Trong nhiều thập kỷ, các nghệ sĩ và nhà phê bình vẫn đang tranh luận về vị thế của nhiếp ảnh: "Nhiếp ảnh có phải là một loại hình nghệ thuật hay không?"
Đối với giới trẻ ngày nay, đặc biệt là những người làm trong lĩnh vực sáng tạo, nhiếp ảnh dễ dàng được coi là một loại hình nghệ thuật tinh tế (fine art), một phương tiện để thể hiện cá tính, cảm xúc và góc nhìn độc đáo.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại những ý kiến bảo thủ, không xem nhiếp ảnh là một môn nghệ thuật "chính thống" ngang hàng với Bảy Bộ Môn Nghệ Thuật kinh điển (Kiến trúc, Điêu khắc, Hội họa, Âm nhạc, Thơ ca, Vũ đạo, Điện ảnh). Họ cho rằng nhiếp ảnh chỉ là một công cụ ghi chép cơ học, thiếu đi sự "lao động sáng tạo" bằng tay như vẽ hay điêu khắc.
Vậy điều gì đã châm ngòi cho cuộc tranh luận kéo dài cả thế kỷ này? Để trả lời, chúng ta cần đào sâu tìm hiểu nguồn gốc và lịch sử hình thành của chính bộ môn nhiếp ảnh - từ thuở sơ khai chỉ là chiếc máy móc thô sơ cho đến khi trở thành một ngôn ngữ thị giác đầy quyền năng.

I. Nhiếp Ảnh

Nhiếp ảnh (hay chụp ảnh) là một quá trình tạo ra hình ảnh dựa trên sự tương tác của ánh sáng với vật liệu hoặc thiết bị nhạy sáng.
---Máy ảnh qua các thời kỳ-
---Máy ảnh qua các thời kỳ-
Người chụp ảnh cần sử dụng một thiết bị chuyên dụng —chính là máy ảnh — để ghi lại hình ảnh. Quá trình này hoạt động bằng cách thu nhận ánh sáng được phản chiếu từ các vật thể lên bề mặt nhạy sáng (thông thường là phim hoặc cảm biến kỹ thuật số). Trong đó, các thiết bị máy ảnh có thể sự dụng các công nghệ khác nhau như cơ học, hóa học, hoặc kỹ thuất số để đóng bằng và lưu giữ ánh sáng của thế giới xung quanh.
Về cách thức hoạt động, ánh sáng sẽ được tập trung qua 1 con đường, hay chúng ta vẫn thường gọi là ống kính. Qua đó, ánh sáng sẽ tạo thành một hình ảnh thực trên bề mặt nhạy sáng bên trong máy ảnh. Điều này được thực hiện trong một khoảng thời gian được căn chỉnh chính xác, gọi là thời gian phơi sáng.

II. Lịch Sử Hình Thành & Phát Triển

Nhiếp ảnh là kết quả của việc kết hợp nhiều khám phá kỹ thuật trải dài từ thế kỷ 5 trước Công nguyên tại các nền văn minh đầu tiên như là Hy Lạp và Trung Hoa cho đến khi nhiếp ảnh thực tế chính thức ra đời vào nhưng năm 20-30 của thế kỷ 19.
1. Công nghệ tiền thân
Hành trình phát triển của nhiếp ảnh bắt nguồn từ hiện tượng tự nhiên gọi là camera obscura hay ảnh lỗ kim (pinhole image). Camera obscura có thể được giải thích đơn giản là chiếu một hình ảnh (bị đảo ngược) qua một lỗ nhỏ lên bề mặt đối diện. Dù chưa được kiểm chứng, nguyên lý này có thể được biết đến và sử dụng từ thời tiền sử. Mặt khác, nhưng ghi ghép sớm nhất về hiện tượng đã được tìm thấy vào thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên bởi Mặc Tử tại Trung Hoa và Aristotle tại Hy Lạp.
---Camera Obscura---
---Camera Obscura---
Đến thế kỷ 11, nhà toán học người Ả Rập Alhazen (hay Ibn al-Haytham) được coi là người đầu tiên chế tạo ra công cụ hoạt động trên hiện tượng camera obscura. Trong Hiệp ước Quang học (Treaty of optics), ông đã viết rằng: "...bằng cách đục một lỗ rất nhỏ (pinhole) trong một căn phòng tối (camera obscura), chúng ta sẽ thấy một hình ảnh ngược xuất hiện trên nền trắng của hộp". Tuy nhiên, lỗ kim này còn rất hạn chế về mặt thu chiếu ánh sáng.
Phải mãi đến thế kỷ 16, nhà bác học người Pháp Gerolamo Cardano và giáo sĩ người Ý Daniele Barbaro đặt nền móng phát triển cho ống kính. Năm 1550, Cardano đã mô tả một thấu kính lồi hai mặt (biconvex) ở lỗ kim và Barbaro ghi chép lại về một màn chắn (diaphragm) giới hạn khẩu độ gần 18 năm sau đó. Qua đó, hình ảnh trở trong phòng tối trở nên sáng và sắc nét hơn.
---Camera Obscura with mirror and lens---
---Camera Obscura with mirror and lens---
Khoảng thời gian sau đó, các nhà bác học châu Âu liên tiếp đưa ra các lý thuyết, ghi chép về kết quả ảnh chụp thoáng qua nhưng đều chỉ là những phát hiện về phản ứng hóa học của các chất liệu nhạy sáng. Nổi bật trong các nhà khoa học đó gồm 2 người: người đầu tiên là nhà phát mình người Anh Thomas Wedgwood, ông được coi là người đầu tiên nghĩ tới việc tạo ra những bức ảnh vĩnh viễn bằng cách chụp lại bằng máy ảnh trên vật liệu được phủ một loại hóa chất nhạy sáng. Nhưng ông có thể đã từ bỏ nghiên cứu này do tình hình sức khỏe suy yếu và qua đời năm 1805; thứ 2 là giáo sư người Pháp Jacques Charles, người được cho là đã chụp được những bức ảnh âm bản (nơi sáng nhất trong ảnh lại tối nhất và ngược lại) thoáng qua của bóng trên giấy nhạy sáng vào đầu thế kỷ 19, trước cả Wedgwood. Tuy nhiên ông chỉ chứng minh điều này trong các bài giảng của mình tại bảo tàng Louvre mà không ghi lại quá trình này trước khi qua đời năm 1823.
2. Nhiếp ảnh ra đời
Joseph Nicéphore Niépce, một quý tộc, nhà khoa học và nhà hóa học người Pháp, đã có thể theo đuổi các phát minh và nghiên cứu khoa học nhờ vào tài sản gia đình. Năm 1816, ông đã thành công trong việc chụp ảnh bằng cách sử dụng giấy được phủ bạc clorua trong một thiết bị camera nhỏ. Tuy nhiên, những hình ảnh thu được là ảnh âm bản và dễ bị phai mờ khi tiếp xúc với ánh sáng.
Không hài lòng, Niépce chuyển sự chú ý sang các chất hữu cơ nhạy sáng. Vào khoảng 1824–1825, ông thực hiện một thí nghiệm gọi là chụp ảnh mặt trời (heliography). Trong quy trình này, ông sử dụng một tấm thiếc được đánh bóng và một lớp mỏng nhựa đường (một loại hắc ín dầu mỏ tự nhiên) được hòa tan trong dầu hoa oải hương, quét lên bề mặt tấm thiếc và để khô trước khi dùng. Sau một thời gian phơi sáng rất dài có thể là 8 tiếng thậm chí lên tới vài ngày, phần nhựa đường tiếp xúc với ánh sáng đã đủ cứng, cho phép phần không bị cứng được loại bỏ bằng dung môi. Điều này để lại một hình ảnh dương bản với các vùng sáng là nhựa đường đã cứng và các vùng tối là thiếc trần. Bức ảnh “Point de vue du Gras”, bức ảnh còn tồn tại lâu đời nhất chụp lại một cánh trong khuôn viên biệt thự của ông ở Saint-Loup-de-Varennes, là kết quả của quy trình này và hiện đang được lưu giữ tại Đại học Austin ở Texas kể từ năm 1963.
<i>---Point de vue du Gras---</i>
---Point de vue du Gras---
Năm 1829, Niépce hợp tác với Louis Jacques Mandé Daguerre. Chỉ 4 năm sau, hai người đã phát triển một quy trình thứ hai, gọi là physautotype, sử dụng kết tủa của quá trình chưng cất dầu hoa oải hương. Quy trình này tạo ra hình ảnh trong vòng 7 đến 8 giờ phơi sáng. Bức “La table servie”, một bức ảnh tĩnh vật cố định đầu tiên, là một trong những bức ảnh đầu tiên theo quy trình physautotype do Niépce thực hiện, có niên đại từ năm 1832.
---La table servie---
---La table servie---
Sau khi Niépce qua đời vào năm 1833, Daguerre tiếp tục công việc của 2 người. Ông phác thảo daguerreotype vào năm 1838, quy trình đầu tiên bao gồm một giai đoạn tráng ảnh: 1. Một tấm bạc được phủ một lớp mỏng bạc iốt được phơi sáng trong phòng tối.
2. Sau đó, nó được xử lý bằng hơi thủy ngân, làm cho hình ảnh tiềm ẩn vô hình được hình thành trong quá trình phơi sáng trở nên xuất hiện (tráng ảnh). Sự tráng ảnh này đã khuếch đại tác dụng của ánh sáng, giúp thời gian phơi sáng không vượt quá 30 phút.
3. Việc định hình (fixation) đạt được bằng cách ngâm trong nước bão hòa với muối biển. Bằng cách khám phá nguyên lý tráng ảnh của hình ảnh tiềm ẩn, Daguerre đã tìm ra cách rút ngắn thời gian phơi sáng xuống còn vài chục phút. Năm 1839, ông quảng bá phát minh của mình với nhà khoa học kiêm nghị sĩ François Arago, người đã ủng hộ ông và giới thiệu "phát minh" của Daguerre với Viện Hàn lâm Khoa học vào ngày 19 tháng 8 năm 1839. Kể từ đó, ngày này được xem là ngày đánh dấu sự ra đời chính thức của nhiếp ảnh hay Ngày Nhiếp Ảnh Thế Giới vì nó giới thiệu một phương pháp dễ tiếp cận và được áp dụng rộng rãi, mặc dù thực tế đây là một sự cải tiến từ phát minh của Niépce.
*Fun Fact: Cùng năm 1839, sau khi biết được các công bố thí nghiệm của Daguerre, nhiếp ảnh gia tiên phong người Mỹ Robert Cornelius đã chụp bức ảnh chân dung của chính mình. Bức ảnh tự họa của ông được coi là sớm nhất còn sót lại cho tới ngày này
---Chân dung nhiếp anh gia Robert Cornelius---
---Chân dung nhiếp anh gia Robert Cornelius---
3. Những đóng góp, cải tiến và và tranh cãi
Hiện tại, các cuộc tranh luận về sự ra đời của nhiếp ảnh vẫn đang diễn ra nhưng đa số mọi người đều công nhận 3 nhà phát minh trên đã đóng góp trực tiếp vào sự ra đời của nhiếp ảnh. Tuy vậy, sự đóng góp của những nhà phát minh cùng thời cũng đặt nền móng để nhiếp ảnh ngày càng phát triển
Đầu tiên không thể không kể tới Sir John Herschel, người đã đặt đặt ra thuật ngữ nhiếp ảnh vào năm 1839. Ông cũng là người đầu tiên áp dụng thuật ngữ âm bản và dương bản vào nhiếp ảnh. Cùng năm, Herschel còn thực hiện một thí nghiệm ảnh trên kính để tìm cách tái tạo màu sắc, thứ hiện vẫn còn tồn tại và được lưu giữ. Kết quả, ông nhận thấy rằng các tia thuộc các phần khác nhau của quang phổ có xu hướng truyền màu riêng của chúng vào giấy ảnh. Từ đó, ông thực hiện thí nghiệm là anthotypes (hay phytotypes) để tạo màu cho ảnh thông qua thực vật. Ông cũng là người phát hiện ra natri thiosulfate là dung môi của bạc halogenua vào năm 1819. Đến đầu năm 1839, chất hóa học này được sử dụng như một chất sửa ảnh và làm cho chúng tồn tại vĩnh viễn sau 1 thử nghiệm.
---Bức ảnh chụp bằng kính đầu tiên của Herschel---
---Bức ảnh chụp bằng kính đầu tiên của Herschel---
Người thứ 2 là nhà phát minh Hercules Florence. Năm 1832 tại Brazil, ông đã nghiên cứu quy trình giấy muối bạc tương tự như những thí nghiệm của Thomas Wedwood từ những năm 1800. Ông cũng là người đặt tên cho quy trình là photographia, sớm ít nhất bốn năm trước khi John Herschel đặt ra từ tiếng Anh "photography". Sổ tay của Florence cho thấy cuối cùng ông đã thành công trong việc tạo ra những hình ảnh bền, chịu được ánh sáng nhưng thời điểm thí nghiệm của ông lại muộn hơn 6 năm so với Niépce, và sớm hơn 4 năm so với quy trình cải tiến của Daguerre. Dẫu vậy, Florence lại không được quốc tế công nhận là một trong những nhà phát minh của nhiếp ảnh trong suốt cuộc đời mình. Lý do là ông chưa bao giờ công bố phát minh của mình một cách đầy đủ, tên tuổi ông cũng ít nổi tiếng và ông sống ở một tỉnh xa xôi và kém phát triển.
Vào năm 1834, nhà phát minh người Anh, William Fox Talbot, đã thành công trong việc tạo ra những hình ảnh bạc thô sơ nhưng khá bền trên giấy từ, nhưng vẫn giữ bí mật công trình của mình. Sau khi đọc về phát minh của Daguerre vào năm 1839, Talbot đã công bố phương pháp bí mật của mình trong một bài báo gửi Hội Hoàng gia và bắt đầu cải tiến nó. Ông có chụp 1 tấm phim âm bản giấy nhỏ nổi tiếng ghi lại hình ảnh cửa sổ Oriel ở Tu viện Lacock, một trong số những bức ảnh ông chụp bằng chụp vào mùa hè năm 1835, có thể là tấm phim âm bản máy ảnh lâu đời nhất còn tồn tại.
2 nhà khoa học Đức là Franz von Kobell và Carl August von Steinheil đều những người tiên phong sử dụng phương pháp của Daguerre. Năm 1837, Franz von Kobell đã sử dụng bạc clorua và một máy ảnh bìa cứng để chụp ảnh âm bản Nhà thờ Frauenkirche và các tòa nhà khác ở Munich, sau đó chụp một bức ảnh âm bản khác để có được ảnh dương bản, tức là ảnh đen trắng thực sự của vật thể. Còn von Steinheil thì phát triển máy ảnh kim loại di động đầu tiên trên thế giới vào năm 1839, nhỏ hơn 19 lần so với máy ảnh của Daguerre với ít nhất 10 máy được sản xuất. Cả 2 người đã từng hợp tác báo cáo về các thí nghiệm của họ với Viện Hàn lâm Khoa học Bavaria cùng năm 1839.
Tại Pháp cũng vào năm 1839, Hippolyte Bayard đã phát minh ra quy trình riêng của mình để tạo ra các bản in giấy dương bản trực tiếp trong máy ảnh. Ông cũng là người tổ chức triển lãm ảnh công cộng đầu tiên trên thế giới cùng năm 1839. Bayard còn tuyên bố đã phát minh ra nhiếp ảnh sớm hơn Daguerre hay Talbot. Tuy nhiên, François Arago đã thuyết phục Bayard hoãn công bố quy trình của mình với Viện Hàn lâm Khoa học Pháp khiến ông mất đi sự công nhận là một trong những nhà phát minh chính của nhiếp ảnh. Rồi cuối cùng thì Bayard cung cấp toàn bộ thông tin chi tiết về quy trình (nhiếp ảnh) của mình cho Viện Hàn lâm Khoa học Pháp vào ngày 24 tháng 2 năm 1840, đổi lại thì Bayard có tiền để mua được thiết bị nghiên cứu tốt hơn. Với sự bất công mà ông cảm thấy mình phải chịu khi xung đột lợi ích với Arago ông đã có sự phản pháo. Năm 1840, ông đã thực hiện bức ảnh dàn dựng đầu tiên, "Self Portrait as a Drowned Man" mà trong đó ông giả vờ tự tử, ngồi và nghiêng về bên phải. Và đáng chú ý hơn nữa là, Bayard đã viết trực tiếp ở mặt sau bức ảnh đáng chú ý nhất của mình:
Cái xác mà bạn nhìn thấy ở đây là của quý ngài Bayard, người phát minh ra quy trình vừa được cho bạn xem. Theo như tôi biết thì nhà thí nghiệm không biết mệt mỏi này đã bận rộn với khám phá của mình được khoảng 4 năm. Chính phủ, vốn quá hào phóng với quý ngài Daguerre, đã nói rằng họ không thể làm gì cho ông Bayard, và người khốn khổ khốn cùng đó đã tự chết đuối. Ôi những thăng trầm của đời người....! ... Anh ta đã ở nhà xác được vài ngày, và không ai nhận ra hay nhận anh ta. Thưa quý vị, tốt nhất quý vị nên bỏ qua vì sợ nó xúc phạm đến khứu giác của mình, vì như quý vị có thể quan sát, khuôn mặt và bàn tay của quý ông đang bắt đầu phân hủy.
---<i>Self Portrait as a Drowned Man---</i>
---Self Portrait as a Drowned Man---
Bất chấp sự bất công đó, Bayard vẫn tiếp tục là thành viên hữu ích của Hiệp hội nhiếp ảnh. Ông cũng là thành viên sáng lập của Hiệp hội Ảnh Pháp và có nhiều đóng góp cho lĩnh vực này kể cả khi đã qua đời.
(Còn tiếp)