Tôi, một cậu nhóc sinh ra trong một gia đình trung lưu tại ở thành phố Brivius ở phía nam Tartaska, một quốc gia đa chủng tộc. Tôi là con một. Với tôi, Human là một chủng tộc vô vị. Họ không có sự trường thọ của Elf, không to lớn và mạnh mẽ như Giant... Nhưng có lẽ cũng chính vì những giới hạn ấy, họ là một trong những chủng tộc có khát khao, ý chí tìm tòi mạnh mẽ hơn cả. Để đối chiếu những Human ấy, chắc tôi chẳng thể nào so sánh được với bọn họ dù là một chút. Có một thứ gì đó trong tôi khiến tôi thấy mình khác biệt với bọn họ.
Có thể xem là suy nghĩ vẩn vơ nhưng tôi tự cảm thấy mình là kẻ lạc loài. Dường như tôi không phải một Human “chính hiệu”. Nói thế nào nhỉ? Chắc tôi chỉ đang che đậy sự thấp kém của tôi mà thôi. Giống loài nào mà chẳng có giá trị? Hẳn tôi phải ghen tị với các giống loài vừa nhắc lắm.
Cha mẹ tôi làm việc tại một thư viện lớn tại trung tâm của Brivius, và sau vài lần họ dẫn tôi đến đó khi còn nhỏ, tôi cũng chả nhớ là mình đã làm quen với nơi đó từ lúc nào. Có lẽ cũng vì thế nên tôi đã thường xuyên một mình và đọc những gì mình có thể, thường là đọc ở khu vực đọc sách trong thư viện, trong phòng ngủ, hoặc trên tấm ván gỗ ở một góc nào đó của bến cảng... Tuy đọc sách nhiều là thế, hầu hết các cuốn sách tôi đọc đều là những tiểu thuyết và tôi chỉ có thể để ý tới thể loại này, nên dù đọc cũng được kha khá sách, tôi vẫn không phải một người quá hiểu biết. Nhưng bù vào đó, những cuốn sách ấy lại cho tôi một cảm quan khác với những đứa trẻ đồng trang lứa. Vì thế, việc xem xét và đọc một người đôi khi thật dễ dàng, nhưng cũng có những kẻ dù cố đến mấy, tôi cũng chẳng thể hiểu nổi họ.
Lúc ở trên phòng ngủ hay ở bến cảng, đôi khi tôi hay gấp cuốn sách lại, lắng đôi tai và ngước nhìn chăm chú vào những thứ đang diễn ra bên ngoài. Khi thấy một vài người nói chuyện với nhau, tôi tự động để ý đến phong thái, trang phục, tone giọng của họ, ánh nhìn, những cử chỉ lưỡng lự hay dứt khoát… Hay một vài tên lừa đảo, ăn cắp. Chỉ cần 4-5 lần nhìn cách bọn chúng hoạt động và giao tiếp, tôi đã có thể nhận diện được bọn chúng ngay. Ngoài ra tôi còn học được một vài “từ lóng” của bọn chúng qua vài lần trao đổi vũ khí, vàng bạc hoặc chỉ điểm... Tôi cũng chẳng rõ bằng cách nào, nhưng những thứ đó như được tự động mã hóa và trôi tuột vào trong đầu tôi một cách rất tự nhiên, đến độ tôi chẳng cần phải cố gắng, chỉ cần một chút thời gian để quan sát và nghiền ngẫm thôi là đủ. Đôi khi tôi xem đó là một trò tiêu khiển. Dễ như việc hít thở vậy.
Tôi đã có một dự định trong tương lai về việc sẽ làm một mạo hiểm giả, đi qua những ngọn núi rộng lớn; những cánh rừng già âm u, bí ẩn; hay lang thang khám phá trong những ngóc ngách của mọi thành phố, thị trấn trên thế giới này. Bất cứ chuyện gì làm cho tôi thấy tôi muốn làm. Sống một cuộc sống phiêu bạt tự do, lâu lâu lại viết một cuốn sách về những gì mình đã trải qua trong chuyến hành trình ấy rồi lại bắt đầu tiếp một hành trình mới. Suy nghĩ ấy cứ thế luẩn quẩn trong đầu tôi. Tôi còn dự tính sẽ tìm cho mình một vài người bạn đồng hành cho nhóm mạo hiểm của mình nữa, cơ mà có lẽ việc giao tiếp, nhất là với những người đứa đồng trang lứa với tôi còn là một trở ngại lớn. Đơn giản là vì trước giờ tôi chưa thực sự có một người bạn thân nào cả, cứ mỗi khi một đứa nhóc bất kỳ nào bắt chuyện với tôi sẽ phải trải qua một giai đoạn chịu đựng sự ấp úng, vụng về đến khó chịu, tới khi câu chuyện giữa hai người chẳng còn có thể phát triển được nữa là sẽ dừng lại. Có thể bọn họ ngại bắt chuyện lần nữa, hoặc đã ghét nói những chuyện không ra gì với đứa không ra gì như tôi rồi cũng nên, nhưng thường sẽ chẳng có cuộc hội thoại thứ hai nào giữa tôi và họ. Mà tôi cũng chả cần nói chuyện với bọn bã đậu ấy lắm, ai đi tới cuộc đời của tôi thì cũng sẽ tới thôi, tôi sẽ đặt niềm tin cho định mệnh trong chuyện này. Có lẽ tôi sẽ đi thám hiểm một mình cũng nên, giống cậu chăn cừu ấy.
Dù là con một thì tôi cũng chẳng phải là loại được cha mẹ nuông chiều hay gì cả, tôi cũng chẳng giao tiếp với họ nhiều mấy. Chỉ vừa đủ để được xem như một gia đình bình thường. Khi đó tôi thấy cũng thật lạ. Có những hôm cha tôi rời thư viện vào buổi trưa hoặc chiều rồi về nhà lúc tối muộn, ông làm gì tôi cũng chả rõ. “Ông gặp đối tác chăng?” Suy nghĩ đi ngang qua đầu tôi một thoáng rồi mất hẳn, dù gì cũng không ảnh hưởng đến tôi là mấy. Đôi khi những ngày như vậy sẽ làm tâm trạng mẹ tôi trùng xuống, nhưng không đáng kể. “Cha có công việc làm thêm thôi”, Ông nói thế.
Mẹ tôi là một thủ thư, bà là người dễ hòa đồng với mọi người. Mỗi sáng lúc chín giờ, sau khi đã đi chợ, chuẩn bị xong đồ ăn thì bà sẽ đến thư viện. Tôi là người sẽ hoàn thành nốt các việc như giặt và phơi đồ.
Mẹ là người đã chỉ dạy cho tôi kha khá thứ về Halfling và ngôn ngữ của họ qua những cuốn sách, những bài hát của họ. “Gần như mọi Hafling đều chuộng hòa bình và yêu quý lẫn nhau, bất kể là chủng tộc nào. Họ luôn dễ dàng hòa nhập với mọi người và luôn vui vẻ. Họ tìm kiếm một cuộc sống hòa bình và tránh xa những quái vật hoặc những xung đột. Mẹ vẫn luôn muốn có được cuộc đời như vậy”, là những gì tôi nhớ từ bà.
Nhà của tôi nằm ở Tây Brivius, gần bến cảng, nơi có nhiều tàu thuyền giao thương buôn bán. Tôi có thể dễ dàng bắt trọn một phần lớn bến cảng trong tầm mắt bằng cách nhìn ra khu cửa sổ phòng tôi trên tầng hai. Vào mỗi lúc đọc sách tại nhà thì tôi vẫn hay nhìn ra nơi đó, đầy rẫy những chủng tộc khác nhau từ Elf, Half-Orc, cho đến Half-Giant... xếp những thùng hàng to nhỏ lên hoặc xuống tàu, trò chuyện với nhau, ở lại hoặc rời đi như lẽ tự nhiên vậy.
Tôi thường hay đến nơi đấy khi buổi chiều đến, lúc đã vãn người, để đọc sách hoặc ngắm nhìn mặt trời vàng cam lặn dưới biển rồi khuất hẳn phía chân trời.
Đằng sau nhà tôi, cỡ chừng tám hoặc chín mét là bức tường thành xây bằng đá vôi với những lớp vữa được trán để lấp vào những chỗ khuyết mà đá tạo ra, cao đến hơn chục thước, rộng lớn và chắc chắn, trải dài khắp thành phố. So với một cậu nhóc như tôi thì chúng cao ngất ngưỡng. Khi nhìn vào chúng, tôi luôn có một cảm giác tù túng đến khó chịu, tôi thực sự ghét cảm giác ấy. Tôi đã luôn muốn mình được tự do, và nghĩ rằng bức tường ấy là chướng ngại lớn nhất để có thứ tôi muốn. Tôi hay nhìn những cánh chim bay qua bức tường thành ấy rồi ngây ngô mong rằng rồi sẽ có một ngày, mình sẽ chu du và khám phá khắp mọi nơi trên cuộc đời này.
Nhà tôi có hai tầng, cao độ bảy hay tám thước, toàn bộ xây dựng bằng một bộ khung gỗ dày bốn phân, lấp đầy bên trong bằng những dải gỗ và bùn và sau cùng là một lớp thạch cao trắng ngà phủ bên ngoài. Khiến cho cả căn nhà nhìn từ ngoài vào trong toát lên một vẻ cứng cáp, sạch sẽ, và dễ chịu. Mái nhà được trải bằng rơm với màu vàng đã phai dần như sắp chuyển thành màu trắng. Hai cánh cửa gỗ cao hơn một Human trưởng thành một chút cho hai lối trước và sau. Sàn được lát bằng gỗ lim màu nâu sẫm. Vừa đủ tiêu chuẩn để được xem là một căn nhà khá giả ở thành phố.
Khi bước vào sẽ thấy được phòng khách ở bên phải, nối liền với gian bếp kiêm phòng ăn. Từ cửa ra vào đi thẳng thì cả bên trái, phải, và đằng trước đều có một cánh cửa với bên phải là cửa sau của nhà, nơi dẫn ra một khu vườn nhỏ sau nhà do mẹ tôi chăm sóc, cửa ở bên trái là phòng kho, là chỗ làm việc thứ hai của cha, sau thư viện; còn phía trước là nhà vệ sinh. Trong khu vực phòng khách còn có một kệ đựng sách chứa những cuốn nào là bách khoa toàn thư về quái vật, thực vật, những cuốn từ điển, lịch sử, chính trị… gì gì đó chán ngắt mà tôi chẳng mấy để tâm tới. Nhưng dường như cha tôi đã đọc qua toàn bộ chúng rồi. “Lạ thật, chỉ làm việc ở thư viện thì cần quái gì đọc mấy thứ đấy chứ? Mà chắc đó là sở thích riêng hồi còn trẻ của ông, làm mạo hiểm giả hay gì đó nhỉ?”, tôi đôi khi tự hỏi.
Phía bên trái cửa chính là cầu thang dẫn lên lầu hai, một bên sẽ là khu vực phòng ngủ của cha mẹ, bên phải là phòng riêng của tôi.
Xét từ vị trí cửa ra vào, bên phải nhà tôi sẽ đối mặt với bến cảng, cũng vì thế nên từ cửa sổ phòng tôi nhìn ra cũng sẽ trực tiếp nhìn thấy được nó. Đây cũng là điểm yêu thích nhất trong nhà đối với tôi, tôi có thể nhìn những đợt sóng vỗ rồi khuất đi dưới những ván gỗ, sàn đá, đôi khi sóng lớn làm nước tạt vào thành, nước nằm yên dưới mặt đất, rồi lại khô đi để nước của những lần sóng lớn tiếp theo được thấy rõ. Tôi quan sát và cứ thể để những dòng suy nghĩ miên man về mọi thứ diễn ra trước mắt chiếm lấy và rồi nuốt trọn cả tôi. Việc này diễn ra thường xuyên đến mức đôi khi tôi còn nghĩ là có gì kì lạ với mình, “Bọn trẻ tầm tuổi này có hay như thế không?”.
Phía bên trái và đối diện là những nhà khác nằm cách nhau một khoảng đủ để hai chiếc xe ngựa đi hàng hai qua. Đối diện với gia đình tôi là một gia đình Gnome lùn tịt, với một bà cụ già và cháu của bà cũng độ 27-30 tuổi, một quân nhân, phục vụ cho quân đội Venesia. Anh thường ít khi về nhà hoặc do tôi thấy vậy, vì lúc nào tôi cũng chỉ thấy một mình bà lão quanh quẩn trong nhà. Bà đôi khi sẽ sang thăm nhà tôi khi sáng sớm hoặc chiều, thường là nói chuyện với mẹ tôi.
“Garry nhà chị như lớn trước tuổi nhỉ? Chả bao giờ thấy nó chơi với bọn trẻ nào, lúc nào cũng ngồi một chỗ đọc sách thôi”, bà nói về tôi. Giọng của bà cao vút, nói chuyện bình thường mà như đang đang trêu đùa, cợt nhả vậy, nếu nghe kĩ sẽ thấy được một chút run nhẹ của tuổi già nữa. Tôi đặc biệt để ý đến tiếng cười của bà đôi khi bật lên khi nói chuyện, tiếng cười ha há sảng khoái, đầy năng lượng, mở rộng cả khoan miệng. Bà rất dễ gần, dường như Gnome nào cũng vậy.
Cơ mà tôi cũng không mấy đồng tình lắm chuyện mà bà nói. Tôi tự cảm thấy chuyện không giao tiếp là một khuyết điểm và rằng: không giao tiếp được với bọn trẻ khác là do tôi kém, vậy thôi. Cơ mà được nói như thế làm tôi thấy mình như người trưởng thành, một đứa trẻ đặc biệt vậy, cảm giác cũng không tệ đến thế.
Nhà của bà không quá to, một tầng, tường bằng đá và trán vữa trắng, cao cỡ hai thước rưỡi. Không quá giàu nhưng cũng chẳng thể gọi là thiếu thốn, vừa đủ để hai Gnome có thể sống ở đó. Hoàn toàn trái ngược với ngôi nhà nằm bên trái nhà tôi. Đó là một căn nhà hai tầng, dùng những ván gỗ sồi được cắt đồng đều bên ngoài, chúng nằm ngang và nằm lên nhau tạo những khe hở giữa từng chân ván gỗ và tường, bao bọc lấy khung gỗ. Những ván gỗ phải được đo đạc chính xác và cắt kiểu thủ công, rồi được vận chuyển đến, xây dựng một cách chỉn chu. Ngoài ra, ngôi nhà ấy to gần gấp rưỡi nhà của tôi. Khối lượng công việc để xây được một căn nhà như thế thì khó để mà hình dung được.
Theo những gì tôi nhớ từ lúc tôi còn bốn hay năm tuổi gì đó. Cả nhà ấy gồm năm Human, một cặp vợ chồng, hai đứa con và chủ của căn nhà ấy, một cựu già là cựu quân nhân đã được xuất ngũ, Ông tên Killius. Ông ta trông săn chắc, cao độ mét bảy lăm, mắt diều hâu, lúc nào cũng như đang lườm người khác. Tóc và râu đều đã điểm bạc, gương mặt có những vết sẹo to nhỏ chi chít mặt. Ông từng là thành viên trong đội vệ binh tinh nhuệ của quân đội Tartaska, giờ về với gia đình để dưỡng già. Giờ ông lúc nào cũng rảnh rỗi. Con trai của ông là một bác sĩ. Cả hai trước đây sống ở một thành phố khác cũng thuộc Tartaska, vừa chuyển về đây sống được chừng một hoặc hai năm gì đó.
“Ông ta trước đây đã từng đối đầu với một nhóm phiến quân, đội vệ binh của ông đã mất hơn nửa, đa phần là bị ám sát. Hình như lão cũng rời quân đội sau vụ đó.” Bà lão hàng xóm kể với mẹ tôi.
Tôi còn biết thêm một vài chuyện về nhóm phiến quân ấy qua những cuộc nói chuyện giữa những người lạ đi đường với nhau, của ông Killus. “Họ âm thầm, len lỏi và xây dựng một đường dây hoạt động trải dài bên trong toàn bộ Tartaska. Cho đến giờ không một ai có bất cứ thông tin gì về nhóm phiến loạn ấy. Đến mức một vài người cho là họ không có thật và rằng: cái chết của vệ binh là do sát thủ của các nước đối địch. Còn vài người thì cho rằng nhóm phiến loạn ấy là do một giống loài dạng người dẫn dắt. Tên là Changeling.”

Ảnh của Thomas Stoop
Những ngày cuối tháng 11 là những ngày tuyết rơi dày đặc. Tôi từng thích những nắm tuyết tơi xốp, có thể vo lại và ném hay xây những người tuyết nhỏ. Thế nhưng lúc ấy tuyết lại cao gần nửa bắp chân tôi. Khi đi bộ, dù là nhấc chân lên thật cao hay cứ thế mà đi thẳng để tuyết tản ra đều sẽ khiến tôi mỏi chân. Tôi lại đâm ra ghét chúng. Vậy nên, hoặc tôi sẽ đi trên đường mòn với tuyết đã được xúc hoặc ở yên trong nhà. Đôi khi sẽ có ngoại lệ.
Lúc đó tôi sáu tuổi, sau trận mưa tuyết lớn xuyên đêm. Cả tối hôm đó, trước khi chìm trong giấc ngủ thì tôi chỉ nghe được những tiếng gió lớn rú vang, sắc nhọn, như tập hợp của những mũi tên liên tục bắn sượt qua tai. Tôi hình dung được hình ảnh những lớp tuyết trắng xóa bị gió hất văng xuống đất rồi lại tiếp tục bao phủ trên mái nhà, cứ thế lặp lại mỗi lần tôi nhìn ra phía cửa sổ.
Khi tôi thức dậy, tuyết và gió cũng bớt dữ dội. Cả những con đường, ngôi nhà và bến cảng khoác lên mình một màu sắc ảm đạm, lạnh lẽo từ sương mù và tuyết phủ, những giọt bông tuyết vẫn chậm rãi rơi, thiếu sức sống. Nếu chỉ nhìn vào nền trời lúc ấy, chắc chắn chẳng ai có thể phân biệt được đó là buổi sáng sớm hay chiều tối. Mặt trời chiếu những tia sáng yếu ớt, chẳng thể xuyên thủng những lớp sương, mây, và tuyết dày đặc kia, để lại một màu tối, hiu quạnh cho phần còn lại của thế giới dưới bầu trời.
Tôi run rẩy mò mẫm tìm hộp đánh lửa để trên bàn. Hộp làm bằng sắt, hình tròn. Bên trong gồm những mảnh gỗ thon, dẹt, với những bột diêm sinh ở hai đỉnh, kèm theo đó là thép, đá lửa, một cây nến trắng làm từ mỡ bò bán kính cỡ phân rưỡi, khay đựng nến, và những cục than, vải than nhỏ nằm dưới một cái nắp sắt. Tôi đặt cây nến vào khay, đập đá lửa và thép với nhau, tạo nên những tia lửa yếu ớt trong đêm, một vài bắn lên trời trong một tích tắc rồi chìm hẳn vào bóng tối, một vài rơi vào than, lửa chậm rãi lan ra như giọt nước chảy. Cẩn thận dí đầu mảnh gỗ vào chỗ cháy của than, một ngọn lửa xanh nhẹ nhàng bừng lên. Tôi đóng nắp lại cho lửa trong than dừng, đưa lửa từ que đến đầu ngọn nến, ánh sáng trắng pha chút vàng nhạt từ nến nhẹ nhàng rồi dần dần mạnh mẽ hơn, thắp sáng một phần của căn phòng, sưởi ấm một phần cơ thể tôi. Tôi lặng nhìn ngọn lửa xanh trên que gỗ giờ đã sáng hơn, ánh sáng ấy dịu dàng, đôi khi có những ngọn lửa vàng nhỏ vụt lên bên trong. Tôi như bị thôi miên bởi nó. Đến khi lửa đã tới được gần nửa, tôi thổi một hơi để dập, một chút khói trắng như linh hồn mảnh gỗ bay đi rồi biến mất. Tôi chậm rãi đặt lại mọi thứ vào trong hộp.
Trên tay là khay đựng nến, tôi lơ mơ bước từng bước trên những bậc thang xuống nhà dưới, mỗi bước tôi đi là một tiếng kẽo kẹt của gỗ, khô khan, làm tôi nhức hết cả óc. Hình như cha mẹ vẫn chưa dậy.
Châm ngọn lửa từ cây nến trên tay sang một lọ nến thủy tinh mùi oải hương trong nhà tắm. Nến có mùi thơm nhẹ nhàng, êm dịu trôi vào mũi kèm với hơi ấm làm tôi dễ chịu, bớt căng thẳng với thời tiết và bầu không khí hiện tại.
Phòng vệ sinh của nhà tôi được xây theo lối cách tân của tộc Elf sạch sẽ, thông dụng, và có thẩm mỹ cao hơn hẳn nhà vệ sinh trước đây của Human. Có bồn nước rửa, bồn cầu có nút xả, ống thoát dẫn chất thải và nước xuống hệ thống cống ngầm của thành phố. Bọn họ khi đi vào thời kì hòa nhập đã dần dần sống chung với những loài dạng người, tuy còn vài định kiến từ các Elf cổ hữu. Sau một thời gian, họ dần dần phát triển rất nhiều thứ từ con người, đa số là về mặt thẩm mỹ, từ kiến trúc, trang phục... Và đương nhiên, nhà vệ sinh.
Trong lúc còn đang mê mẩn đánh răng và thầm cảm ơn những Elf với những phát triển tuyệt vời của họ, một tiếng hét to, cao vút, cắt ngang những dòng suy nghĩ của tôi, đánh động cả cha mẹ trên tầng. Tôi cũng giật mình bởi âm thanh đột ngột ấy. Đó là tiếng hét của một phụ nữ, phát ra từ phía nhà hàng xóm kế bên, nhà của lão Killius. Tôi vội vàng phun hết bọt kem xuống bồn, rửa và làm khô mặt, mặc vội chiếc áo choàng da cừu, găng tay, mũ len và ủng da rồi chạy thật nhanh ra ngoài.
Khi bước ra, cha mẹ tôi cũng xuất hiện ở trước cửa. Cả hai vội vã chạy tới nhà kế bên, tiếng la hét vẫn chưa dứt. Tôi khó khăn chạy theo vì lớp tuyết dày và ủng da, lững chững lần tìm ra nguồn của tiếng hét ấy. Chúng tôi dừng lại ở phía nhà sau, nơi có những lu, gánh nước được xếp ngăn nắp, nằm sát với tường nhà. Sự chú ý của tôi liền chuyển dồn về phía cặp vợ chồng xuất hiện ở đó.
Hai người họ mặt tái nhợt, một người thì khóc lóc thảm thiết, miệng cứ oang oang “Cha ơi!”, lâu lâu lại nấc một tiếng; người còn lại đứng yên, như thể đã chịu cả trận mưa tuyết tối qua, tay run run, miệng như muốn nói gì đó nhưng vẫn bị kẹt cứng lại, nhìn về phía xác chết của lão Killus. Một đợt gió chạy dọc sóng lưng tôi.
Ông lão bị đóng băng, nằm cứng đờ trên tuyết. Hai mắt ông nhắm nghiền, vẫn còn toát lên sự nghiêm nghị. Mặt ông ta trắng xám, má hóp lại khô khan, chẳng còn chút dấu hiệu gì khác cho thấy máu từng tuần hoàn qua khuôn mặt của ông. Một vài bông tuyết nằm rải rác trên đầu, tuyết bao phủ từng cọng lông mi, tóc và hầu hết cơ thể của ông. Phần cổ có màu đỏ sẫm của máu, một vài màu đỏ rơi vãi trên sàn nhà, một vài như bị vùi lấp bởi tuyết.
Tôi đứng im, nhìn ông một hồi lâu, những tiếng nhốn nháo của người phụ nữ, hai đứa con của họ từ trên tầng chạy tới cứ lùng bùng, chẳng thể trôi vào lỗ tai tôi. Những bông tuyết vẫn cứ chậm chạp rơi xuống, những cơn gió lạnh vẫn thổi nhẹ, tôi cứng đờ.
Dòng ký ức của tôi đến đó là gián đoạn. Tôi chẳng thể nhớ được chuyện gì tiếp theo. Xác của ông lão được xử lý thế nào thì tôi cũng chẳng rõ. Một tuần sau đó, anh bác sĩ phải chuyển công tác, dẫn theo toàn bộ gia đình, tới một nơi nào đó, tôi không biết. Căn nhà gỗ nọ chẳng còn ai ở đó.
Lời người viết
Cảm ơn những người đã đủ kiên nhẫn đọc tới đây. Đây là phần thứ 2 của tiểu thuyết đầu tiên mà tôi viết. Nếu có bất cứ lời nhận xét hay góp ý thì hãy cứ làm, sẽ giúp tôi sau này rất nhiều. Xin cảm ơn.

Game
/game
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

