một giá. Trong vòng một hoặc hai giờ Insulin ở lá lách được tiết ra, đưa lượng đường về mức bình thường hay dưới bình thường để rồi người trở nên mệt mỏi, dễ bị căng thẳng, mất khả năng tập trung tinh thần và chán ngán sự đời… chỉ còn đủ sinh lực để nhấp một cốc cà phê nữa. Theo y học Đông phương, có liên quan giữa sự sợ hãi và thận, ưu phiền và lá lách, giận hờn và gan. Các tâm trạng đó làm suy yếu các bộ phận vừa kể. Vì bị kích thích quá dồn dập nên hệ thần kinh bị tổn thương. Tâm trạng cuồng loạn, tính hay quên của vị giáo sư đại học đãng trí có thể do sự ngộ độc chất cafein khá nặng rồi?!! Vào năm 1934, dựa vào các nghiên cứu ban đầu về hậu quả của cafein, sứ giả người Đức. Henrich Jacobs quả quyết rằng cafe là lực lượng tiên phong hình thành thế giới hiện đại. Để giúp cho những người về đêm được linh hoạt, hữu hiệu và để tăng nhanh nhịp tiến hóa của cuộc sống. cafe đã gia tăng năng xuất kinh tế và trí tuệ. Nhờ phẩm chất kích thích của cafe mà người ta mới cam chịu được những thời gian dài dăng dẳng, buồn tẻ nhưng cần thiết trong các văn phòng hay các xưởng máy của những xã hội đã được kỹ nghệ hóa hay hành chánh hóa. Jacobs cũng gắn cho cafe một vai trò hệ trọng trong lịch sử văn hóa của Tây phương. Để áp dụng hệ thống triết học của Nietzsch nhằm xây dựng một siêu nhân. Ông ta bảo có hai loại tri giác Dionysian (Dionysius là tên của vị thần rượu vang Hy Lạp) là nhận thức về cảm xúc, khoái lạc và tổng hợp. Tri giác Apollonian (Apollo là tên của vị thần đầy đủ nam tính, thần mặt trời) tượng trưng cho sự trong sáng, quân bình, và thuộc vực trí tuệ, thuần lý và phân tích. Jacobs xác nhận là trong khi rượu kích động tác phong con người thì cafe lại tô đậm mẫu người tuyệt luân. Thế thì các nhà thông thái, các thành phần quí tộc ở Âu Châu, các tầng lớp nhân dân, nhờ cafe mà đã tạo cơ hội cho sự biến đổi quan niệm về tri giác và đường lối suy tư. Cho đến lúc ấy thì phái duy lý và phân tích chỉ có ảnh hưởng đến một thiểu số. Giờ đây thì cả bên học giả lẫn bên quần chúng đều nghiên về khuynh hướng này. Sự tôn vinh cafe của phái duy lý (Văn hào Pháp, Voltaire nóc hết bốn chục cốc cafe mỗi ngày). Của thế tục chủ nghĩa, của khoa học và kỹ thuật, của hệ thống hành chánh phức tạp, được biểu lộ qua thái độ khoái cafe ở khắp nơi. (Ở Việt Nam, trung bình mỗi ký lô mét đường lộ thì có một quán cafe. LND). Dù lý thuyết về lịch sử - phảng phất mùi cafe – có giá trị đến bao giờ đi nữa thì có vài chứng nghiệm và hậu quả của nó vẫn được xác nhận. Cafe là một món thuốc, một chất kích thích mạnh, đầy cám dỗ, sẵn sàng hiến dâng cho ta. Vậy có nên dùng cafe không? Nếu có thì dùng cách nào. Ngoài các hậu quả nguy hại của cafe, còn các lý do vững chãi khác khuyên ta nên tránh dùng. Trước nhất là tiếng tăm của nó: Sự việc cafe được xem là nguồn năng lượng duy nhất cho hiệu năng làm việc và sáng tạo vẫn chưa được minh chứng. Ta vẫn có tinh thần minh mẫn, diễn đạt tư tưởng lưu loát khi ta ăn uống đúng phép, luyện tập thân thể đều đặn, và có nếp sống đạm bạc để tâm được thanh tịnh. Đối với người khỏe mạnh thì việc đi bộ rảo bước và tắm nước lạnh cũng là vị thuốc gây hưng phấn mà không bị phản ứng phụ. Sự tiêu thụ cafe, cũng như việc sử dụng các món hàng những tiện ích khác mặc nhiên can hệ ngầm đến kinh tế và sự phân phối hàng hóa. Nếu tôi mua một món hàng nào đó, thì điều ấy có nghĩa là tôi ngầm công nhận và ủng hộ tổ chức sản xuất đã cung ứng cho tôi. Nhiều vùng đất ngút ngàn ở miền nhiệt đới đang sản xuất lương thực phải chuyển qua trồng cafe xuất khẩu. Điều này khiến cho nông dân hoàn toàn bị lệ thuộc vào sự bấp bênh của thị trường quốc tế xa xôi thờ ơ với họ. Ở Brazil và nhiều nơi khác các cánh rừng mênh mông bị triệt hạ để trồng cafe.
CƠ THỂ CON NGƯỜI luôn có sự thay đổi và mã di truyền DNA của chúng ta luôn xảy ra đột biến hằng ngày. Ước tính có đến khoảng 1 triệu đột biến ở mức độ phân tử DNA trong 1 tế bào mỗi ngày. Tuy nhiên, thông thường các đột biến này không dẫn đến ung thư vì cơ thể chúng ta có các cơ chế để sửa chữa, kiểm soát các đột biến này ở nhiều mức độ khác nhau nhằm hạn chế sự nguy hại của chúng ở mức thấp nhất.
Quá trình chết đã được lập trình hay sự chết có chương trình của tế bào (apoptosis) thường xảy ra khi tế bào có những đột biến, hư hỏng không thể sửa chữa được nữa. Khi đó, tế bào sẽ phát ra tín hiệu từ bên trong, hay từ bên ngoài nếu cơ chế bên trong bị chặn để kích hoạt chương trình “tự tử” này. Quá trình này bắt đầu bằng việc tế bào co lại, tách biệt với các tế bào xung quanh, tế bào chất trở nên đặc hơn và DNA cũng bắt đầu dồn cục lại. Bước tiếp theo, trên màng tế bào sẽ hình thành các chỗ phồng lên và tách ra thành những túi nhỏ có chứa bào quan trong đó. Các enzyme phân giải trong tế bào được hoạt hóa, màng nhân mất đi và DNA bị cắt nhỏ thành nhiều mảnh. Trong suốt quá trình này, màng tế bào hay màng các túi nhỏ tách ra từ tế bào vẫn được giữ nguyên vẹn để tránh tình trạng các chất bên trong tế bào đang chết bị rò rỉ ra ngoài có thể gây viêm. Cuối cùng, các đại thực bào được điều động đến và “ăn” hết các mảnh vỡ tế bào.
Một số thực phẩm tiêu biểu được phân loại theo giả thiết này là:
• Nhóm Axit: Thịt đỏ, thịt gia cầm, cá, sữa, trứng, ngũ cốc và rượu.
• Nhóm Trung tính: Chất béo tự nhiên, tinh bột và đường.
• Nhóm Kiềm: Trái cây, các loại hạt, các loại đậu và rau
mổ (hay phẫu thuật) là một trong ba phương pháp nền tảng trong điều trị ung thư (phẫu trị, hóa trị và xạ trị)
Ma túy là thuật ngữ dùng chung cho các chất có nguồn gốc tự nhiên (như morphine, cocaine, cần sa…), bán tổng hợp (như heroin) hoặc tổng hợp (như các chất thuộc nhóm amphetamin) có tác dụng lên thần kinh, gây cảm giác hưng phấn, dễ chịu, giảm đau… và gây nghiện.
Một khi cơ thể (đặc biệt là gan, túi mật, thận và ruột) mất đi khả năng xử lý tất cả các độc tố và các chất ô nhiễm thì chúng ta sẽ bị tàn phá hằng ngày, nguồn cung ô-xy của cơ thể suy giảm, hệ miễn dịch bắt đầu suy sụp, độ pH của cơ thể ngày càng có tính axit nhiều hơn (tức là nhiễm axit), và đó sẽ là điều kiện sinh sôi hoàn hảo cho các vi sinh vật và ký sinh trùng nguy hiểm chết người. Những vi sinh vật này là hậu quả của việc hệ miễn dịch đã mất khả năng bảo vệ các tế bào khỏi những tác nhân gây ung thư. Những vi-rút, vi khuẩn, ký sinh trùng và nấm này hoạt động như chất xúc tác thực sự cho ung thư và gần như tất cả các bệnh khác. Bằng cách “chiếm cứ” một tế bào hiếu khí khỏe mạnh, những vi khuẩn và vi rút xâm nhập này bắt đầu hút hết ô-xy và nguồn cung cấp năng lượng của tế bào, cho đến khi tế bào đó hoặc chết hoặc đột biến thành tế bào kỵ khí. Tế bào kỵ khí này (tức là tế bào ung thư) giờ đây dựa vào việc lên men đường để sản sinh năng lượng. Cuộc chiến với ung thư thực sự là cuộc chiến ở cấp độ tế bào, với nỗ lực làm sạch cơ thể khỏi những kẻ xâm lấn cực nhỏ đồng thời thay đổi triệt để nội trạng của cơ thể để trở lại khỏe mạnh. Đây là lý do tại sao thanh lọc là việc vô cùng quan trọng đối với tất cả chúng ta
Hơi thở của bạn có nặng mùi không? Nếu có, nguyên nhân của nó không chỉ là những gì bạn ăn trong bữa sáng! Nó còn có thể là hậu quả của những gì bạn ăn tháng trước… hay năm ngoái! Hãy nhớ rằng khí nóng bốc lên, và nó đang bốc lên từ bụng và đi ra ngoài qua miệng của bạn. Có ai có kẹo bạc hà không? Đừng bị lừa… kẹo bạc hà, kem đánh răng và nước súc miệng chỉ là những biện pháp tạm thời che giấu các triệu chứng và không bao giờ đến được nguyên nhân gốc rễ thực, chính là phân thải độc hại bên trong chính bạn. Tại sao người ta sử dụng chất khử mùi và nước hoa cho vùng da dưới cánh tay? Để giấu sự thật. Sự thật là họ có mùi hôi. Tại sao mùi cơ thể tăng lên theo tuổi tác? Câu trả lời là – chúng ta bị thối rữa độc hại. Chúng ta thối rữa từ trong ra ngoài. Bạn nên biết rằng hầu như tất cả các chất khử mùi, nước hoa đều độc và có hại cho cơ thể bạn, ngay cả một số thứ gọi là sản phẩm tự nhiên. Như tôi đã đề cập bên trên, nhiều chất khử mùi cho vùng da dưới cánh tay có thể là nhân tố góp phần cho những vấn đề về bạch huyết và ung thư vú.
Theo bác sĩ Darrell Wolfe: “Nguyên nhân chính sinh ra bệnh tật là nhiễm axit (độ pH thấp). Bạn có biết, nguyên nhân chính của hiện tượng này là do những thứ thối rữa của phân thải bị hấp thụ trở lại vào cơ thể? Điều này gây ngộ độc, nghĩa là máu bị bẩn. Xin phép hỏi bạn một câu hỏi. Bạn có tin rằng mình có thể bị nấm toàn thân, mệt mỏi kéo dài, đau đầu, đau họng, rối loạn da, bệnh tim, bệnh gút, viêm khớp, xoang, thậm chí ung thư – mà máu của bạn không hề bị bẩn và độc không? Danh sách các căn bệnh là vô tận. Con đường duy nhất để máu của bạn bị nhiễm bẩn là tái hấp thụ phân thải độc hại từ ruột già của chính bạn.” Thật chẳng có gì đáng thắc mắc khi ta thường nghe thấy câu “Cái chết bắt đầu ở đại tràng”.
Theo lời của Henry Wheeler Shaw: “Bao nhiêu bộ não cũng không giá trị bằng một bộ ruột khỏe, đáng tin cậy.” Tôi hoàn toàn đồng ý với ông Shaw! Hội Y học Hoàng gia Anh (The Royal Society of Medicine) đã thực hiện một nghiên cứu lớn và thấy rằng rối loạn chức năng ruột già (còn gọi là đại tràng) đóng góp chính cho 85% bệnh tật và đau ốm.
Tất cả các ung thư có nguồn gốc từ tế bào bình thường của cơ thể chúng ta. Do vậy, điều trị một cách nhẹ nhàng rất có ý nghĩa. Hầu hết ung thư phát sinh từ sự tiếp xúc của chúng ta với môi trường xung quanh. Gần 1/3 ung thư được chẩn đoán ở châu Âu và Mỹ có liên quan đến sử dụng thuốc lá. Con số đó nghĩa là hơn 150.000 ca tử vong mỗi năm ở Mỹ. Thức ăn đóng góp cũng khoảng 1/3 ung thư, đặc biệt là ung thư dạ dày và đường ruột. Người gầy có ít rủi ro hơn về ung thư vú, tiền liệt tuyến và tử cung. Điều này có lẽ vì những ung thư này liên quan đến mật độ cao của hoóc-môn giới tính, estrogen và testosterone. Những hoóc-môn này tàng chứa trong chất béo. Những người uống nhiều rượu rất dễ mắc ung thư miệngvà gan. Những nguy hiểm nghề nghiệp như môi trường làm việc thường xuyên phải tiếp xúc với asbestos và formaldehyde là nguyên nhân gây ra 5% ung thư. Điều ngạc nhiên là chỉ khoảng 3% ung thư là có yếu tố di truyền. Nhóm ung thư xảy ra trong một gia đình thường có nguyên nhân giống nhau là những lựa chọn lối sống - đặc biệt là chế độ ăn. Điều quan trọng nhất cần phải biết về nguyên nhân gây ung thư là trong mọi trường hợp nó thường là nguyên nhân của: 1) một tổn thương tình cảm như mất đứa con một cách bi thảm hoặc áp lực tinh thần kéo dài như do ly dị; 2) ống tủy răng và/hoặc lỗ hổng răng. Chúng ngăn cản hệ miễn dịch và cho phép ung thư phát triển (trong một điều kiện thuận lợi); và 3) những thứ chúng ta đưa vào miệng - chắc chắn là thuốc lá và rượu, và cả thức ăn nữa. Thực phẩm nấu chín không có enzyme và có ít chất bổ. Enzyme là chất thiết yếu để tiêu hóa thức ăn. Tuyến tụy phải sản xuất tất cả enzyme để tiêu hóa thức ăn đã nấu chín. Quá trình [tiêu hóa] không suôn sẻ 100%. Màng tế bào của chúng ta (phương tiện giao tiếp chính của tế bào) bị "mắc kẹt" với các phân tử không tiêu hóa được từ thức ăn nấu chín. Việc thiếu các chất dinh dưỡng, enzyme và số lượng khổng lồ các hóa chất trong tất cả đồ ăn siêu thị đóng gói hoặc đóng hộp là bê bối chính và chịu trách nhiệm cho hàng triệu người tử vong mỗi năm. Thực phẩm tươi sống các loại có các enzyme mà cơ thể chúng ta cần để tiêu hóa. Có ngạc nhiên không khi các bệnh nhân tiểu đường cải thiện được các chỉ số trong một vài tuần sau khi áp dụng chế độ ăn thực phẩm tươi sống?
Ung thư có nghĩa là sự phát triển của khối u. Hầu hết các loại ung thư (khoảng 90%) liên quan đến một khối u. Tuy nhiên, không phải mọi khối u đều là ung thư. Ung thư cũng bao gồm một loạt các (những gì bác sĩ gọi) "bệnh" nhưng không biểu hiện các khối u. Chúng gồm các ung thư hệ thống bạch cầu gọi là "ung thư hệ bạch huyết", các ung thư máu như "bạch cầu", và các ung thư da như "u hắc sắc tố". Như bạn sẽ thấy, chúng tôi không tin ung thư hay bất cứ bệnh suy thoái nào là một "bệnh". Chính xác hơn, đó là một "phản ứng". Thông thường, đó là phản ứng đối với lựa chọnlối sống của bạn và những gì xảy ra với bạn trong những năm trước đó. Ngoài hút thuốc, uống rượu và những lựa chọn dại dột khác, nếu không phải là tổn thương tình cảm hay ống tủy răng thì nguyên nhân trực tiếp hầu như luôn luôn là chế độ ăn uống. Thường thì cả ba đều liên quan.
Một điều chắc chắn là: Nếu cơ thể bạn (nhất là hệ miễn dịch) đủ khỏe mạnh để chống trả tất cả độc tố đưa vào hoặc khu trú trong cơ thể thì bạn không bị "phản ứng" gọi là ung thư. Một điểm chung cho tất cả ung thư là sự phá hỏng ADN trong nhân tế bào. ADN được nhân đôi với mỗi phân chia tế bào. Trung bình người trưởng thành có 75 nghìn tỉ tế bào trong cơ thể. Xin nhắc lại 75.000.000.000.000 tế bào. 99% tế bào trong cơ thể chúng ta là tế bào "thân". Toàn bộ tế bào của chúng ta, trừ tế bào não và thần kinh, đều được thay thế hàng nghìn hoặc hàng trăm nghìn lần trong suốt cuộc đời. Trong vòng bảy năm, quá trình tế bào phân đôi và chết đi thay thế gần như mọi tế bào trong thân thể chúng ta. Một cách nhìn khác là mỗi ngày có khoảng 300 tỉ tế bào được thay thế trong cơ thể chúng ta. Tại sao điều này lại quan trọng? Bởi vì "lỗi" không tránh khỏi phát sinh trong quá trình này là một trong những "nguyên nhân" nêu trên. Nếu những "lỗi" của ADN trong tế bào chỉ chiếm 0,003% (ba phần nghìn phần trăm) thời gian thì chúng ta đã sản sinh mười triệu tế bào ung thư mỗi ngày. Con số đó chắc là còn dè dặt. Một tỉ tế bào ung thư có kích cỡ bằng cục tẩy ở đầu bút chì.
Cơ thể đẹp đẽ của bạn có một hệ điều hòa kỳ diệu. Ví dụ khi bạn bị đứt tay, các tế bào sẽ tiến hành làm công việc sửa chữa tổn hại. Khi lượng tế bào tụ tập đến vết thương để chữa đã đủ thì tế bào ngừng phân đôi. Đã bao giờ bạn tự hỏi sao lại thế chưa? Đó là do có một "gen tự sát" trong ADN nói lên "đủ rồi". Không những tổng lượng tế bào bị kiểm soát, mà những gen "hiệu chỉnh" trong ADN còn tìm kiếm những bất thường trong tế bào. Khi chúng tìm thấy một bất thường, chúng sẽ hoặc là chỉnh lại hoặc là tiêu diệt tế bào đó. Chúng làm việc 24/7. Ngạc nhiên chưa? Hệ miễn dịch của bạn (khoảng 20 nghìn tỉ trong 75 nghìn tỉ tế bào) cũng tiêu diệt những tế bào hư hỏng lên đến hàng triệu mỗi ngày. Đó là hàng phòng thủ thứ hai của bạn chống lại những tế bào bất thường. Các tế bào ung thư trông khác thường đối với hệ miễn dịch của bạn bởi vì chúng đã mất khả năng sử dụng ô-xy. Thay vào đó, chúng sử dụng quá trình lên men của fructose và glucose cho năng lượng của chúng. Trong thực tế, chúng có khoảng 17 lần các thụ thể cho glucose trên màng của chúng như một tế bào bình thường. Vậy thì các tế bào ung thư (phân đôi ngoài kiểm soát) xuất hiện hàng ngày trong cơ thể bạn. Nếu các tế bào có chức năng "cảnh sát" bị thất bại, thì hệ miễn dịch phải nhận biết tế bào "ương ngạnh" này và tiêu diệt nó. Hệ miễn dịch không gì khác là những tế bào chuyên dụng. 130 loại tế bào khác nhau của hệ miễn dịch sống trong cùng "môi trường" như những tế bào khác trong cơ thể bạn. Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng bị yếu đi bởi cũng quá trình đó mà gây ra phân đôi "bất thường" của tế bào? Khi đó thì sao? Tế bào đã mất khả năng "tự sát" của nó. Gen "hiệu chỉnh" đã bỏ qua lỗi. Hệ miễn dịch của bạn quá yếu để làm hàng phòng thủ thứ hai như thông thường. Kết quả là: bị ung thư. Các tế bào ung thư thường di chuyển đến bộ phận yếu nhấtvà nhiều a-xít nhất trong cơ thể bạn và một khối u được nuôi dưỡng. U ung thư phát triển do các tế bào "con cái" kế thừa cùng nhóm gen bất thường đó. Một số u ung thư phát triển rất chậm và không được chẩn đoán sau 5-15 năm. Số khác phát triển nhanh hơn và được ghi nhận chỉ trong một vài tháng hoặc vài ba năm. Và tất nhiên một số ung thư (bạch cầu, hệ bạch huyết và u melanin) không hề phát triển thành khối u. Có khoảng 90% ung thư liên quan đến khối u.
"Về già, hàng phòng thủ thứ hai - hệ miễn dịch của bạn có xuhướng kém cảnh giác, không sẵn sàng ngăn chặn và tiêu diệt những dị thường. Sự yếu đi của hệ miễn dịch là khả năng nó không cung ứng được dự phòng cần thiết. Bạn càng sống lâu hơn thì khả năng tế bào phân đôi càng không ổn, khả năng ADN trong một tế bào cụ thể nào đó sẽ chứa đột biến, và khả năng hệ miễn dịch của bạn không ở đó để bắt lấy lỗi. Điều quan trọng nhất cần phải nhớ là: Bạn có thể làm chậm lại, thậm chí đảo lại mức độ già đi của hệ miễn dịch của bạn."
Có thể dựa vào chế độ ăn uống mà chia loài người thành ba nhóm sau đây: * Nhóm các dân tộc ăn thịt, trở thành cực Dương, do ăn thịt nên giác quan sắc bén, hoạt động mạnh và có khuynh hướng ràng buộc vào thế giới vật chất, họ dễ dàng trở thành người thực dụng, theo chủ nghĩa vật chất. Lại ở trong môi trường giá lạnh, phải luôn luôn vật lộn đấu tranh với thời tiết khắc nghiệt nên họ sớm phát triển khoa học kỹ thuật, cộng với giác quan sắc bén nên thích nối dài giác quan: chế ra súng bắn, xe chạy, máy móc, vô tuyến... và thích nghiên cứu tìm hiểu các hành tinh khác. Đó là tổ tiên của các dân tộc Âu, Mỹ ngày nay. * Nhóm các dân tộc ăn cá, thường có khuynh hướng tương đối bảo thủ. Nhóm này là tổ tiên của người Nhật và người Ý ngày nay. * Nhóm các dân tộc ăn trái cây và thảo mộc sống, giác quan không sắc bén nên có khuynh hướng đóng kín các cửa sổ lục căn để soi vào bản thể chân như bên trong. Vì thế cảm xúc tâm linh rất nhạy bén, nên dễ dàng từ bỏ thế giới vật chất, hướng theo tâm linh thần bí. Sống trong điều kiện tự nhiên ấm áp thuận hòa, không phải vật lộn đấu tranh với thiên nhiên khốc liệt, nên những cư dân nhóm này có cuộc sống thanh bình, êm ả, hiền lành. Chính vì vậy, họ dễ trở thành mồi ngon cho nhóm người ăn huyết nhục ở phương Bắc có khoa học kỹ thuật phát triển, phương tiện tân tiến cộng với bản chất hiếu động... đã xâm lăng thống trị họ trong những thế kỷ qua. Điều này đã giải thích vì sao các bức đại trường thành trên hành tinh này đều được các dân tộc ở phương Nam ấm áp xây lên để kháng cự lại quân xâm lược phương Bắc tràn xuống.
• Nhóm ăn đường, chuyên ăn những thức ăn chế biến từ đường, nên có khuynh hướng trở thành điên loạn, đồng thời họ thích ăn các sản phẩm từ nhiệt đới xa xôi như tiêu, ớt, cà phê, trà, sô-cô-la, thuốc lá v.v... • Nhóm ăn sữa, là những người có tính điềm đạm, dễ chịu, nhưng thiếu tri giác và kém thông minh (xem tiếp Chương 3, mục IV - 4 và 5). • Nhóm ăn thực phẩm công nghệ, không còn ăn sản phẩm thiên nhiên, mà ăn toàn các sản phẩm do các xí nghiệp, nhà máy sản xuất ra, vì vậy họ không còn là con đẻ của Tạo Hóa nữa, mà là con đẻ của xưởng máy(*)!
Từ so sánh trên, có hai điểm rất cần chú ý: a) Dạ dầy của động vật ăn thịt có độ axit rất cao; b) Ruột lại ngắn. Để tiêu hóa nhanh và mau chóng đẩy cặn bã ra khỏi cơ thể nhằm chống hiện tượng lên men thối. Trong khi ở động vật ăn cỏ thì hoàn toàn ngược lại. b. Những cộng đồng cư dân chỉ ăn thức ăn thực vật luôn luôn có sức khỏe rạng rỡ, tuổi thọ cao Người Hunza (Pakistan), người Kogi (Columbia), bộ lạc Otomi (Mexico) và một số thổ dân ở châu Á, châu Phi luôn có rất ít, thậm chí hầu như không có ai, bị bệnh, nhiều người sống trên 100 tuổi mà vẫn khỏe mạnh. Trên báo đăng có cụ ông 140 tuổi, cụ bà ngoài 80 tuổi vẫn lấy vợ/chồng và còn sinh con. Ngược lại, các dân tộc chuyên ăn thịt hoặc ăn rất nhiều thịt Họ luôn có tỷ lệ mắc bệnh rất cao về tim mạch, loãng xương, tiểu đường, suy thận, ung thư, đặc biệt ung thư đường tiêu hóa, tuổi thọ trung bình rất thấp. Điển hình là người Eskimô ở Bắc cực. Do thức ăn chủ yếu là thịt, cá, mỡ nên già đi rất nhanh, mắc nhiều bệnh, tuổi thọ trung bình chỉ 27 tuổi rưỡi. Người Kirgese sống du mục bằng nghề săn bắn ở miền Đông nước Nga, rất hiếm có người sống đến 40 tuổi. Nhận xét: Phải chăng những cộng đồng cư dân ăn thực vật là sử dụng thức ăn phù hợp với cấu tạo, sinh lý của cơ thể. Còn những cộng đồng ăn quá nhiều thịt là sử dụng thức ăn không phù hợp với cấu tạo và sinh lý của cơ thể mình, chẳng khác nào họ đã dùng dầu hỏa làm nhiên liệu cho động cơ được chế ra để chạy bằng xăng. Nước ta trước kia và trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, mức sống rất thấp, thì nhân dân, nhất là đội ngũ cán bộ rất ít người bị bệnh, bệnh nan y càng hiếm thấy. Ngày nay đời sống nâng cao, ăn uống tốt hơn thì nhiều bệnh, nhất là các bệnh nan y ngày một nhiều.
Thứ nhất, trong thức ăn hàng ngày, cơm đã chứa trên 70% (bún có thể tới trên 90%), rau trên 80%, canh trên 90% nước. Vì vậy ăn no là đã đủ nước rồi, uống nước chỉ là bổ sung thêm mà thôi! • Thứ hai, uống nhiều nước sẽ làm loãng máu, từ đó dẫn đến những hậu quả sau: + Áp suất thẩm thấu của máu giảm, khiến hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, thực bào... phải sống trong môi trường không thích hợp dẫn đến sức sống và hoạt động giảm sút, nên chóng già, chóng chết. Do vậy sức đề kháng giảm, cơ thể suy nhược! + Tim là cơ quan làm việc cần mẫn suốt từ trong bào thai cho tới khi nhắm mắt xuôi tay, không hề nghỉ ngơi dù một phút! Mỗi phút tim người bình thường đập 70 đến 75 nhịp, mỗi ngày đêm tim bơm đi 7.000 lít máu, một năm bơm 2.555.000 lít, cả cuộc đời (70 tuổi), tim phải bơm đi một lượng máu tới 178.850.000 lít để máu lưu thông liên tục trên 100.000 kilomet trong các mạch máu lớn nhỏ của cơ thể! Một tế bào máu đi từ tim tới đầu ngón chân rồi trở về tim chỉ trong 12 giây! Trong điều kiện bình thường, trái tim đã phải làm việc nặng nhọc như thế! Nếu uống nhiều nước, máu loãng ra, tim phải đập nhiều hơn để bảo đảm đủ hồng cầu đi nuôi cơ thể, tức là phải đảm nhận thêm nhiệm vụ bơm lượng nước vô ích đi khắp nơi, vì vậy, những người uống nhiều nước luôn có nhịp tim nhanh hoặc rất nhanh so với bình thường, nên rất hại cho tim! Hơn thế nữa, máu loãng thì khả năng trao đổi chất với các tế bào, mô, cơ quan... giảm sút! Vì vậy người uống nhiều nước sẽ hay mệt mỏi, sức chịu đựng và khả năng đề kháng suy sụp! Thế mà Y khoa lại khuyến khích mọi người “uống nước nhiều để tăng cường đào thải độc tố”, thì thật là không còn gì để nói nữa! + Bình thường lượng nước trong cơ thể được giữ cân bằng qua cảm giác khát khi thiếu và đi tiểu khi thừa. Uống nhiều nước thì thận phải làm việc nhiều hơn để lọc và đào thải nước thừa, do vậy hiển nhiên sẽ làm hại thận! Thậm chí sau khi uống nhiều nước là phải đi tiểu ngay. Đó là tiếng nói của cơ thể: “Tôi không cần nước nữa, xin đừng đưa thêm vào! Đưa nước vào tôi phải tống ra ngay đây này”! Mà tiếng nói của cơ thể thì luôn luôn trung thực và chính xác!
• Thứ sáu, nước thuộc về Âm, uống quá nhiều thì cơ thể trở nên Âm tính thường có những triệu chứng: Mệt mỏi, yếu ớt, tim luôn đập quá nhanh, hay hồi hộp, đau lưng, suy thận, tiểu đêm, chậm chạp, nhức mỏi, viêm khớp, ra mồ hôi tay chân, béo bệu, dễ bị viêm nhiễm nên thường xuyên cảm cúm, hen suyễn, viêm họng, viêm phế quản, rã rời, đờ đẫn, ngại ngần, thiếu sinh lực, sợ lạnh, lâu nhớ, chóng quên, hay cáu giận vô lý bởi những việc vụn vặt. Nặng hơn nữa thì tính tình đa nghi, nham hiểm, độc ác... Đi khám Tây y sẽ không thể phát hiện ra bệnh gì!
Nhìn về quá khứ chúng ta thấy, các cụ ngày xưa thường uống nước bằng “chén hạt mít”, khi uống thì thong thả, nhâm nhi, thưởng thức hương vị của tách trà. Còn bây giờ, người ta uống bằng ly cối, ly vại, lại uống với nước đá(*), khi uống thì “nốc ừng ực” một hơi dài. Hoặc vừa ăn đồ nóng vừa uống nước lạnh! Xem như vậy đủ thấy cách uống nước ngày nay hoàn toàn ngược với truyền thống. Bệnh tật một phần từ đó mà ra!
Ngành này vốn đang “ấm ức” với kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng cholesterol và chất béo bão hòa là thủ phạm gây bệnh tim mạch. Họ lại càng “hằn học” trước phát hiện của tiến sĩ G. Gori (Phó Giám đốc viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ) và sau đó một loạt các nghiên cứu khác tái khẳng định: “Ăn nhiều thịt và chất béo là nguyên nhân chính gây bệnh ung thư”! Chẳng còn lý lẽ nào để chống chế, ngành sản xuất thịt trứng sữa đã liên kết với ngành sản xuất thuốc lá, tung tin: “Cái gì cũng có thể gây ra bệnh ung thư”! Với hy vọng rằng: Khi mọi người nghĩ như vậy, sẽ chẳng ai chú ý đến nguyên nhân chính, thực sự, gây ra ung thư nữa, lúc đó mọi người sẽ yên tâm tiêu dùng sản phẩm của họ! Thập niên 1970, một loạt nghiên cứu đã khẳng định: “Những người ăn thịt, chất béo bão hòa có nhiều rủi ro mắc bệnh ung thư ruột kết hơn hẳn những người ăn ít thịt, nhất là ăn chay trường"! Chẳng thể phủ nhận những bằng chững rành rành, ngành kỹ nghệ thịt trứng sữa quay ra lập luận rằng: “Đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, mà nguyên nhân chính là do những người mắc bệnh đã mang sẵn yếu tố di truyền nên dễ bị ung thư hơn người khác”! Tiến sĩ John Berg lại vạch ra: “Người Nhật ăn ít thịt hơn và có tỷ lệ ung thư ruột kết thấp hơn người Mỹ. Nhưng, người Nhật sinh sống tại Mỹ, ăn thịt nhiều thì tỷ lệ ung thư ruột kết tương tự như người Mỹ”! Chứng tỏ không phải do nguyên nhân di truyền! Nhiều nghiên cứu sau đó đã tái khẳng định kết luận này! Bị đẩy vào bế tắc, ngành kỹ nghệ thịt trứng sữa trở lại lập luận cũ: “Bất cứ món ăn nào cũng có thể là nguyên nhân gây ung thư! Vì vậy chỉ đổ tội cho thịt trứng sữa là thủ phạm, sẽ là thái độ phản khoa học”. Tiến sĩ John Berg và cộng sự lại tiến hành một nghiên cứu lớn nhằm tìm sự tương quan giữa tỷ lệ ung thư ruột kết với 119 loại thức ăn khác nhau. Kết quả cho thấy: “Hệ số tương quan giữa tỷ lệ ung thư ruột kết và thịt cao hơn hẳn và bỏ rất xa những hệ số khác”! Không tìm ra lý lẽ để biện bạch, giới sản xuất thịt chỉ còn cách “hoãn binh chi kế” và biện bạch: “Cần phải nghiên cứu nhiều hơn nữa mới xác định dứt khoát được điều ấy”! Những năm sau đó, rất nhiều nghiên cứu đã tái khẳng định: "Càng ăn nhiều thịt và chất béo càng có nhiều rủi ro bị ung thư ruột kết”! Tiếp theo là những nghiên cứu tách riêng các yếu tố thức ăn, đã khẳng định: Càng ăn ít chất xơ bao nhiêu, càng dễ mắc ung thư ruột kết bấy nhiêu! Kết quả này đã “giáng một đòn chí tử” vào “sào huyệt phản công” của ngành thực phẩm động vật!
Các đạo sĩ Yoga Ấn Độ còn cho rằng: Nhai kỹ và chậm sẽ chiết rút được tối đa sinh khí (Prana) chứa trong thức ăn. Nếu nhai tới khi không còn nhận thấy mùi vị của thức ăn nữa, thì Prana trong thức ăn được chiết rút ra hết để cung cấp cho cơ thể. Khi nhai nên ngậm miệng, như vậy trông vừa đẹp, lịch sự, mà Prana không bị thất thoát ra ngoài. Tu sĩ Yoga Ramacharaka còn cho biết: Nhai kỹ và chậm thức ăn sẽ bổ dưỡng bằng hai lần và thu được sinh khí (Prana) nhiều gấp ba lần so với nhai dối. Chính vì vậy mà nhiều tu sĩ phái khổ hạnh mỗi ngày chỉ ăn một bữa có khi không no, nhưng nhờ nhai kỹ, nhai chậm mà vẫn đủ chất, khỏe mạnh sống lâu. • Nhai kỹ còn kích thích tuyến mang tai tiết ra chất parotin, chất này có đủ thời gian ngấm qua hạch lâm ba (hệ bạch huyết) rồi vào máu, kích thích hoạt động của các tế bào, đặc biệt kích thích hệ bạch huyết tạo ra lympho bào T, là loại có vai trò rất quan trọng trong hệ thống miễn dịch, nên chẳng những tăng cường khả năng đề kháng với bệnh tật mà còn làm cho cơ thể khỏe mạnh, trẻ trung. Nếu ăn không nhai kỹ và chậm thì chất Parotin không những tiết ra ít mà sẽ theo thức ăn xuống dạ dày và bị dịch vị phân hủy. Sự lãng phí này rất ít người biết tới! • Cử động nhai của hàm còn kích thích, điều hòa nhu động của dạ dày, ruột do đó có tác dụng rất tốt trong tiêu hóa thức ăn. Đồng thời còn kích thích gan, lá lách tiết dịch và hoạt động hữu hiệu trong quá trình tiêu hóa. Viết đến đây tôi chợt nhớ tới câu nói của cổ nhân “Miếng ăn đến miệng còn để rơi”! Nhưng ăn mà không nhai kỹ, nhai đúng cách... thì ngay cả miếng ăn đã đưa vào miệng, qua dạ dày rồi... vẫn bị “rơi”! Do cơ thể không hấp thu được các thành phần quý giá trong đó, như thế có phải là lãng phí không? • Nhai kỹ, khí huyết trong đầu được lưu thông, do vậy não hoạt động hữu hiệu hơn. Động tác nhai còn kích thích hệ thần kinh giao cảm điều hòa, đẩy mạnh hoạt động của các tạng phủ, các tuyến nội tiết, nhịp tim và sự co dãn của mạch máu... làm cho hệ thống cơ mặt hoạt động nhiều, đó là sự luyện tập làm cho mặt linh hoạt, trẻ trung, cân đối... Hơn thế nữa, trong khi nhai chậm và kỹ sẽ làm tăng khí lực cho các trung tâm thần kinh. Do vậy nhai kỹ, nhai chậm con người sẽ thông minh hơn lên! • Điều vô cùng quan trọng là nhai kỹ sẽ làm tăng cường tiềm thức và tư duy sâu thẳm. Có lẽ vì thế mà ông cha ta đã ghép hai từ “nghiền” với “ngẫm” đi liền với nhau, nghĩa là nhai có nghiền kỹ thì ngẫm nghĩ mới sâu và khuyên rất thâm thúy: “Ăn phải nhai, nói phải nghĩ”! Thực tế cho thấy: Những người luôn ăn vội vàng, nhai không kỹ thường suy nghĩ không sâu. Trẻ bị tật bẩm sinh không có phản xạ nhai mà chỉ nuốt thức ăn, thì trí não rất kém phát triển. • Trái lại, khi ngồi nhai yên tĩnh, thư thái... chính là lúc được nghỉ ngơi, thanh thản, cũng là dịp luyện tập tính kiên trì, điềm đạm, buông xả... Tác dụng giống như thiền!
Người nói năng huyên thuyên, thường là bị rối loạn các tạng đặc nhất là gan, do ăn uống nhiều thứ thịnh Dương như trứng, thịt, muối...
• Người ngại nói, thường mắc bệnh ở các phủ rỗng như ruột, dạ dày...
• Người nói giọng mít ướt, thường do suy thận.
• Người nói giọng hùng hồn, nhưng không lưu loát là có bệnh ở tim.
• Người nói giọng nặng nề, trầm uất, thường là do phổi bị nghẽn.
“Người ăn chay theo nguyên lý Âm - Dương lâu dài thì sức lực và thần thái, tâm linh đều biến cải, tuy không béo nhưng dẻo dai, ý chí vững chắc cương nghị, óc tổng hợp sâu sắc mẫn thụ; mắt trong sáng, nhìn ngay thẳng, sắc diện tươi nhuận; cử chỉ đường hoàng, ung dung, đĩnh đạc; nói năng khúc chiết, dõng dạc; tính nết ngay thẳng, nghiêm trang; mừng giận không động tâm, nhục vinh không đổi tiết; khi thường lúc biến cũng chỉ một lòng; đối đãi thì nhu thuận, ôn hòa, đức độ, khoan thứ, khiêm cung, từ bi hỷ xả; khi lâm sự thì cương cường, dũng mãnh... y như quy luật trong Dương ngoài Âm của dịch lý vậy”.
Thông thường mọi người nghĩ rằng khi nhịn ăn, mỡ sẽ được sử dụng đầu tiên. Nhưng không phải thế! Các nhà Sinh học cho rằng: sự sinh trưởng, phát triển bất thường của các u nhọt, ung bướu... là không cần thiết cho cơ thể nên chúng không có đầy đủ cơ cấu tổ chức về thần kinh, khí huyết, hệ vi mạch như các mô bình thường. Vì thế khi nhịn ăn, không được cung cấp chất dinh dưỡng như thường lệ nữa, sức sống của chúng bị chao đảo, suy sụp... nghiêm trọng, nên: • Các tế bào của khối u, ung nhọt, (kể cả các tạp trùng và ký sinh trùng)... rất dễ bị phân hủy để lấy năng lượng cung cấp cho các hoạt động sống của cơ thể. • Mặt khác, hệ thống miễn dịch, đặc biệt các thực bào bị “đói” sẽ lồng lộn, lùng sục, tìm bắt các tế bào không bình thường (bị bệnh) để “ăn thịt”.