Note.71✤Book.191✤7/2021: CHÍNH TRỊ NHẬT BẢN
(2021) Đọc 2 cuốn sách về Nhật Bản 🕮 Tổng số sách đã đọc được: 191 quyển 1/ Cac Su Tich Cua Nguoi Nhat Ban - Khuyet Danh 2/ La Nguoi...

(2021) Đọc 2 cuốn sách về Nhật Bản 🕮 Tổng số sách đã đọc được: 191 quyển
1/ Cac Su Tich Cua Nguoi Nhat Ban - Khuyet Danh
2/ La Nguoi Nhat_ Lich Su, Thi Ca Va Kich Ban Hoc Qua Trinh Hinh Thanh Che Do Toan Tri - A. N. Mesheriakov
Vương triều Đại Chính nhất định phải trở thành vương triều vĩ đại. Mặc dù trong đạo dụ đầu tiên, theo truyền thống, ngài có phàn nàn về sự thiếu hụt lòng nhân từ của mình, phương châm cai trị vẫn thể hiện bằng hai chữ “Đại Chính”, nghĩa là “Chính nghĩa vĩ đại”. Từ này được lấy từ Kinh Dịch của Trung Quốc: “Lớn là nhờ chính nghĩa, đấy là đạo trời”. Đại Chính và quần thần của ngài đã dùng ẩn dụ đó để bố cáo cho thiên hạ biết rằng vị tân hoàng đế sẽ tiếp tục sự nghiệp vĩ đại của vương triều trước. Nhưng trên thực tế, Đại Chính mãi mãi chỉ là một cái bóng mờ của hoàng đế Minh Trị. Hành động quan trọng nhất được thực hiện ngay vào giai đoạn đầu của triều đại Minh Trị là tước quyền của Mạc phủ Tokugawa* và “phục hồi” quyền lực tuyệt đối của nhà vua, vốn đã bị các Mạc phủ tiếm đoạt từ lâu. Vì vậy, hoàng đế Minh Trị không chỉ được coi là người kế tục triều đại lâu đời nhất thế giới. Những lời ngợi ca sau khi ngài băng hà chứng tỏ rằng ngài được thần dân coi là người đặt nền móng cho một giại đoạn mới trong lịch sử Nhật Bản, giai đoạn, khi mà đất nước từ bỏ chính sách bế quan tỏa cảng và chứng minh cho thế giới thấy mình có quyền giữ vị trí vẻ vang trong nhóm các quốc gia đứng đầu thế giới. Rất nhiều đoàn đại biểu quốc tế đã đến dự đám tang của hoàng đế Minh Trị. Người Nhật cho rằng điều đó chứng tỏ uy tín quốc tế của đất nước đang ngày càng gia tăng. Chính hình ảnh của vị hoàng đế cũng đã thay đổi đáng kể. Bây giờ ngài không còn là Đại tư tế “ẩn mình trong mây” của Thần đạo nữa, ngài đã trở thành đức hóa công, thành người sáng tạo thế giới. Ngoài ra, đối với các thần dân, ngài còn là biểu tượng của đức hạnh và người bảo trợ cho nền học vấn truyền thống. Trong cuốn tiểu sử chính thức đầu tiên sau khi hoàng đế Minh Trị băng hà, người ta nói nhiều đến không chỉ công lao của ngài (trước hết là sự quan tâm đến quân đội) mà còn nhấn mạnh phẩm hạnh: tình yêu đối với phụ thân, lòng nhân ái, tiết kiệm và tài văn chương của ngài nữa
Mori Ogai (1862-1922),
Hoàng đế của chúng ta bước lên ngai vàng
Thừa kế thần mặt trờiTrời xanh vô thủy vô chung
Vinh quang thay hôm nay!
Bánh trái thơm ngon
Rượu cẩm và rượu trắng
Dâng lên đức vua thần linh
Vinh quang thay ngày lễ này!
Ngày lễ vinh quang
Vương triều chính nghĩa
Khách đến từ muôn nơi
Lời chúc mừng vang bốn phương trời!
Không thể tưởng tượng được rằng ở một đất nước nào đó lại có vị hoàng đế vừa “là cha vừa là mẹ của nhân dân”. Chỉ có đế chế Nhật Bản vĩ đại của chúng ta mới có điều đó. Không có nước nào mà người dân lại mong muốn thực hiện “trách nhiệm thần dân và trách nhiệm của một đứa con” đến mức hoàn hảo. Chỉ có đế chế Nhật Bản vĩ đại của chúng ta mới có hiện tượng như thế.
Trong đế chế Nhật Bản của chúng ta, quan hệ giữa hoàng tộc và nhân dân không phải là quan hệ giữa kẻ cai trị đáng ghét và người bị trị. Đấy là quan hệ giữa người chủ gia đình và những thành viên của chính gia đình ấy. Vì mối quan hệ như thế đã tồn tại không phải một hai thế kỉ mà trong hàng ngàn năm qua, kể từ ngày lập quốc, tư tưởng đó được truyền từ thế hệ nọ sang thế hệ kia, tạo ra tình cảm kính trọng và yêu thương đối với hoàng tộc, một tình cảm đã ăn sâu bén rễ vào đầu óc nhân dân - vào từng người dân, không có ngoại lệ, đã trở thành tính chất không thể tách rời của họ”*
Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, chính phủ lập tức kêu gọi dân chúng sám hối. Nhưng sám hối cái gì? Đánh giá tình hình chung, phải nói rằng đấy không phải là sự “sám hối” của người Đức. “Sám hối” của Nhật khác hẳn: họ không hỏi ai có lỗi trong việc gây chiến mà hỏi ai có lỗi trong việc thua trận, đã mang đến cho nhân dân Nhật Bản biết bao đau khổ. Sám hối trước những nạn nhân của các dân tộc khác, những người đã chết trong thời gian chiến tranh dưới bàn tay của người Nhật, còn ít hơn. Bức tường chia tách “mình” với “người”, chia tách những đau khổ của mình với những đau khổ của người khác, được các tư tưởng gia chuyên nói về sự độc đáo của Nhật dựng lên, đã không bị phá hủy hoàn toàn. Người Nhật hiện ra như là nạn nhân của chiến tranh nói chung chứ không phải là nạn nhân của chính cuộc chiến mà họ khơi mào nhằm chống lại nhân dân các nước khác. Những nỗi khổ đau mà chính người Nhật phải chịu là nguyên nhân chủ yếu làm họ không còn muốn chiến tranh nữa.
Người Nhật có thói quen coi cuộc đời là có số, như là số phận phải vậy. Mọi chuyện tự nó diễn ra như thế, chẳng ai có lỗi gì cả… Cái chết đã rửa sạch mọi tội lỗi… Sau khi chết linh hồn sẽ trở về với tổ tiên… Người sống phải cúng giỗ người chết… Trước đây đã là như thế. Và bây giờ cũng sẽ như thế. Chiêu Hòa tuyên bố rằng mình không phải là thần thánh. Những sĩ quan và binh sĩ bị tử hình lại biến thành thần linh. Những người làm tuyển tập đã ghi rõ ai bị tử hình ở đâu, nhưng lại không nói họ bị tội gì. Những bộ phim được sản xuất trong năm 1950 đã gọi Tojo là “kẻ cướp”, năm 1952 ông ta biến thành “Tojo tội nghiệp”, năm 1954 ông ta đã thành “người anh hùng Tojo” rồi.
Người ta nói rằng nhân dân Nhật Bản ưu việt hơn hẳn các dân tộc khác là do họ sống trong đất nước do các thần linh của Thần đạo tạo ra, người Nhật hơn hẳn các dân tộc khác ở lòng trung thành đối với vị hoàng đế của mình. Bản thân từ “người Nhật” cũng ít được sử dụng trong các giấy tờ chính thức, thay vào đó người ta hay dùng từ “thần dân Nhật Bản” (nihon shinmin) hoặc đơn giản là “thần dân”. Các nhà tư tưởng tập trung chú ý vào hoàng đế và sự liên tục của vương triều. Cái cộng đồng - tự liên kết mình với những giá trị đó - có tên là “nhân dân Nhật Bản”.
Văn hóa Nhật là nền văn hóa “lấy chết chóc làm trung tâm”. Dũng cảm và coi thường cái chết là một trong những yêu cầu quan trọng nhất của samurai. Cơ sở tư tưởng của nó là Phật giáo Thiền tông, một tông phái nói rằng tính nhị nguyên của thế giới chỉ là ảo tưởng, đối với người “đạt” đạo thì không có bất kì đối lập nào. Kể cả đối lập giữa sống và chết. Lí tưởng đó thấm vào cả quân đội.
Thế kỉ XX đã trở thành thế kỉ của những vụ tự sát ở Nhật Bản. Công nghiệp hóa thần tốc và sự thay đổi toàn bộ môi trường sống đã vắt kiệt tinh thần và làm suy giảm sức sống của con người. Các nhà văn Nhật Bản là ví dụ điển hình. 4% các nhà văn nổi tiếng nhất của Nhật Bản thế kỉ XIX và XX đã tự sát*. Trong số đó có các tên tuổi như: Kitamura Tokuku (1868-1894), Arishima Takeo (1878- 1923), Akutagawa Ryunosuke (1892-1927), Makino Shiniti (1896- 1936), Dazai Osamu (1909-1948), Hara Tamiki (1905-1951), Hino Ashihei (1907-1960), Kawabata Yasunari (1899-1972). Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới có gia đình cả cha mẹ và con cái cùng tự sát. Đất nước vẫn còn nhớ rõ nạn tự sát vào năm 1933. Nạn tự sát bùng lên từ ngày 9 tháng 1, ngày một cô học trò ở Tokyo lao mình vào dòng nham thạch núi lửa Mihara. Trong năm 1933 có 944 người tự sát bằng cách lao vào dòng nham thạch tại chính địa điểm đó. Ban giám đốc nhánh đường sắt này có thời đã cấm bán cho những người chỉ mua vé một chiều đến núi Mihara… Trong nửa đầu những năm 1930 hằng năm có tới 20 ngàn người tự sát. Trong khi đó số người chết vì tai nạn ô tô chỉ là 400.
Trong gia đình Nhật Bản thời đó mẹ thường gần gũi và thân mật với con trai hơn là bố. Đấy một phần là do khi còn bé đứa trẻ thường tiếp xúc trực tiếp với mẹ (ban đêm đứa trẻ ngủ cùng giường với mẹ còn ban ngày thì mẹ địu con trên lưng). Bố là hiện thân của thái độ nghiêm khắc đầy công tâm, con gái không được chú ý lắm vì chúng sẽ phải đi lấy chồng, sẽ rời khỏi gia đình. Quan hệ vợ chồng không chỉ dựa trên “tình yêu” theo cách hiểu của phương Tây mà còn dựa trên nghĩa vụ đối với nhau. Đàn ông có quyền quan hệ với gái làng chơi, khi người đàn ông còn chăm sóc gia đình thì những mối quan hệ như thế không bị coi là vi phạm trách nhiệm trong quan hệ vợ chồng. Theo quan niệm của thời ấy thì hôn nhân không phải chỉ vì tình yêu và khoái lạc mà còn để duy trì nòi giống và nuôi dạy con cái. Việc xuất hiện cuốn Người mẹ Nhật Bản là hiện tượng cực kì đặc trưng. Không ai nghĩ đến việc làm cuốn Người vợ Nhật Bản. Hình ảnh người đàn bà khóc chồng chỉ nằm ở vị trí ngoại vi của vô thức xã hội mà thôi. Còn phóng viên tờ Tokyo Nichi Nichi Shimbun (11.03.1942) đã ghi lại cảm xúc của người mẹ khi biết tin con chết thông qua một cuộc đối thoại nội tâm như sau: “Không được khóc. Naokharu đã không còn là con mình nữa. Naokharu đã trở thành thánh, cho nên mẹ sẽ vui mừng vì con đã chết ở chiến trường”. Các bà mẹ nuôi con không phải để sống mà để chết. Chết cho hoàng đế. Người ta thuyết phục họ rằng cuộc đời hay cái chết của người con đều là hành động mang tính xã hội chứ không phải mang tính gia đình. Nhà nước-gia đình đã giết chết gia đình bình thường một cách nhẹ nhàng.
“Át chủ bài” của người Nhật là “tinh thần”, một tinh thần có một không hai, thể hiện trước hết là ở lòng trung thành với hoàng đế của mình. Ranh giới giữa “vật chất” và “tinh thần”, giữa “ngoại giới” và “nội tâm” được vạch ra một cách rất rõ ràng. Khác với nước Đức quốc xã và Liên Xô, người Nhật không “sùng bái xác thịt”. Các họa sĩ Nhật không vẽ cơ bắp của những vận động viên thể thao, không vẽ những người công nhân và nông dân đầy khí thế, không vẽ những bắp thịt cuồn cuộn lấp lánh những giọt mồ hôi
“Theo ý nguyện của người dựng nước, Đế chế Nhật Bản vĩ đại là do một vương triều đã cai trị trong suốt nhiều thế kỉ. Đấy là bản chất vĩnh hằng của nhà nước ta. Dựa trên nguyên tắc vĩ đại đó, toàn thể nhân dân ta, thống nhất bằng cả trái tim và khối óc, như một gia đình lớn và tuân theo ý nguyện của hoàng đế, nguyện thực hiện những phẩm hạnh tốt đẹp nhất của thần dân và của người con ngoan. Đấy là sự vĩ đại của nhà nước ta. Bản chất của thể chế là nền tảng vĩnh hằng và bất biến của đất nước ta, ánh hào quang của nó rạng rỡ trên suốt chiều dài lịch sử của chúng ta. Được củng cố cùng với sự phát triển của nhà nước, bản chất của nhà nước ta cũng rộng rãi vô biên, như Trời và Đất vậy”
Itako là những nữ pháp sư mù, vì thế Anna được coi là một trường hợp khá đặc biệt khi trở thành một itako. Thông thường, các itako thường bị mù bẩm sinh hoặc do gặp một tai nạn nào đó. Giống như trường hợp của bà Kino, những người này có rất ít sự lựa chọn, và việc trở thành một itako giúp cho họ có một cuộc sống ổn định hơn.Các thiếu nữ trẻ muốn trở thành itako phải trải qua một quá trình rèn luyện khắc nghiệt dưới sự hướng dẫn của một itako nhiều kinh nghiệm. Chỉ sau lễ kamizukeshiki hay sự kết hôn với thần linh thì một người mới được coi là một itako. Một itako tập sự phải mặc kimono trắng trong suốt 100 ngày trước nghi lễ. Sự thanh khiết tuyệt đối được coi là bắt buộc để đạt được trạng thái tinh thần hoàn hảo nhất. Trong thời gian này một itako phải trải qua hàng loạt các nghi thức chuẩn bị, và họ phải học thuộc các bài thần chú. Suốt ba tuần trước khi buổi lễ diễn ra, các itako tập sự phải ăn chay hoàn toàn. Khi bắt đầu làm lễ, một itako thực tập được mặc như một cô dâu để đánh dấu lễ cưới với thần linh. Nghi lễ này được kéo dài trong tiếng trống và tiếng chuông nhằm giúp cho itako đạt được sự tập trung cần thiết để đạt tới trạng thái xuất thần. Trong lúc đó thì các itako lớn tuổi hơn sẽ ngồi quây xung quanh và tụng các bài kinh. Nghi lễ có thể kéo dài nhiều ngày không nghỉ cho đến khi itako đạt được trạng thái xuất thần. Khi đó, các itako lớn tuổi sẽ tiếp tục các nghi thức truyền thống để thừa nhận một itako mới.
Yuki- Onna - Bóng Trắng Trong Đêm Tuyết Phủ "Ngày xửa ngày xưa, có hai người tiều phu là Minokichi và Mosaku. Minokichi còn trẻ, còn Mosaku đã rất già rồi. Minokichi và Mosaku Một ngày mùa đông, họ không thể về nhà vì mắc một trận bão tuyết. Họ tìm thấy một túp lều trong núi và quyết định nghỉ lại tại đó. Vào cái đêm đặc biệt đó, Minokichi tỉnh dậy và nhìn thấy một cô gái tuyệt đẹp trong bộ trang phục trắng toát. Nàng hà hơi lên ông già Mosaku và ông đã bị lạnh cóng cho tới chết. Yuki- onna tấn công Mosaku Rồi nàng tiến tới gần Minokichi, chuẩn bị hà hơi vào người anh, nhưng rồi lại đăm đăm nhìn anh một lúc, và nói: "Ta nghĩ sẽ giết ngươi, như đã giết ông già kia, nhưng ta sẽ không làm thế, vì ngươi còn trẻ và đẹp trai. Ngươi không được kể với bất cứ ai về sự việc này. Nếu dám hé lời với ai về ta, ta sẽ giết ngươi." Vài năm sau, Minokichi gặp một cô gái trẻ xinh đẹp tên là Oyuki (yuki có nghĩa là "tuyết") và cưới nàng. Nàng là một người vợ rất đảm đang. Minokichi và Oyuki có với nhau vài đứa con và sống hạnh phúc nhiều năm liền. Nhưng có một điều khó hiểu là, nàng không hề già đi. Minokichi sống hạnh phúc bên Oyuki Một đêm, sau khi các con đã ngủ say, Minokichi nói với Oyuki: "Mỗi khi thấy nàng, ta lại nhớ lại một sự việc kỳ bí đã xảy ra với ta. Khi còn trẻ, ta đã gặp một phụ nữ xinh đẹp như nàng vậy. Ta không biết đó là một giấc mơ hay cô ta chính là Yuki- onna..." Phản ứng của Oyuki sau khi nghe câu chuyện chồng kể Sau khi kết thúc câu chuyện, Oyuki đột ngột đứng dậy, và nói "Người phụ nữ ngươi đã gặp đó chính là ta! Ta đã nói rằng ta sẽ giết ngươi nếu ngươi dám kể với bất cứ ai về sự việc đó. Tuy nhiên, ta không thể giết ngươi vì bọn trẻ. Hãy chăm sóc những đứa con của chúng ta..." Rồi nàng tan ra và biến mất.Sau đó, không ai gặp lại nàng nữa." Yuki- onna mặc dù bị mang tiếng là rất độc ác, nhưng bản thân nàng cũng cô đơn và lạnh lẽo như tuyết vậy. Có chuyện còn kể rằng, Yuki- onna đã lấy một người đàn ông, cũng nhờ sự kiện vào một đêm bão tuyết. Nhưng khi mùa xuân tới, thời tiết ấm dần lên, Yuki- onna cứ héo mòn dần. Và đến một ngày, khi chồng gọi, nàng đã không còn có thể trả lời. Người chồng vào bếp tìm và phát hiện ra bộ kimono nàng thường mặc nằm trên một vũng nước.
Kappa được miêu tả như một tiểu yêu, một quái vật cao cỡ như đứa trẻ bốn hoặc năm tuổi nặng khoảng trên dưới 20kg, hình dạng gần giống loài tinh tinh, đầu bờm xờm tóc, mũi dài khoằm, mặt và mắt tròn, có râu màu nâu dưới cằm, da xanh xám có thể thay đổi màu sắc tùy theo môi trường, tay chân có 5 ngón và có màng, bụng có một chiếc túi đựng đồ vật, thân thể có mùi tanh như cá. Kappa sống được cả ở dưới nước và trên cạn. Trên đỉnh đầu có một cái đĩa hình bầu dục đựng nước, khi lên trên cạn nếu cái đĩa này còn đầy nước thì Kappa vẫn còn có sức mạnh. Kappa rất thích ăn dưa chuột, trứng, táo và cả gan người. Môi trường sống của kappa chủ yếu là ở các dòng sông, kênh nước nên Kappa là một con vật bơi rất giỏi, nhưng cũng rất nhanh nhẹn khi lên trên cạn. Kappa được biết đến với hành động lôi người xuống nước và rút gan của họ qua đường hậu môn. Chúng thường gọi nhau bằng âm điệu "quắc, quắc". Nếu trêu trọc chúng sẽ khóc như một đứa trẻ, nếu làm vừa lòng chúng sẽ đền ơn. Mặc dù kappa thỉnh thoảng hãm hại mọi người, nhưng cũng có những câu chuyện về việc Kappa giúp con người. Kappa trong văn hóa Nhật Bản Trong đời sống văn hóa của người Nhật Bản Kappa hiện hữu trong nhiều trường hợp, Kappa bơi lội rất giỏi nên người ta hay ví những người bơi giỏi là kappa. Cũng có một câu thành ngữ là "Kappa no kawa nagare" nghĩa là "thậm chí bơi giỏi như kappa cũng có lúc chết đuối". Vì kappa thích ăn dưa chuột, ngày nay trẻ em thôn quê Nhật Bản trước khi ra sông bơi thường quẳng dưa chuột xuống sông làm lễ vật lấy lòng kappa, tránh khỏi bị chúng trêu ghẹo. Trong ẩm thực Nhật có một món Sushi cuộn dưa chuột có tên là kappa maki. Kiểu tóc "Okappa" là một kiểu tóc ở Nhật Bản vì nó trông giống tóc bù xù của loài kappa. Kappa còn là một nhân vật phổ biến trong nhiều truyện tranh (emaki), truyện ngắn, phim hoạt hình của Nhật Bản. Du khách tới Nhật có thể thêm mục đi tìm kappa trong chương trình thăm thú ngoạn cảnh của mình, bằng cách đến vùng Mito hay đi bơi ở trên sông Oise gần Nagoya. Và đặc biệt, Kappa là nhân vật chính trong tiểu thuyết trào phúng xuất sắc mang tên Kappa của nhà văn Nhật Bản Akutagawa Ryunosuke (1892- 1927). Trong truyện Tây Du Ký (phiên bản của Nhật), nhân vật Sa Tăng là một kappa.
Tưởng rằng chỉ có trong truyền thuyết, nhưng ít ai ngờ, xác ướp của những sinh vật nửa người nửa cá vẫn còn lẩn khuất đâu đó trong nhiều đền thờ, miếu mạo cổ kính của đất nước mặt trời mọc. Xác ướp người cá tại đền Karukayado. Người cá là một trong số ít những biểu trưng của sự giàu sang, phú quý, sức khỏe... được người dân Nhật Bản tôn sùng. Trở về thành cổ Edo của thế kỷ 18 - 19 (cố đô Tokyo hiện nay), có thể thấy hình ảnh người cá là vật thờ không thể thiếu trong các lễ hội misemono. Thậm chí cả trong các lễ hội ở châu Âu và châu Mỹ những năm 1800, theo lịch sử còn ghi lại, người cá đã sớm trở thành tâm điểm thu hút của đông đảo dân chúng hiếu kỳ. Nổi tiếng nhất thời bấy giờ là người cá Barnum's Feejee, được cho là "tác phẩm nhân tạo" của một ngư dân Nhật Bản vào khoảng năm 1810. Bàn tay nghệ nhân này đã khéo léo lắp ghép đầu và nửa thân trên của khỉ vào khúc đuôi của 1 con cá cùng kích cỡ, tạo nên 1 "mỹ nhân ngư" có thật và hoàn chỉnh. Người ta cho rằng, nhiều đền chùa cổ kính của Nhật Bản vẫn còn bảo quản và cất giấu xác ướp của người cá đến tận ngày nay. Bức ảnh trên được chụp tại chùa Zuiryuji ở Osaka. Theo đồn thổi, mỹ nhân ngư này là món quà của 1 thương gia vùng Sakai tặng riêng cho sư trụ trì vào năm 1682. Ngoài ra, ngôi chùa cổ này còn lưu giữ xác ướp của 1 kappa (truyền thuyết kể rằng sinh vật này có mình vượn, mỏ ếch, chân tay giống rùa) và 1 con rồng nhỏ. Một xác ướp khác hiện đang được bảo tồn tại đền Myouchi, thuộc thành phố Kashiwazaki, tỉnh Niigata. Với độ dài khoảng 30 cm, người cá này có một cử chỉ... chưa ai giải thích nổi: hai tay chống lên ôm lấy cằm. (Có vẻ như đây là tư thế thường gặp ở các xác ướp người cá). Vị sư trụ trì thường cất giữ "bảo bối" của ngôi đền trong 1 hộp gỗ nhỏ, hiếm ai có cơ may chiêm ngưỡng tận mắt trừ khi là khách quý. Tiếp theo là người cá tại đền Karukayado, ngoại ô thành phố Hashimoto thuộc tỉnh Wakayama. Dài 50cm, miệng há rộng để lộ ra ít ỏi mấy chiếc răng nhọn hoắt còn sót lại, hai tay cũng giơ cao ôm má. Phần đuôi vẫn nguyên dấu tích của vẩy cá, còn trên ngực thì hiển hiện rõ nét "di chỉ" của 2 núm vú. Trong tấm ảnh trên, phía bên trái là bức hình chụp mỹ nhân ngư cao tuổi nhất, có kích cỡ nhất còn sót lại ở Nhật Bản. Với 1.400 năm tuổi, dài 170 cm, hiện người cá này là vật linh của môn phái Shinto, tụ hội ở Fujinomiya dưới chân núi Phú Sĩ. Mỹ nhân ngư Shinto có chiếc đầu hói và lớn bất thường. Mắt và miệng há rộng, tay có màng như tay ếch và móng vuốt sắc nhọn, đuôi dài khoảng 20 cm. Cấu trúc xương ở nửa thân dưới giống hệt xương cá, tuy nhiên không rõ nửa thân trên có xương hay không. Đáng tiếc, cho đến nay mỹ nhân ngư đã bị sâu mọt đục ruỗng khá nhiều. Thêm một điều thú vị, một trong những sáng lập viên đầu tiên của trường ĐH danh tiếng Nagoya, một trong những người tiên phong đưa thuốc Tây vào Nhật Bản, người phát minh ra vắc xin bệnh đậu mùa - ngài Keisuke Ito (1803 - 1901) - đồng thời cũng là người nổi tiếng với những bức họa người cá đẹp nhất. Chiêm ngưỡng một số tác phẩm của ông còn lưu lại, người ta có thể cảm nhận sự hiện diện của người cá chân thực đến độ nào.
Truyền thuyết Kuchisake- Onna(Khẩu liết nữ) magnify Kuchisake- onna ( Kuchisake- onna) (Người đàn bà miệng bị rạch) được nhắc đến trong cả Thần học Nhật Bản lẫn trong những phiên bản hiện đại của sự tích về những người phụ nữ, bị những người chồng hay ghen làm tổn thương, họ đã biến thành những linh hồn hiểm độc và tái diễn lại những gì họ phải chịu đựng lúc còn sống. Truyền thuyết Truyền thuyết về Kuchisake- Onna được cho là bắt nguồn từ một người phụ nữ trẻ sống hàng trăm năm về trước (một số dị bản cho rằng nó bắt nguồn từ triều đại Heian) và là vợ hoặc thiếp của một Samurai. Người ta nói rằng cô ta rất đẹp, nhưng cũng rất kiêu căng, và thường xuyên lừa chồng. Người võ sĩ Samurai cảm thấy như mình bị ngoại tình, anh ta ghen đến cực độ, anh ta đã tấn công vợ, vừa rạch miệng bà ra đến tận hai mang tai, vừa thét "Giờ thì còn đứa nào cho rằng mày đẹp nữa?" Truyền thuyết trong thành phố dựa vào điểm này, kể về một người đàn bà đi chơi lang thang trong đêm (đặc biệt là những đêm đầy sương mù), với khuôn mặt được che kín mạng, cũng không có gì là quá bất thường, vì người ốm cũng thường che mạng để khỏi lây sang người khác. Khi gặp một ai đó (chủ yếu là trẻ con hoặc học sinh), bà ta sẽ bẽn lẽn hỏi, "Watashi wa kirei?" ("Trông tôi có đẹp không?") hoặc một câu hỏi tương tự. Nếu người đó nói có (câu trả lời thông thường), bà sẽ bỏ mạng che ra, để lộ cái miệng bị rạch toét và hỏi lại cũng câu hỏi đó. Nạn nhân thường sẽ bỏ chạy và la hét, và Kuchisake- Onna sẽ đuổi theo sau, mang theo một thứ vũ khí sắc nhọn (mà tranh minh họa trong manga phía trên là lưỡi hái). Nếu tóm được người đó, thì kết cục sẽ tùy thuộc vào giới tính của nạn nhân: là đàn ông thì sẽ bị giết ngay tức khắc, còn nếu là đàn bà sẽ bị biến thành một Kuchisake- Onna khác, và bị nguyền rủa sẽ phải nối tiếp nỗi kinh hoàng đó. Truyền thuyết nói rằng nếu nói có ở câu trả lời thứ hai sẽ làm Kuchisake- Onna cười và để người đó được yên, còn rất nhiều dị bản khác thì nói rằng những Kuchisake- Onna hay ngượng sẽ không làm thế. Cách chắc chắn để thoát, dựa trên tất cả các phiên bản của truyền thuyết, là đánh lạc hướng Kuchisake- Onna bằng cách ném kẹo, hoa quả hoặc một vật gì đó hấp dẫn. Truyền thuyết trong thành phố và những nỗi kinh hoàng chung Vào khoảng mùa xuân và mùa hè năm 1979, những lời đồn đại đầy rẫy khắp Nhật Bản về việc có người đã thấy Kuchisake- Onna đang săn đuổi bọn trẻ. Tuy nhiên, câu chuyện này có lẽ chỉ là trường hợp một người đàn bà tấn công trẻ con nơi công cộng, mặc dù chưa được thừa nhận. Năm 2004, một truyền thuyết tương tự phổ biến khắp các thành phố thuộc Hàn Quốc, nhưng sự việc này có lẽ cũng bắt nguồn từ truyền thuyết năm 1979 ở Nhật Bản, cũng giống như bộ phim Nhật phát hành năm 1996.
Như thường lệ, buổi sáng giáo sư Ueno Eizaburo đi bộ tới nhà ga Shibuya, theo sau là chú chó trung thành Hachi, có nick name là Hachiko. Hachiko không được phép theo giáo sư đến Đại Học Hoàng Gia ( nay là Đại Học Tokyo ), nơi ông đang giảng dạy. Nhưng chiều cũng vậy, cứ đến 3h, Hachiko lại ra nhà ga đợi giáo sư. Nhưng vào ngày 12 tháng 5 năm đó, giáo sư Ueno đã qua đời sau một cơn đột quỵ khi đang ở trường đại học và mãi mãi không thể trở về được. Còn Hachiko như mọi ngày, vẫn đến nhà ga vào lúc 3 giờ chiều để đón chủ nhân. Nhưng hôm đó đã qua 3 giờ rất lâu, bao nhiêu chuyến tàu đã đi qua, trời đã tối mà không thấy giáo sư về. Và Hachiko, chú cho trung thành không hề nản lòng, Hachiko vẫn đứng đợi và đợi.Hachiko linh cảm rằng có chuyện gì chẳng lành đã xảy ra, tuy vậy nó vẫn ra ga đợi chủ nhân vào lúc 3h chiều mỗi ngày. Chẳng bao lâu sau, những người xung quanh bắt đầu để ý tới sự chờ đợi vô vọng của của Hachiko đối với người chủ nhân đã qua đời của mình. Lần lượt, từ người làm vườn trước đây của giáo sư, đến giám đốc nhà ga và những người dân trong vùng đã cho Hachiko ăn và thay phiên nhau chăm sóc nó. Câu chuyện về chú chó trung thành nhanh chóng được lan truyền khắp nơi và Hachiko được coi như một tấm gương sáng về lòng trung thành. Người ta tìm đến Shibuya chỉ để nhìn Hachiko, cho nó ăn, hoặc nhẹ nhàng xoa đầu vào đầu nó để chúc may mắn. Nhiều ngày, nhiều tháng, rồi nhiều năm trôi qua, Hachiko vẫn có mặt đều đặn ở nhà ga vào lúc 3h chiều, mặc dù nó đã bị bệnh viêm khớp và đã quá già yếu rồi. Cuối cùng vào ngày 7 tháng 3 năm 1934, gần 10 năm kể từ ngày nó nhìn thấy chủ nhân lần cuối cùng, người ta tìm thấy Hachiko - lúc đó đã 12 tuổi - nằm gục chết tại chính cái nơi mà nó đã đứng đợi chủ nhân của mình trong suốt nhiều năm. Cái chết của Hachiko được đăng lên trang nhất của rất nhiều tờ báo lúc bấy giờ và người đã dành hẳn một ngày để để tang Hachiko. Từ số tiền đóng góp của dân chúng trong cả nước, người ta đã thuê nhà điêu khắc Ando Teru để làm một bức tượng Hachiko bằng đồng. Vào tháng 4 năm 1934, bức tượng được hoàn thành và được đặt trang trọng ở bên trong sân ga, tại chính vị trí nó đã đứng đợi chủ nhân trong gần 10 năm. Tuy nhiên, vài năm sau đó, Nhật Bản lâm vào chiến tranh, tất cả những thứ gì là kim loại đều bị lấy đi để làm vũ khí, không ngoại trừ bức tượng Hachiko. Sau khi chiến tranh kết thúc, vào năm 1948, con trai của Ando Teru là Takeshi đã làm một bức tượng Hachiko mới. Bức tượng đó được đặt ở ga Shibuya cho đến tận ngày hôm nay. Bên cạnh mộ của giáo sư Ueno tại nghĩa trang Aoyama cũng có đặt một bức tượng của Hachiko. Có nhiều tin đồn rằng xương của Hachiko cũng được chôn tại đó. Nhưng thực ra bộ xương của Hachiko hiện đang được trưng bày tại Viện Bảo tàng Quốc Gia. Còn tại nhà ga Shibuya, chú chó trung thành Hachiko vẫn đứng đó, mãi mãi chờ đợi chủ nhân của mình. Nơi đó, ngày nay còn được biết đến như một điểm hẹn ở Shibuya, nơi người ta đến đó và ngồi đợi bạn của mình.
Ngày xưa ở xứ phù tang chưa có hoa anh đào như bây giờ. tại một ngôi làng xinh xinh ven núi phú sĩ,có một chàng trai khôi ngô tuấn tú dũng cảm khác thường.năm chàng mới tròn một tuổi,có một đạo sĩ phiêu bạt ghé qua nhà,nhìn cậu bé, mỉm cười đặt vào tay người cha thanh sắt đen bóng rồi lặng lẽ ra đi.lúc đấy đang mùa đông tuyết rơi tầm tã vị đạo sĩ đi khuất trong mưa tuyết rồi mà người cha vẫn thẫn thờ nhìn trông theo.đặt thanh kiếm vào tay người vợ trẻ,ông nói như thì thầm:"hãy cất kỹ và giao thanh sắt này lại cho con trai chúng ta khi nó tròn 14 tuổi.số phận đã an bài nó trở thành một kiếm sĩ lừng danh" Cha cậu bé qua đời.người vợ trẻ ở vậy nuôi con.thanh sắt đen bóng được giao lại cho chàng trai năm cậu tròn 14 tuổi.cậu rùng mình vuốt ve kỹ vật huyền bí nặng nề ấy.một sức mạnh kỳ lạ, một khát khao khó hiểu tràn ngập vào cơ thể tươi non dũng mãnh của cậu.người mẹ chưa kịp nói gì thì cậu đã run rẫy thốt lên trong cảm xúc nghẹn ngào:"ta phải trở thành một kiếm sĩ nổi tiếng nhất đất nước này". Chàng trai đến rạp đầu xin thụ giáo một võ sĩ đạo lừng danh.vị samurai ngắm nhìn chàng trai từ đầu đến chân,trầm ngâm suy tư bất động hàng giờ liền.cuối cùng ông thở dài lẩm bẩm một mình "oan nghiệt" và chấp thuận thời gian thấm thoát thoi đưa,tuổi 18 thanh xuân tràn trề sức sống đến với người kiếm sĩ.tay kiếm của chàng khiến những samurai kiêu hùng nhất cũng phải e dè.nhưng còn thanh sắt?chàng đã tự mình rèn nó thành thanh kiếm sáng ngời đầy uy lực. Nhưng chưa được.một thanh kiếm báu thực sự phải được tắm mình trong máu ngay trong ngày khai trận.biết nhúng lưỡi thép uy lực này vào máu ai khi chàng chưa hề có kẻ thù,khi chàng chưa hề đối mặt với kẻ cướp,khi chàng chưa tìm được bất cứ lý do gì để quyết đấu một phen? lúc này người mẹ và người thầy của chàng đã khuất núi.cô gái duy nhat của vị võ sư lừng danh năm xưa là người thân yêu còn lại duy nhất của chàng.mỗi ngày khi nắng đã tàn lụi trên phú sĩ sơn,đêm đã tràn ngập trên xóm núi,cô gái lại buồn bã nhìn chàng ngồi bất động,trầm tư bên bếp lửa.chàng không còn cười nữa, mắt chàng lạnh như tuyết,chàng ôm thanh kiếm mà ước mơ ngày nó được tắm mình trong máu để trở thành bảo kiếm vô địch thiên hạ - anh thân yêu!có phải chăng đối với anh thanh kiếm này là tất cả?nếu nó không được tắm mình trong máu để ngập trong khí thiêng thì anh sẽ mãi mãi buồn đau? Nhìn vào bếp lửa,chàng trai vuốt ve thanh kiếm trong lòng và nói chậm rãi rất quả quyết - chỉ buốn đau thôi ư?không đâu!đối với anh,thanh kiếm là sự nghiệp,là cuộc sống,là tất cả.....làm sao anh có thể coi mình là một võ sĩ đạo chân chính khi thanh kiếm của anh chưa từng no say trong máu?trời ơi!anh chết mất!sao thời buổi này yên bình đến thế?sao không có kẻ cướp nào thúc giục anh xuống kiếm.không có kẻ cuồng ngông nào thách đấu với anh? Cô gái mỉm cười đau đớn.cô chỉ hỏi để khẳng định quyết tâm của mình thôi- anh thân yêu!cho em được cầm lấy thanh kiếm của chàng một chút thôi Cầm thanh kiếm đen bóng,sắc lạnh cô gái nhìn chàng bằng ánh mắt buồn thăm thẳm rồi đột ngột đâm thẳng vào tim.máu trào ra ướt đẫm tấm thân mảnh dẻ của nàng,nhuộm hồng chiếc áo kimono trắng nõn,trinh bạch. Chàng trai hốt hoảng rú lên kinh hoàng,vươn tay rút phăng thanh kiếm khỏi lồng ngực cô gái.dưới ánh lửa bập bùng,thanh kiếm ngời sắc xanh rực rỡ,hào quang loé lên lộng lẫy lạ thường:nó đã được no mình trong máu! Nhưng từ đó,chàng trai hoàn toàn cô độc.không samurai nào thèm kết bạn với anh.họ nhìn sang chỗ khác khi đối mặt trên con đường hẹp.họ rời khỏi quán trà khi anh bước vào.họ từ chối khi anh thách đấu...cho đến một hôm,một buổi chiều mùa đông,khi những bông tuyết đầu mùa vừa rơi,chàng trai ôm thanh kiếm đến bên mộ cô gái.chàng thì thầm:"tha lỗi cho anh.anh đã hiểu ra rồi..."chàng bình thản cắm sâu mũi kiếm vào bụng rạch một đường mạnh mẽ và rút kiếm ra phủ gục bên cạnh mộ.thanh bảo kiếm cắm sâu vào mộDất....tuyết không ngừng rơi....đến sáng,tuyết đã ôm trọn chàng trai và ngôi mộ vào vòng tay của mình.chỉ còn lại một cây hoa lạ,mơn mởn vươn lên tươi cười,hồng thắm.không ai biết hoa hoá thân từ thanh kiếm ấy.người ta dặt tên hoa là Anh đào.hoa anh đào có nhiều loại mọc được ở nhiều nơi.nhưng không nơi đâu đẹp bằng hoa đươc ươm mầm và trổ bông ở vùng phú sĩ sơn.

Sách
/sach
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

