Khi học lịch sử, chúng ta thường nghe về những trận chiến khốc liệt, những anh hùng thời loạn. Nhưng ngoài ra, lịch sử còn chứa đựng khá nhiều câu chuyện "dark" xung quanh nó.

1. Dịch Nha nấu con dâng vua

Tề Hoàn công (Khương Tiểu Bạch) - một trong Ngũ Bá thời Xuân Thu - có một đầu bếp tên là Dịch Nha.
Một ngày Hoàn công buột miệng nói, đại ý là:
Quả nhân ăn đủ sơn hào hải vị rồi, chỉ chưa từng nếm thịt người.
Dịch Nha nghe xong thì lui ra. Đến bữa trưa Dịch Nha đem vào dâng một mâm thịt chín, mềm như thịt dê non, mùi thơm ngát mũi.
Hoàn công ăn xong thì tấm tắc khen ngon, hỏi xem đấy là thịt gì. Dịch Nha trả lời là thịt người. Hoàn công thất kinh hỏi Dịch Nha lấy ở đâu.
Hóa ra sau khi Hoàn công nói đùa một câu thì Dịch Nha đã về nhà và xử ngay thằng con trai mới lên ba tuổi của mình, nấu thành món ăn và dâng cho Hoàn công.

2. Tề Hoàn công chết đói trong cung

Ngoài Dịch Nha giết con mình dâng vua, còn có hai kẻ rất cơ hội khác. Đó là Thụ Điêu, tự thiến bản thân để có thể vào hầu Hoàn công; và Khai Phương, biết tin cha mất nhưng không về chịu tang để có thể ở cạnh Hoàn công.
Tề Hoàn công nghĩ rằng ba tên đó rất yêu mình nên cực kì tin dùng chúng. Quản Trọng (Tể tướng nước Tề) trước khi mất đã can gián rằng:
Người mà ngay cả bản thân mình, cha đẻ và con đẻ của mình đều không thương yêu thì làm sao có thể thật lòng yêu nước, yêu vua? Nhất định phải tránh xa ba kiểu người này!
Nhưng lời ngay thẳng chẳng được vua nghe.
Sau khi Quản Trọng mất, Tề Hoàn Công càng trọng dụng ba tên Dịch Nha, Thụ Điêu và Khai Phương. Ba tên đó ỷ thế làm càn, gây rối triều đình, không coi ai ra gì. Khi Tề Hoàn Công ốm, để khống chế quần thần, thao túng thiên hạ, ba tên bàn nhau để vua nằm một mình trong cung cấm, cách ly với bên ngoài, tôn thất và quan lại không ai được vào thăm Chỉ có một cung nữ tìm cách trèo tường vào thăm Hoàn công. Hoàn công hỏi nàng vì sao không đem đồ ăn hay nước vào, nàng nói cũng không có cách nào. Hoàn công bèn than:
Than ôi! Thánh nhân có thể thấy trước tai họa! Nếu như phải chết thế này, ta còn mặt mũi nào để nhìn Trọng phụ đây?
Cuối cùng sau nhiều ngày bị nhốt trong cung, Hoàn công chết đói. Xác chết bị bỏ mặc nhiều ngày, giòi bọ sinh sôi.

3. Tấn Văn Công và bát canh thịt người

Thời Xuân Thu, Tấn Văn công (Cơ Trùng Nhĩ) gặp loạn phải bỏ nước lưu vong, gặp được một hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi theo giúp. Có lần ông đói tới mức kiệt quệ, Giới Tử Thôi làm điều không ai ngờ tới: cắt thịt đùi của chính mình, nấu canh cho vua ăn.
Về sau, Tấn Văn Công trở về làm vua, phong thưởng cho những người có công nhưng lại quên mất Giới Tử Thôi. Giới Tử Thôi không oán giận gì, về nhà đưa mẹ vào núi ở ẩn.
Sau Tấn Văn Công nhớ ra, liền cho người đi tìm. Vì Giới Tử Thôi không chịu ra lĩnh thưởng, Tấn Văn Công hạ lệnh đốt rừng để ép ông phải ra; cuối cùng, hai mẹ con ông đều chết cháy. Văn công thương xót, lập miếu thờ và hạ lệnh kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ ăn đồ ăn nguội đã nấu sẵn để tưởng niệm.
Câu chuyện này cũng dẫn đến Tết Hàn thực hay Tết bánh trôi bánh chay.

4. Ngũ Viên quật mộ tiên thi

Ngũ Viên, tự là Tử Tư, người nước Sở thời Xuân Thu. Vua Sở lúc đó là Sở Bình vương, ông trọng dụng một tên gian thần là Phí Vô Cực.
Phí Vô Cực sau khi vào hầu Sở Bình vương thì gièm pha thái tử Kiến. Sở Bình vương tin theo, đày thái tử ra huyện Thành Phụ, để phòng bị ở biên giới.
Có lần Phí Vô Cực tâu Thái tử có ý làm phản. Sở Bình vương bèn mời Ngũ Xa (thầy của Thái tử) đến để hỏi. Ngũ Xa thẳng thắn khuyên ngăn, nhưng bị Phí Vô Cực gièm pha nên bị bỏ ngục. Sở Bình vương lại sai Tư Mã Phấn Dương đến giết thái tử. Thái tử Kiến biết được, trốn sang nước Tống.
Sau đó, Phí Vô Cực lại khuyên Sở Bình vương bắt cả hai con của Ngũ Xa. Bình vương bèn bắt Ngũ Xa phải viết thư triệu hai con về. Ngũ Xa bằng lòng viết thư, ông đoán rằng Ngũ Thượng là người nhân hậu nên sẽ về, còn Ngũ Viên ngang bướng, sẽ không về. Khi thư đến, Ngũ Thượng muốn về, nhưng Ngũ Viên nói:
Đại vương gọi hai anh em ta đến không phải là muốn cho cha chúng ta sống mà là sợ có người trốn thoát sau này sẽ gây mối lo cho nên lấy cha chúng ta làm con tin, lừa gọi hai anh em ta đến. Hai anh em ta đến thì cha con đều chết. Cha chúng ta chết, chúng ta đến chỉ làm cho sau này không có ai mà trả thù mà thôi. Vậy nên trốn sang nước khác, mượn quân đánh Sở để trả thù cho cha. Nếu tất cả đều chết thật không làm được việc gì hết.
Ngũ Thượng vẫn không nghe, và khuyên Ngũ Viên mau trốn thoát. Sau đó Bình vương cho xử tử cả Ngũ Xa lẫn Ngũ Thượng.
Ngũ Viên trốn sang nước Tống tìm thái tử Kiến, vì nước Tống lúc đó đang loạn cho nên lại cùng thái tử trốn sang nước Trịnh. Nhưng thái tử lại hợp mưu với nước Tấn đánh nước Trịnh, nên bị Trịnh Định công giết chết.
Ngũ Viên sau đó phải chạy sang nước Ngô. Giữa đường bị bệnh, lại hết tiền, ông đành phải đi ăn xin ngoài đường. Sau cùng ông đến được nước Ngô, yết kiến tướng quốc nước Ngô là công tử Quang, được tin dùng. Ngũ Viên biết được công tử Quang có chí cướp ngôi, bèn tiến cử Chuyên Chư lên công tử Quang. Tháng 4 năm 515 TCN công tử Quang sai Chuyên Chư giả làm người dâng cá, mời Ngô vương Liêu đến rồi giết chết. Công tử Quang lên ngôi tức là Ngô vương Hạp Lư. Hạp Lư cho mời Ngũ Viên về tham gia chính sự.
Ngũ Viên tiếp tục tiến cử Yêu Ly để hành thích con trai của Vương Liêu là công tử Khánh Kỵ. Sau đó, ông lại tiến cử “cha đẻ” của binh pháp Tôn Tử là Tôn Vũ giúp Ngô vương huấn luyện binh sĩ. Cuối cùng, Ngô đánh Sở năm trận thì vào được Dĩnh Đô (kinh đô nước Sở), nước Ngô nhỏ bé lại đánh bại được nước Sở lớn mạnh.
Lúc Ngũ Viên bỏ trốn sang nước Tống là năm 522 TCN, lúc quân Sở đánh vào Dĩnh Đô là năm 506 TCN. Ngũ Viên ôm mối thù giết cha anh suốt 16 năm, cuối cùng đã đợi đến được cái ngày trả thù này.
Vấn đề bây giờ là trả thù ai? Sở Bình vương đã bệnh mất vào năm 516 TCN. Phí Vô Cực đã bị giết chết sau khi Sở Chiêu vương lên ngôi. Muốn trút giận lên con của Bình vương là Chiêu vương cũng không được, vì Chiêu vương đã bỏ trốn không rõ tung tích.
Nhưng mọi chuyện thật ra rất đơn giản, không trả thù được người sống thì ta trả thù người chết. Ngũ Viên đi tìm kiếm thi thể Sở Bình vương khắp nơi. Về sau, có người nói với ông thi thể Bình vương được chôn dưới đáy hồ. Ngũ Viên đến bên hồ, khi đó đã là mùa đông, chỉ thấy cỏ cây xơ xác, nước hồ mênh mông, biết đến đâu tìm kiếm mộ phần của Bình vương đây? Ngũ Viên đấm ngực giậm chân, ngửa mặt lên trời khóc than, rằng:
Trời ơi! Trời ơi! Sao lại không để ta báo thù rửa hận cho cha anh?
Lúc này, quân sĩ dẫn đến một ông lão. Ông lão này nói với Ngũ Viên rằng:
Có phải ngài muốn tìm kiếm mộ phần của Sở Bình vương? Lão biết.
Ngũ Viên hỏi ở đâu, ông lão nói hãy tát cạn nước trong hồ, mộ phần chính ở ngay giữa lòng hồ. Ngũ Viên vội sai quân lính đắp đất xung quanh huyệt mộ rồi tát cạn, kết quả đào ra được một cái quách bằng đá. Người xưa khi chôn cất, những người giàu có hoặc có địa vị cao thường quan tài đều có hai lớp, một lớp bên trong là được làm bằng gỗ, gọi là quan, một lớp bên ngoài thì gọi là quách. Nó là hai lớp, có quan có quách được gọi là hậu táng (an táng long trọng). Bởi vì Sở Bình vương là vua, vậy nên quan tài là có quan có quách.
Sau khi Ngũ Viên mở thạch quách ra đã thấy được quan tài, rồi cho mở nắp quan tài ra, phát hiện bên trong chỉ có vài trăm cân sắt. Ngũ Viên liền nghĩ thi thể của Bình vương không ở chỗ này rồi. Ông lão nói đấy chỉ là mộ giả, mộ thật ở dưới sâu hơn ba thước. Ngũ Viên nghe vậy liền lệnh cho binh sĩ khiêng cái thạch quách đó đi, rồi lại đào tiếp, quả nhiên bên dưới có một chiếc quan tài nữa, sau khi mở ra xem thử, quả nhiên là thi thể của Sở Bình vương.
Tính đến lúc này, Sở Bình vương đã mất được 10 năm, nhưng thi thể của ông ta lại được dùng thủy ngân khâm liệm nên không bị phân hủy. Ngũ Viên vừa trông thấy thi thể, thì oán khí ngất trời, lôi thi thể từ trong quan tài ra, dùng cây roi đồng chín đốt quất vào thi thể 300 roi, đánh đến thịt nát xương tan, rồi đem thây xác của Bình Vương phơi giữa cánh đồng.

5. Triệu Cao chỉ hươu bảo ngựa

Đời nhà Tần có một người tên là Triệu Cao, nhiều tài liệu chép rằng ông là hoạn quan, nhưng sự thực có phải hay không thì chưa biết. Tần Thủy Hoàng nghe nói Cao có sức khỏe, thạo việc hình ngục, nên cử làm Trung xa phủ lệnh. Lại cho Cao làm thầy công tử Hồ Hợi, dạy Hồ Hợi xử hình ngục. Năm 210 TCN, Tần Thủy Hoàng đi tuần du ở Kê Sơn, dẫn theo Hồ Hợi, Triệu Cao cùng với thừa tướng Lý Tư và tướng Mông Nghị. Đến tháng 8 năm đó, xa giá đến Bình Nguyên thì Thủy Hoàng bệnh nặng, đến cung Sa Khâu thì bệnh tình đã nguy cấp, bèn viết chiếu triệu công tử cả là Phù Tô về kinh đô Hàm Dương để lo tang lễ và nối ngôi rồi cho Triệu Cao chuyển thư đi giao cho Mông Điềm (anh Mông Nghị, đang ở cùng công tử Phù Tô, Phù Tô là con trưởng của Tần Thủy Hoàng, vì can gián việc đốt sách chôn nho nên bị đưa lên phía bắc để giám sát Mông Điềm xây Vạn Lý Trường Thành). Nhưng đột nhiên Thủy Hoàng lại qua đời, nên bức thư ấy lại được giữ ở trong chỗ của Triệu Cao.
Tuy nhiên Triệu Cao lại bàn với Lý Tư và Hồ Hợi. Làm giả di chiếu, và làm thêm một tờ chiếu kể tội Mông Điềm và Phù Tô, ép hai người phải chết, và đem hết binh quyền của Mông Điềm giao cho Vương Ly. Công tử Phù Tô không biết chuyện bèn tự sát, còn Mông Điềm không chịu, liền bị giam lỏng ở Dương Châu. Triệu Cao, Lý Tư và Hồ Hợi biết tin, bèn trở về Hàm Dương, phát tang Tần Thủy Hoàng, sau đó Hồ Hợi lên nối ngôi, tức Tần Nhị Thế. Triệu Cao được thăng lên chức Lang Trung lệnh, phụ tá hoàng đế ở cung trung.
Sau đó Triệu Cao gièm pha với Tần Nhị Thế, hãm hại Lý Tư. Nhị Thế bèn giao Lý Tư cho Triệu Cao xét xử. Triệu Cao cho đánh Lý Tư hơn 100 trượng. Lý Tư uất ức, dâng thư bày tỏ với Nhị Thế, nhưng thư bị Triệu Cao vứt đi, sau đó bức ép Lý Tư nhận tội làm phản, rồi lấy cớ đó giết chết ông ta. Sau khi Lý Tư bị giết, Tần Nhị Thế phong Triệu Cao làm Trung thừa tướng, tước An Vũ hầu, nắm hết quốc chính. Từ đó ông có mưu đồ làm loạn xưng vương, nhưng sợ lòng người không phục, bèn nghĩ cách thử lòng.
Một hôm ông cho người dắt con hươu đi qua dâng lên Nhị Thế và bảo đó là con ngựa. Nhị Thế cho rằng nó là con hươu nhưng nhiều đại thần đều hùa theo nói là ngựa, chỉ có một số ít không chịu, khẳng định là hươu nhưng không đáng kể. Nhị Thế tưởng là ngựa thật, nghĩ mình loạn óc, bèn vào Vọng Di cung trai giới. Còn những người nói thật đều bị Triệu Cao để bụng trả thù.
Câu chuyện này không hẳn là dark nhưng nó cho thấy quyền lực có thể bóp méo sự thật tới mức nào.