Những nỗ lực tiếp cận công nghệ Laser trước đây của Việt Nam
Công nghệ Laser Việt Nam, quá trình hình thành và phát triển.
Trong lịch sử phát triển hơn nửa thế kỷ của công nghệ Laser, Việt Nam đã nhiều lần hụt tay khi với tới nó. Tuy nhiên, thành quả của nó là việc đã có một số ít đơn vị Việt Nam đủ năng lực tham gia các khâu trong công nghệ này (Ngoài việc đơn thuần chỉ buôn bán thiết bị). Và chỉ có gần như duy nhất một đơn vị có khả năng chế tạo thiết bị này nội địa.

Một nghiên cứu lý thuyết táo bạo về canon laser trên vũ trụ từ thời Liên Xô. Tuy nhiên do tình hình kinh tế chính trị đặc biệt thời đó nên các công nghệ laser này không phải thuộc các công nghệ cho mục đích hòa bình mà Việt Nam cần hướng tới.
Những bước đi chập chững của Việt Nam công nghệ Laser trong tổng thể bức tranh hiện đại hóa.
Có lẽ các độc giả sẽ thích tìm hiểu hơn về:
+ 'Lược sử lý thuyết Laser'
+ Làm quen với một số khái niệm cốt lõi trong lĩnh vực Laser
Tuy nhiên ở phần này, chúng ta sẽ:
+ Khám phá các tiềm năng ứng dụng của công nghệ Laser
+ Nhận thấy lý do vì sao các quốc gia hùng mạnh lại đầu tư mạnh mẽ và gặt hái thành công vượt bậc nhờ việc phát triển nó
Trong giai đoạn chiến sự, Lực lượng Vũ trang Việt Nam đã tiếp xúc trực tiếp với những hệ thống vũ khí Laser sơ khai do Hoa Kỳ triển khai. Mặc dù những trang bị này còn nhiều thiếu sót, chúng vẫn tạo ra những trở ngại đáng kể cho quân và dân ta. Chính từ kinh nghiệm thực chiến đó, các chuyên gia kỹ thuật quốc phòng đã nhận định ban đầu về ý nghĩa then chốt của công nghệ này.
Nó được bắt nguồn từ giai đoạn đua tranh kín đáo về lĩnh vực khoa học công nghệ giữa hai cường quốc hàng đầu là Hoa Kỳ và Liên Xô, cuộc đối đầu được gọi tắt là Chiến Tranh Lạnh. Liên Xô, dựa trên hệ tư tưởng Chủ nghĩa Xã hội (CNXH), đã khởi xướng/triển khai dự án Intercosmos. Sáng kiến này có sự chung tay của toàn bộ các quốc gia Xã hội Chủ Nghĩa nhằm mục đích:
+ Thực hiện các chuyến thám hiểm không gian.
+ Xác lập nền tảng cho tiến bộ nhân loại sau này (tất nhiên từ kinh tế đến xã hội).
Xuất phát từ tầm nhìn chiến lược đó, công nghệ Laser đã được lựa chọn là một trong những mũi nhọn chủ lực . Nhờ ứng dụng kỹ thuật Laser, các chuyên gia/kỹ sư hàng không vũ trụ có thể:
Chế tạo/sản xuất những thành phần/bộ phận chi tiết với độ chuẩn xác cao trong tên lửa, tàu con thoi, và các thiết bị nghiên cứu được vận chuyển lên không gian.
Đáng chú ý nhất là vai trò của Laser trong máy in thạch bản nhằm tạo ra các vi mạch và con chip với độ tinh vi tuyệt đối.
Sử dụng Laser cường độ lớn/năng lượng cao trong hệ thống phòng vệ (thay cho 'phòng thủ') tên lửa, bảo vệ cả vị trí phóng, các thiết bị bay (thay cho 'vệ tinh') và chính bản thân vệ tinh.
Thậm chí, ngay cả trang phục bảo hộ ngoài không gian cũng cần thiết được cắt gọt bằng Laser. Bộ đồ đặc biệt này mang nhiều tính năng ưu việt, khiến không một dụng cụ cắt thông thường nào có thể xử lý được. Nó buộc phải cung cấp đủ khả năng che chắn cho phi hành gia khỏi các thiên thạch cỡ nhỏ. Đồng thời, nó phải bảo vệ họ trước mức bức xạ mặt trời cao hơn bình thường. Và tất nhiên, quá trình làm sạch/tẩy trắng nó sẽ cần đến các phương pháp ít gây kích ứng da nhất có thể để tạo sự thoải mái/dễ chịu khi sử dụng nó ngoài không gian và thực hiện những động tác phức tạp.
Theo đó, Việt Nam là một quốc gia thuộc Khối Xã hội Chủ nghĩa sớm nhất tiếp cận những thành tựu công nghệ này. Tuy vậy, việc dấn thân sâu vào quá trình nghiên cứu và phát triển lĩnh vực kỹ thuật này tại thời điểm đó đã vấp phải nhiều luồng ý kiến phản đối/phản kháng. Lý do chủ yếu là do:
+ Trình độ dân trí trung bình của người dân còn hạn chế
+ Các nhiệm vụ tái thiết kinh tế và cải thiện sinh kế người dân mang tính cấp bách hơn, đòi hỏi nguồn chi lớn hơn so với các chương trình phát triển có tầm nhìn dài hạn .
+ Các mâu thuẫn/rạn nứt chính trị-xã hội sau chiến tranh vẫn gây ảnh hưởng sâu sắc trong cả cộng đồng người dân lẫn giới lãnh đạo chính trường (thay cho 'Các rạn nứt chính trị xã hội sau chiến tranh còn ảnh hưởng sâu đậm trong cả nhân dân lẫn chính giới.').
+ Tồn tại những quan điểm chính trị bảo thủ và thậm chí là các mưu đồ nhằm hạn chế sự tiến bộ kỹ thuật vượt trội và chiến lược “đi tắt đón đầu” của Việt Nam .

Laser trong phẫu thuật mắt

Laser trong phẫu thuật não
Đó là giáo sư Trần Đức Hân, người đầu tiên nghiên cứu thành công Laser CO2 trong phòng thí nghiệm. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Minh Thái – chủ nhân/người sáng chế thiết bị nguyên mẫu về laser bán dẫn có công suất thấp dùng trong lĩnh vực y học và sinh học. Hiện nay, thiết bị này đã được áp dụng thành công ở phạm vi nhỏ tại một số cơ sở y tế ở Việt Nam. Mặc dù vậy, để tiến hành sản xuất trên quy mô lớn và triển khai thương mại trên toàn thế giới thì vẫn cần nhiều nguồn lực và giải pháp .
PGS.TS Trần Công Duyệt - Chủ tịch LCH laser y học trong nội khoa và ngoại khoa.
Hướng đi nào cho công nghệ Laser của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay ?
Như vậy vai trò của Việt Nam trong chuỗi giá trị Laser toàn cầu là:
Nơi đỡ đầu cho các doanh nghiệp nhỏ khởi nghiệp trên toàn cầu. Vì nguồn tài nguyên của chúng ta rất nhỏ và các công đoạn cao trong chuỗi giá trị hiện nay đã thuộc sở hữu trí tuệ của các công ty, tập đoàn và tổ chức kinh tế lớn trong cả kinh tế và quốc phòng.
Và chúng ta cũng cần phải đảm bảo các điều kiện về:
+ An ninh an toàn và bảo mật,
+ Tài chính
+ Sở hữu trí tuệ
… cho các doanh nghiệp này.
Tất nhiên, trong số đó có cả các doanh nghiệp Việt Nam.
Riêng với vấn đề an ninh, quốc phòng, cần xem xét đến các yếu tố chính trị dài hạn. Vì nếu chọn sai đối tác thì sẽ biến Việt Nam thành đối tượng cung ứng cho các nhóm vũ trang chính trị gây bất ổn trên thế giới. Điều đó ảnh hưởng lớn tới danh tiếng và uy tín của Việt Nam trên trường Quốc Tế.
Các doanh nghiệp thuần túy tư nhân, hoạt động vì mục đích dân sự thông thường, vẫn có khả năng bị yêu cầu bàn giao sản phẩm trí tuệ để hỗ trợ an ninh quốc phòng trong nhiều tình huống. Do đó, việc chuẩn bị sẵn các biện pháp và quy trình an ninh an toàn cần thiết trong việc giao dịch các vật liệu thô dùng để chế tạo laser là tối quan trọng.

Công nghệ chiến lược cần được đảm bảo bởi an ninh chiến lược
Hiện tại, khung pháp lý và cơ chế huy động vốn vẫn còn nhiều rào cản, khiến các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực này khó có thể tạo ra các sản phẩm trí tuệ.
"Tính khả thi" như các đề án Quốc Gia yêu cầu thực ra luôn mơ hồ nếu không thí nghiệm đúng quy trình. Tình trạng "chỉ bàn lùi, không bàn làm" là chắc chắn kể cả khi doanh nghiệp tư nhân thực sự có nguồn tài chính tốt. Cơ chế hành chính quan liêu bao cấp và công tác cán bộ nhiều khuyết điểm dễ biến nhà khởi nghiệp thành bị can của các vụ án tham nhũng kinh tế.
Còn nếu dựa vào tài chính nước ngoài và các quan hệ chính trị nước ngoài thì nhiều khả năng sản phẩm làm ra sẽ thuộc sở hữu trí tuệ của nước ngoài.
Cần sớm nghiên cứu các cơ chế thông thoáng để nguồn lực tư nhân Việt Nam không trở thành:
“Bảo tàng các nhà kinh tế tư nhân Việt Nam”.
Như đã hình thành với “Bảo tàng các nhà khoa học Việt Nam”.

Khoa học - Công nghệ
/khoa-hoc-cong-nghe
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất
