“Nhất mệnh, nhì vận, tam phong thuỷ, tứ tích âm đức, ngũ độc thư”
風 水 到 時 我 哋 必 发 達
Mệnh là một phạm trù gần như cố định, Vận thì vận hành tuần tự theo thời gian nhất định. Mệnh và Vận trên thực tế là một quy luật khách quan của sự vận động.
Mệnh là yếu tố Thiên Định, do trời sinh. Ngay từ khi sinh ra, mỗi người đã được trời ban cho một số mệnh và điều đó quyết định số phận của họ sau này. Theo các môn Lý Số của phương Đông thì Bát Tự và mệnh con người gắn chặt với thời điểm mà họ sinh ra theo Tứ trụ là năm, tháng, ngày, giờ sinh. Theo khoa học hiện đại, thời điểm và địa điểm khi con người sinh ra chịu tác động của nhiều trường khác nhau như từ trường, điện trường, trường khí và luồng bức xạ của các thiên thể,.. không ai giống ai, bao gồm những đặc điểm không thể thay đổi như xuất thân, tướng mạo, và các yếu tố di truyền,.. và nó quyết định khí chất, tính cách của mỗi người, mà tính cách lại quyết định số phận.
Vận là sự vận động của Mệnh trên trục thời gian đến từng thời điểm nhất định trong cuộc đời con người, nó có thể thay đổi theo thời gian, dựa trên hành động, quyết định và môi trường sống. Vận cũng có thể coi như Thời, là kết quả của Mệnh sau khi chịu tác động của hoàn cảnh khách quan, là biểu hiện cụ thể của Mệnh trong cuộc sống. Nếu coi Mệnh như một đường trục thẳng thì Vận giống như hình sin dao động quanh trục đó.
Phong Thuỷ chiết tự là “gió” và “nước”, tựu trung lại là “khí”. Có thể hiểu nôm na là môi trường sống tác động lên con người, trong đó có cả môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và thế giới tâm linh.
Âm phúc là phúc đức của tổ tiên để lại và cũng là kết quả tích đức của bản thân.
Độc thư tức là đọc sách, ngày nay hiểu một cách khái quát đó là sự học hành, tích lũy kiến thức của bản thân.
Như vậy, có thể nói hai yếu tố đầu (Mệnh và Vận) là do Thiên Định, con người chỉ nắm bắt để hạn chế mặt xấu, phát huy mặt tốt chứ ít có thể tác động để thay đổi. Mà câu chuyện Oedipus làm vua trong thần thoại Hy Lạp là một ví dụ điển hình:
Nhà vua Laius và hoàng hậu Jocasta tại thành Thebes lấy nhau đã lâu nhưng chưa có con, bèn đến đền thờ thần Apollo cầu tự. Thần cho biết nhà vua sẽ có con trai nhưng đứa con ấy sau này sẽ giết cha, lấy mẹ. Để tránh tai hoạ, khi đứa bé vừa chào đời, nhà vua sai ném xuống thung lũng cho chết (chạy trốn số mệnh lần thứ nhất). Tuy nhiên, đứa trẻ lại được cứu thoát, mang sang nước láng giềng, sau được vua nước này đón về làm con nuôi, đặt tên là Oedipus. Lớn lên, Oedipus biết chuyện mình chỉ là con nuôi, buồn bã bỏ nhà đi, khi đến đền thờ thần Apollo lại được Thần phán chàng là người sẽ giết cha lấy mẹ. Hoảng sợ, Oedipus bèn bỏ đi thật xa để tránh số mệnh (cuộc chạy trốn thứ hai) nhưng không ngờ lại chạy về chính đất nước của cha mẹ đẻ mình. Tại đây, xảy ra tranh cãi với một đoàn người, chàng đã giết chết họ và vô tình giết luôn cả cha đẻ của mình trong đó. Oedipus vào thành Thebes, diệt được con nhân sư đang gây họa cho thành phố, chàng lên làm vua và lấy hoàng hậu của xứ này chính là mẹ ruột của mình. Sau khi biết được sự thật là người giết cha lấy mẹ, chàng tự chọc mù đôi mắt và bỏ đi, sống cuộc đời còn lại trong đau khổ và dằn vặt.
Câu chuyện trên nói lên một điều rằng, theo quan niệm của người xưa thì số mệnh là không thể thay đổi được, thậm chí nếu càng cố tình chạy trốn, nó càng đến nhanh hơn.
Như vậy, có thể coi Mệnh và Vận do trời định, tạo tích công đức (Âm đức) và tích lũy tri thức (Độc thư) do tự thân con người thực hành. Còn Phong Thuỷ nằm ở giữa hai phạm trù đó, vừa liên hệ với thế giới tâm linh huyền ảo, thần bí, vừa liên quan trực tiếp đến môi trường xung quanh.
Nói một cách hình ảnh, con người ta không thể tự chọn được cho mình cha mẹ, ngày sinh tháng đẻ, nhưng hoàn toàn có thể chọn được cho mình nơi ở và làm việc. Thậm chí có thể chủ động cải tạo nơi ở và làm việc cho phù hợp với địa thế, cảnh quan và các yếu tố tự nhiên khác theo ý thích của mình để có một cuộc sống hài hòa, khỏe mạnh và làm việc hiệu quả, đó chính là Phong Thuỷ.
Chính vì vậy, mặc dù là yếu tố thứ ba tác động đến số phận con người, đứng sau Mệnh và Vận, nhưng Phong Thuỷ lại là yếu tố mà con người có thể chủ động lựa chọn, vận dụng công năng trời đất để tác động vào Số Mệnh. Nên Phong Thuỷ được con người bao đời nay vẫn quan tâm và ứng dụng vào cuộc sống của mình để mang lại cuộc sống tốt đẹp.
Chuyện kể rằng: Vào triều đại nhà Minh, có một thư sinh tên là Tôn Hậu, gia đình bần cùng đành phải vượt sông đi dạy học để kiếm sống. Về sau, Tôn Hậu lại đến gia đình nhà họ Trương ở Đường Tây làm công việc ghi chép để đổi lấy miếng ăn. Một hôm, đêm đã khuya, tỳ nữ nhà họ Trương vụng trộm chạy đến gian phòng mà Tôn Hậu đang ngủ. Tôn Hậu biết rõ ý tứ của tỳ nữ này nên đã lớn tiếng nói: "Trong Thái Thượng cảm ứng thiên nói rằng: Tam Thai, Bắc Đẩu, Tam Thi Thần lúc nào cũng theo sát chờ đợi sẵn, để ghi chép lại hết sai lầm của từng người". Tưởng rằng, đêm khuya tĩnh lặng không người mà Thượng Thiên không biết hay sao? Tôn Hậu đã nghiêm khắc cự tuyệt. Tuy nhiên sự việc này lại bị vị thầy giáo dạy học của nhà họ Trương nhìn thấy. Ông ta liền lén lút gọi mời tỳ nữ này đến gặp gỡ để tư thông. Đến tết Đoan Ngọ, ông thầy giáo đó đột nhiên phát bệnh ung nhọt, toàn thân đau nhức, không có cách nào chữa trị. Lúc này, chủ nhà đành phải mời Tôn Hậu lên làm thầy giáo đứng lớp chính. Một hôm, Tôn Hậu gặp người chú của mình tại Giang Khẩu. Người chú này kinh ngạc nói: "Bởi vì con trai của ta bị bệnh nên ta đến miếu thờ Thành hoàng cầu nguyện. Đến lúc trời tối, ta ngủ luôn ở đó, không ngờ mơ thấy Thần thành hoàng ngồi trên điện. Sau đó, vị Thần thành hoàng kêu thuộc hạ dâng cuốn sổ ghi chép những người có mệnh bị chết đói lên để sửa đổi. Từng tên từng tên được đọc lên, khoảng chừng mười mấy người thì ta nghe thấy có tên của cháu. Ta hỏi vị quan sứ: "Vì sao mà Tôn Hậu lại được cải sửa?". Vị quan sứ nói: "Trong bổn mệnh của người này, vào năm 46 tuổi sẽ bị chết đói nơi đất khách quê người. Nhưng bởi vì vào đêm ngày 18 tháng Tư năm nay anh ta đã nghiêm khắc cự tuyệt thông dâm với một tỳ nữ, cho nên sẽ kéo dài tuổi thọ của anh ta thêm 24 năm. Đồng thời sửa lại số mệnh phải chịu đói khát thành được hưởng bổng lộc". Nói đến đây, người chú này liên tục chúc mừng Tôn Hậu. Về sau, học sinh theo học Tôn Hậu càng ngày càng đông, mỗi năm tiền học phí mà Tôn Hậu thu được lên đến hơn 100 lượng vàng. Đến năm 36 Vạn Lịch, Tôn Hậu 46 tuổi, quả nhiên năm đó mất mùa, giá gạo vô cùng đắt đỏ, những người nghèo hầu như không có tiền mua, người chết đói vô cùng nhiều. Nhưng Tôn Hậu không những tránh được kiếp nạn này mà cuộc sống cho đến cuối đời vẫn hết sức giàu có, Tôn Hậu thọ đến năm 70 tuổi, không bệnh mà qua đời. Ứng nghiệm với lời nói năm xưa ở miếu Thần hoàng.
Tự cổ chí kim, bất luận là người có tin vào Thần Phật hay người không tin vào Thần Phật, nhưng đối với "mệnh" thì họ lại vô cùng tin tưởng. Vậy "mệnh" này do ai an bài? Chính là Thiên Định.
THIÊN ĐỊNH
Mệnh
Mệnh là cái bất biến, không thể thay đổi, được xem là Thiên Định (nghĩa là khi được sinh ra, mỗi người đã mang sẵn một số mệnh). Người Trung Hoa nói “mệnh” là “Bát tự” (giờ, ngày, tháng, năm sinh viết theo Thiên can và Địa chi). Đây là cách xem vận mệnh của người Trung Hoa xưa. Căn cứ vào “Bát tự” có thể xem được quỹ đạo vận hành, vinh nhục, phúc họa, bần phú, thọ yểu trong cuộc đời mỗi người.
Tổng số ngày sinh dương và âm, những con số sẽ thể hiện nên một phần của số mệnh.
Trong Luận Ngữ - Nhan Uyên có viết: "Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại thiên", nghĩa là con người ta sinh ra trên đời sống chết đều có số mệnh, sướng khổ đều do trời định.
Vận
Vận được gọi là vận thế, vận khí, tức là thời vận của từng giai đoạn thời gian cụ thể nào đó, sẽ phát sinh thịnh hay suy, thông suốt hay bế tắc, vui buồn, sướng khổ, vinh nhục,.. đều đã được an bài sẵn. Con người chỉ có thể nương theo Vận số. Nếu gặp vận thịnh thì tranh thủ khai thác thuận lợi, gặp vận suy thì an phận thủ thường, có biện pháp phòng ngừa hợp lý để giảm bớt rủi ro.
Không giống Mệnh, chúng ta chỉ có thể chấp nhận hoặc thay đổi góc nhìn, cách đối diện và sự đón nhận nó. Vận là điều có thể thay đổi được, trong tầm kiểm soát của bản thân. Nếu ví “mệnh” là một chiếc xe xuất phát từ đầu đến cuối con đường, thì con đường đó như thế nào được xem là “vận”. Nên người ta thường mới chỉ đoán “mệnh”, còn “vận” là cái ta có thể kiểm soát được.
Vận có thể hiểu là một loại từ trường từ Tiên Thiên mang lại. Vận thế cũng còn được gọi là vận khí, ứng với sự biến hoá của thiên thể vũ trụ, ví như khí hậu bốn thời xuân hạ thu đông khác biệt,..
Mạnh Tử từng nói: "Đạt tắc kiêm tế thiên hạ, cùng tắc độc thiện kỳ thân”, ý là khi vận thế tốt thì nên giúp đỡ người khác, khi vận thế không hay thì nên chăm sóc lấy mình.
Bản tính Tiên Thiên luôn mang theo vận khí của chính mình, nên Vận cũng mang ý nghĩa chuyển động, 10 năm thì vận lớn, 5 năm vận nhỏ. Ngoài ra, còn cần phải căn cứ theo thiên can, địa chi và sự liên đới với sinh thần tương sinh tương khắc của mỗi người, ta sẽ thấy được vận khí mỗi năm mỗi khác, mỗi người mỗi khác.
Vận là một loại từ trường mang theo tự thân của mỗi người. Mặc dù vận thế là do thiên định an bài tuy nhiên chúng ta có thể cải đổi từ trường của chính mình. Trong những mối quan hệ thường ngày chúng ta dễ nhận thấy rằng có một số người khiến ta vừa gặp đã mến, có người lại khiến ta có cảm giác khó chịu, đây chính là từ trường hai bên tạo thành.
Một người nếu như luôn giữ tâm thái hoà ái, biết cảm ơn và yêu thương người khác, thường xuyên tươi cười, độ lượng, suy nghĩ tích cực sẽ dần dần chuyển biến năng lượng từ trường của bản thân theo hướng tích cực. Suy nghĩ tiêu cực, nhỏ nhen, oán giận, độc ác sẽ dần dần thay đổi năng lượng từ trường của chúng ta theo hướng xấu đi.
Tâm thái tích cực không chỉ chuyển biến từ trường xấu thành tốt cho bản thân mà còn hấp thụ những người khác có cùng từ trường tốt đến với mình, tạo nên những mối quan hệ tốt. Và đương nhiên vận cũng nhờ đó mà đổi thay, cơ hội tốt sẽ đến nhiều hơn. Vậy nên, thái độ tích cực chính là cách tốt nhất để cải vận.
NHÂN ĐỊNH - Những yếu tố ảnh hưởng đến Vận Mệnh
“Nhân định thắng thiên”, ý chí của con người có thể thắng được hoàn cảnh, số phận.
"Mệnh do kỷ lập, phúc tự kỷ cầu": Số phận của mỗi người do bản thân của người đó tạo ra, phúc do bản thân tự đi tìm.
"Sự tại nhân vi, hưu ngôn vạn ban giai thị mệnh, Cảnh do tâm tạo, thối hậu nhất bộ tự nhiên khoan”: Mọi việc đều là do con người quyết định, không nên nói rằng tất cả mọi thứ đều là do vận số sắp đặt. Con người ta không nên quá cố chấp, nên hiểu đạo lí được mất tiến lùi, có nhiều khi lùi một bước, nhượng bộ một chút thì cơ hội sẽ rộng lớn hơn.
Vận mệnh nằm trong tay ta.. Số mệnh con người, ba phần là do trời định, bảy phần do con người tạo ra.
Đời người, vốn dĩ là một quá trình vừa đi vừa lĩnh hội, trải nghiệm, thế gian vạn vật đều có quy luật.
Con người không thể tự mình chọn cha mẹ và ngày sinh tháng đẻ, nhưng hoàn toàn chọn được nơi ở và làm việc cho mình. Thậm chí có thể cải tạo chúng để có một cuộc sống tốt đẹp nhất, đó chính là Phong Thuỷ.
Phong Thuỷ
Phong Thuỷ bao gồm môi trường tự nhiên và sự ảnh hưởng của nó đối với cuộc sống. Hiểu đơn giản nếu ví con người như cái cây thì Phong Thuỷ là môi trường nơi cái cây đó sinh sống.
Phong Thuỷ tốt có thể cải thiện cuộc sống bằng cách tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển và thịnh vượng. Ngược lại, Phong Thuỷ xấu có thể gây ra những khó khăn và trở ngại. Do đó, việc sử dụng Phong Thuỷ để cân bằng và điều chỉnh không gian sống là một yếu tố quan trọng trong việc cải thiện Vận Mệnh.
Phong Thuỷ nghiên cứu về sự tương tác giữa con người và không gian sống, từ đó tìm cách tối ưu hóa năng lượng để mang lại sự hài hòa và may mắn. Việc chọn nhà chọn đất, hướng, màu sắc, chất liệu,.. hay cách bài trí đối với kiến trúc, nội thất hay ngoại thất đều ảnh hưởng rất nhiều đến vận khí ở đó. Hướng tốt sẽ mang lại năng lượng tích cực, sắp xếp đồ đạc hợp lý giúp lưu thông năng lượng, màu sắc phù hợp sẽ cân bằng năng lượng và tạo cảm giác thoải mái.
Sách Táng Thư viết: “Mai táng phải chọn nơi có sinh khí”. Khí gặp gió(Phong) ắt tán, gặp nước(Thuỷ) thì dừng. Cổ nhân phải làm sao cho khí tụ chứ không tán, nước chảy có chỗ dừng, vậy mới gọi là Phong Thuỷ. Nơi khí tụ là huyệt cát, nơi khí tán là huyệt hung. Huyệt cát phải có thế đứng Hậu Huyền Vũ, nghĩa là lưng dựa vào miếng đất cao, hay đất là cuối dãy núi lớn, trước mặt có khoảng trống, thấp, tốt nhất có dòng nước chảy. Tả Thanh Long nghĩa bên trái có đã núi cao, toả ra như 2 cánh tay che bên trái huyệt đất. Hữu Bạch Hổ nghĩa là bên phải cũng có một dãy núi hoặc gò đất cao che bên trái huyệt đất. Tiền Chu Tước nghĩa là ngoài vùng nước có một miền đất cao như bình phong che chắn gió thổi vào huyệt.
Tác giả trong cuốn Táng Thư đã lần đầu tiên đưa ra danh từ Phong Thủy, cũng như đặt ra cái khung lý luận cho Phong Thủy, cho nên được coi là ông tổ trong giới Phong Thủy. Quách Phác (276-324) một học giả thời Đông Tấn, đã đưa ra định nghĩa về Phong Thủy trong cuốn Táng Thư như sau: "Táng giả, Tạng dã, Thừa sinh khí dã.. khí thừa phong tắc tán, giới thủy tắc chỉ, cổ nhân tụ chi sử bất tán, hành chi sử hữu chỉ". Quách Phác đã đưa ra khái niệm về "khí", đồng thời đưa ra những phát hiện ngắn gọn về biểu hiện của hai loại nhân tố Phong và Thủy, từ đó nhận thức về sự xuất hiện và kết thúc của "khí".
Quan điểm của Quách Phác: “Khí thừa phong tắc tán, giới thủy tắc chỉ” truyền tải ba thông điệp chính: Thứ nhất đó là mô tả bản chất, và sự tồn tại của khí. Khi ở trong một môi trường quá thoáng, dòng khí di chuyển quá nhanh sẽ khiến cho khí không tụ lại. Khí tụ phải thỏa mãn yêu cầu “Tiên Hậu thiên tương thông”, khi thỏa mãn điều kiện này dòng khí trong một ngôi nhà hoặc một công trình kiến trúc mới có thể di chuyển theo hình chữ Z được. Khi tốc độ di chuyển của khí lớn hơn nhịp mạch đập thì con người cảm thấy lạnh, nhỏ hơn nhịp mạch đập thì cảm thấy nóng bức, bằng với nhịp mạch đập thì sẽ thấy dễ chịu, đó là sự cảm nhận của con người chúng ta về sự di chuyển của khí. Thứ hai chỉ ra phương pháp để đạt đến cảnh giới “ tàng phong tụ khí” của Khí. Sự di chuyển của khí sẽ tạo nên những điểm động và tĩnh, sự giao thoa giữa động và tĩnh khí mới đạt đến sự cân bằng hài hòa, tức khí không bị tán. Thứ ba nêu bật tác dụng và vai trò của Thủy. Tác dụng của Thủy chỉ gói gọn trong tám chữ: “ Thủy khứ Phong lai, Thủy lai Phong chỉ”.
Sinh khí tức khí chuyển hóa trong một đại nguyên. Sách Tứ khố Toàn Thư viết: “Khí tại thiên chu du lục hư, tại địa sinh phát vạn vật”. Thế giới vật chất hình thành nên từ trạng thái hỗn độn của khí, trạng thái hỗn độn đó gọi là trạng thái Vô cực. Người xưa cho rằng Vô cực sinh Thái cực. Thái cực tức là điểm Thái cực, nơi Dương và Âm phân hóa hình thành nên Lưỡng Nghi. Trong bát quái tiên thiên, hai quẻ Càn Khôn gọi là Thiên địa định vị, sáu quẻ còn lại gọi là lục hư. “Hư” có nghĩa là khí, cũng chỉ sáu lần chuyển hóa để hình thành khí của các quẻ tượng của âm và dương trong không gian ( hư không). Ấy là “Khí tại thiên chu du lục hư” vậy.
Sách Táng Thư viết: “Ngũ khí hành hô địa trung, phát nhi sinh hô vạn vật”. Ngũ khí, tức khí của ngũ hành. Khí của ngũ hành thay đổi thông qua sự chuyển hóa của Thiên vận, thể hiện ra bên ngoài bằng hình thái của muôn ngàn sự vật khác nhau trên mặt đất. Tức trong sự vận hành của vũ trụ ở mỗi thời gian khác nhau sẽ có những biểu hiện cụ thể đối với một không gian tương ứng. Người xưa nhờ có sự quan sát và nhận thức tinh tế về vũ trụ, đã kiến tạo cho mình một không gian sống phù hợp với quy luật của thời gian và không gian ấy. Đó là kết quả của việc “nhân pháp địa”, tức con người học và làm theo những gì thể hiện trên mặt đất, ví dụ khi mặt trời mọc con người thức dậy, mặt trời lặn người ta nghỉ ngơi v.v. những thể hiện đó mang tính quy luật. Vạn vật sinh ra, tồn tại và mất đi đều bị chi phối bởi quy luật của tự nhiên, như sách Đạo Đức Kinh đã đúc kết: “ nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên”. Nghĩa là con người thay đổi theo những đổi thay thể hiện trên bề mặt đất, những thay đổi đó bị chi phối bởi sự vận hành của vũ trụ, sự thay đổi của vũ trụ tuân theo một quỹ đạo và qui luật bất biến, đó chính là quy luật của tự nhiên.
Không gian - thời gian, âm - dương, phong - thủy đều chỉ hai mặt đối lập - thống nhất của những cặp khái niệm chỉ một sự vật, hiện tượng. Tùy theo sở chỉ của chúng mà có những cặp khái niệm tương ứng. Trong sự thống nhất - đối lập này, yếu tố khí đóng vai trò hết sức quan trọng. Người xưa nói “ Khí hữu chất nhi vô chất”, tức khí có mặt khắp nơi trong không gian nhưng không chiếm lấy không gian. Khi thời gian và không gian thống nhất với nhau, biểu hiện của khí là Vượng, con người sống trong môi trường đó sẽ cảm thấy dễ chịu, thoải mái, công việc hanh thông thuận lợi, sức khỏe tốt, gia đạo thuận hòa, kết quả sự thống nhất giữa ba yếu tố không gian - thời gian - con người là Cát. Ngược lại là Hung. Một công trình xây dựng muốn vượng khí phải thỏa mãn yêu cầu tụ khí.
Phong thủy là một tập hợp các yếu tố đối lập và thống nhất với nhau. Các khái niệm Phong - Thủy, Âm - Dương, Tĩnh - Động, Linh thần - Chính thần, Cát - Hung, Thống nhất - Đối lập là những cặp khái niệm mang tính định danh để thể hiện các trạng thái, tính chất, đặc tính của không gian và thời gian. Khi đạt đến sự cân bằng, hài hòa, không gian thời gian thống nhất với nhau, môi trường và không gian sống phù hợp phong thủy, nó ảnh hưởng tích cực đến đời sống sinh hoạt của con người sống trong môi trường ấy. Ngược lại nếu không thuận phong thủy, nó sẽ có ảnh hưởng tiêu cực.
“Khí trời chuyển vận, thánh nhân ra đời, thánh nhân trăm năm mới sanh”
"Địa linh nhân kiệt, nhất phương thuỷ thổ dưỡng dục nhất phương nhân", mỗi vùng đất sẽ nuôi dưỡng ra mỗi kiểu người khác nhau. Mỗi người sinh ra ở mỗi vùng miền có địa hình khí hậu, đồ ăn thức uống khác nhau thì sẽ mang những nét đặc trưng về ngoại hình, thể chất, tính cách,.. khác nhau
Các bậc cao tăng ẩn sĩ khi xưa, thường chọn những danh sơn địa linh để cư ẩn, và trên thực tế phần lớn các danh sơn trên thế giới đều có các bậc tu hành cư ngụ. Một người có thể tìm được cho mình một khu vực có phong thuỷ tốt để sinh sống sẽ phần nào hỗ trợ tương sinh với vận mệnh của mình.
Từ đó ta có thể cải thiện Phong Thuỷ bằng cách bắt đầu từ những việc đơn giản như sắp xếp lại không gian sống và làm việc theo các nguyên tắc Phong Thuỷ để tạo ra sự cân bằng và hài hòa.
Tuy nhiên đứng từ một góc độ cao hơn mà xét thì “vạn vật tùy tâm”, tất cả đều do tâm người mà định. Phong thuỷ dẫu tốt nhưng tâm người bất chính thì cũng vô ích, Thần đất, địa linh cũng sẽ rời đi. Ngược lại nếu một người tâm tính thiện lương, thì dù có sống ở đâu cũng là bảo địa phong linh.
Chuyện kể rằng: Vào thời Bắc Tống, viên quan Phạm Trọng Yêm có xử lý một vụ kiện cáo về phân chia đất của hai người nhà. Trong đó có một miếng đất có tảng đá chỉ ngay trước cửa nhà gọi là "Vạn tiễn xuyên tâm", cả hai nhà đều không ai dám nhận mảnh đất đó nên tranh chấp phát sinh. Phạm Trọng Yêm nói: "Không sao, ta sẽ lấy miếng đất đó, ta sẽ đổi cho các ngươi". Kết quả là sau khi đổi cho hai người họ không lâu, một hôm có trận mưa to gió lớn, nước cuốn ầm ầm, cuốn tất cả đá trong khu vực đó dồn về chỗ tảng đá trước trước cửa. Địa thế trước đây vốn dĩ là "Vạn tiễn xuyên tâm" nay lại thành "Vạn hỗ triều thiên", biến thành bảo địa cát tường.
Phong thuỷ quan trọng nhưng lòng người hướng thiện còn quan trọng hơn, có câu: “Người thiện phúc tự tìm”.
Phong Thuỷ lớn nhất là Đức, và Đức lớn nhất đó là Hiếu
“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ, kính cha Cho tròn chữ hiếu, mới là đạo con”
“Ăn ở có đức, mặc sức mà ăn”, học được cách tích đức, tức là ta đã học được cách cải biến số phận của mình, mang lại phước lộc dồi dào.
Tương truyền, vào những năm đầu, Lưu Bá Ôn, khai quốc công thần của nhà Minh, Trung Quốc, trên đường đi khát nước nên đã ghé qua một gia đình để xin nước. Bà chủ nhà múc một gáo nước nhưng lại rắc một nắm vỏ thóc vào nước. Lưu Bá Ôn thấy vậy rất không vui, nhưng quanh đây lại chỉ có duy nhất hộ gia đình này, ông chỉ có thể vừa thổi vừa từ từ uống. Sau đó, trong quá trình nói chuyện, người phụ nữ biết Lưu Bá Ôn biết xem phong thủy nên nhờ ông xem chọn giúp mình một mảnh đất, Lưu Bá Ôn vì chuyện lúc nãy thấy không vui nên đã chỉ bừa cho họ một mảnh. Nhiều năm sau, Lưu Bá Ôn quay lại nơi này, phát hiện gia đình người phụ nữ cho mình nước uống năm đó con cháu đầy nhà, gia đình giàu có. Người phụ nữ sau khi nhận ra Lưu Bá Ôn đã vội vàng vui mừng mời ông vào nhà. Lưu Bá Ôn nhắc lại câu chuyện đi xin nước năm đó bị cho vỏ thóc vào trong nước, người phụ nữ tươi cười giải thích: "Khi ấy tôi tôi thấy ngài đang vội, người toàn là mồ hôi, nếu để ngài uống một hơi hết luôn nhanh quá, sợ ngài sẽ sinh bệnh, vì vậy tôi cho thêm chút thóc lép vào để ngài giải nhiệt từ từ, uống từ từ." Lưu Bá Ôn cảm thán, gia chủ tới một người dưng nước lã mà còn chăm sóc chu đáo như thế, chẳng trách phong thủy lại tốt tới như vậy.
Phúc khí của một người không ở đâu xa, phong thủy thượng đẳng nhất tồn tại ở những người luôn giữ cho mình một tâm sạch nhất.
Thiện ác hữu báo, tuy mệnh, vận, phong thuỷ đều là những nhân tố then chốt trong cuộc đời chúng ta, nhưng có một điều còn quan trọng hơn cả ba thứ trên gấp trăm ngàn lần, đó chính là lòng thiện lương. Cổ nhân có câu: "Người thiện lương không cần xem phong thuỷ”. Phật giảng: "Phật nhìn nhân tâm", một người tâm địa hiền hoà thì ở đâu trời đất cũng dung hoà.
Nhân sinh tại thế, đời người chính là trường lựa chọn, người chọn thiện lương trời cao ắt có an bài, một niệm khác nhau, kết quả cũng khác nhau. Trong cuộc sống, những gì bạn làm cho người khác cũng chính là làm cho bản thân mình. Bạn cho yêu thương, sẽ gặt hái yêu thương. Nên “nếu bạn muốn được yêu thương, thì trước tiên hãy yêu thương người khác”, “nếu bạn muốn người khác đối xử tốt với mình, trước tiên hãy đối xử tốt với họ”.
Sinh mệnh của con người cũng tựa như “một tiếng vọng”, bạn dành lương thiện cho người khác, cuối cùng thiện lương lại quay trở về bên bạn. Dù bạn đối xử tốt với ai, thì nhìn xa hơn thực ra lại là tốt với chính mình. Khi bạn phát hiện thấy từng nhành cây, ngọn cỏ, từng bông hoa đều đang mỉm cười với bạn, khi bạn phát hiện ra rằng mọi chuyện đều hanh thông thuận lợi, khi bạn phát hiện ra những người xung quanh ngày càng yêu mến bạn, thì đó chính là tiếng vọng lại từ tâm của bạn.
Thuận theo tự nhiên, nếu chúng ta ươm xuống những hạt giống lương thiện, thì sẽ có một ngày chúng kết trái đơm hoa.
Phật giảng: "Mọi phúc lành đều không tách khỏi chữ Tâm”.
Phúc báo
“Hưởng phúc bất khả hưởng tận”, hưởng phúc không nên hưởng hết, nhường ba phần cho người khác, phúc mà hưởng hết ắt có ngày mang họa. Khi đã đủ đầy thì nên chia sẻ, giúp đỡ người khác thì phước càng thêm phước.
“Đức bất phối vị, tất hữu miệt ương”: Đức không xứng địa vị, ắt gặp họa triền miên. Hưởng lợi mà không làm việc thiện thì ắt gặp họa, chịu khổ nạn nhưng biết hành thiện tích đức thì phúc đến viên mãn.
“Người làm việc thiện tuy phúc chưa đến, nhưng họa đã rời xa”
“Không được thấy việc xấu nhỏ mà làm, không được thấy việc thiện nhỏ mà không làm. Lương thiện là phúc khí, làm thêm một việc thiện là tích thêm một phần phúc đức”
Người đại phúc, thiên kim phú quý ắt sẽ có tướng đài cát cao sang, tất thảy cũng là từ đức mà ra. Phúc có thể hưởng thụ, nhưng không được lãng phí. Đức chính là tài sản lớn nhất trong cuộc đời mỗi người. Đức càng nhiều thì càng giàu có. Đức càng nhiều thì càng hạnh phúc, càng ung dung tự tại. Khi đức bị dùng hết thì những sự tình đen đủi sẽ bắt đầu tìm đến.
Tài phú là một trong những loại thể hiện phúc báo và đức của một người. Trong mệnh có bao nhiêu đức thì có bấy nhiêu tiền của. Nếu trước đây bạn sống trong nhung lụa, tiền tiêu không cần lo nghĩ. Nhưng giờ đây liên tiếp gặp những chuyện khiến phải tiêu hao tiền của nhiều, thậm chí sự nghiệp cũng đi xuống thì đây là bạn đã dùng hết phúc của mình. Khi đức dùng hết thì tiền của không tương xứng với đức, ông Trời sẽ thu hồi tài phúc của bạn.
Khi không có đức thì oan gia trái chủ xung quanh sẽ có cơ hội báo thù. Nghiệp lực cũng sẽ được thể hiện, dù cố gắng làm gì cũng không thuận, thậm chí sinh bệnh lâu ngày mà chẳng thể nào khôi phục được sức khỏe.
Mỗi một người có mặt ở trên đời này đều là vì có phúc báo nên mới có thể sống. Cho nên phải nhớ rằng đừng chỉ dùng hết phúc báo mà không lo tu bổ thêm.
Chúng ta nên hiểu rõ “nhân cách và đức hạnh” mới là tài phú quý báu nhất của đời người. Khi chúng ta đã là người có “nhân cách đức hạnh” thì nhất định sẽ có phúc báo và cuộc sống của chúng ta sẽ trôi qua yên bình, hạnh phúc. Đừng than phiền khi gặp khó khăn, cuộc sống không được như ý muốn bởi vì có thể đó là bạn đang chịu khổ mà tích đức, tích phúc báo cho tương lai.
Tích âm công: Từ “âm” trong “âm đức” ám chỉ sự thực hiện hành đức một cách lặng lẽ, không công bố ra ngoài cho mọi người biết. Âm đức là hành đức không cần công bố, làm điều tốt không cần khen ngợi, sẵn lòng hy sinh mà không cần nhận lại. Nếu làm việc thiện chỉ vì lợi ích cá nhân hoặc sự khoa trương, thì âm đức thực sự sẽ mất đi. Hành thiện tích âm đức là không làm hại người khác bằng hành động hay lời nói, một hành động nhỏ cũng có thể tích âm đức.
Âm đức là phúc đức mà mỗi người tích lũy qua những hành động thiện lành và lòng từ bi. Đây là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến Vận Mệnh và Phong Thuỷ của một người.
"Đức năng thắng số", tức là đức hạnh và phẩm chất tốt đẹp của con người có thể vượt qua và thay đổi số phận đã được định sẵn. Việc làm nhiều điều tốt, giúp đỡ người khác sẽ tích tụ âm đức, tạo ra năng lượng tích cực và thu hút những điều tốt đẹp đến với cuộc sống.
Đạo đức kinh nói: "Thiện hành vô triệt tích", người có tâm địa trong sạch, luôn hành thiện tích đức với một trái tim đơn thuần.
Bất luận là văn hoá Đạo gia, Nho gia, hay Phật gia, thì đều đề xướng việc giúp người “tích đức hành thiện”. Theo quan điểm của Đạo Phật, tích đức hành thiện sẽ thay đổi nghiệp quả ác từ đời trước, tạo nên phúc báo và nếu làm nhiều có thể góp phần cải thiện Vận Mệnh hiện tại. Thực tế cho thấy hạnh phúc của con người đạt được khi hạnh phúc ấy được chia sẻ cho mọi người. Những ai đã từng cho đi sẽ hiểu được cảm giác hạnh phúc của hành động đó. Mà bạn có thể hạnh phúc, nghĩa là bạn đã nhận lại được rất nhiều.
“Nhất thiện giải bách tai”, có thể thông qua hành vi quyên góp ủng hộ, cứu tế hiến máu nhân đạo, bố thí giúp đỡ người khó khăn, sửa cầu vá đường, phóng sanh,.. tiến hành tu sửa Vận Mệnh.
“Thiện ác hữu báo”, ai cũng biết là khi ta đối xử như thế nào với những người xung quanh thì ta cũng sẽ nhận được lại điều tương ứng, và không có ai chịu đối xử tốt với một người đã xử sự không ra gì với mình, “bánh sáp đi, bánh quy lại” cũng như “ăn miếng thì trả miếng” có chung ý nghĩa về nhân quả.
Việc cải mệnh thực ra có rất nhiều cách: từ thiện tích đức, hiếu thảo với cha mẹ.. Mệnh ta là do trời định nhưng Vận ta là do ta định. Mệnh như thế nào là tốt, như thế nào là xấu, việc đó hoàn toàn không có khái niệm rõ ràng, nhưng làm việc thiện từ tâm thì sẽ có thể cải thiện số mệnh.
Đọc sách
Bất luận là thời cổ đại hay ngày nay, mọi người đều cho rằng đọc sách là cách tốt nhất để cải biến vận mệnh của mình. Thông qua những cuốn sách, ta có thể nâng cao tri thức, mở rộng tầm nhìn, kết nối với bạn bè năm châu, từ đó nâng cao giá trị của bản thân. Đọc sách cũng là cách nhanh nhất để cập nhật những thông tin, văn hóa. Tiếp thu lượng tri thức khổng lồ, vô tận của toàn nhân loại và trở thành người lỗi lạc, có trí tuệ. Tri thức giúp con người có cái nhìn nhận thức rõ hơn về cuộc sống, cải thiện bản thân và đưa ra những quyết định sáng suốt. Đọc sách cũng giúp tăng cường khả năng tư duy, giải quyết vấn đề và đối phó với những thách thức trong cuộc sống.
Đọc sách giúp bạn có cái nhìn chuẩn mực hơn về giá trị quan, nhân sinh quan và cả thế giới quan (định hình quan điểm, niềm tin, lý tưởng, góc nhìn xác định về thế giới). Nhờ sách mà bạn có thể thấu hiểu những bài học của các bậc cao nhân thời xưa. Khi đọc sách bạn sẽ không còn bị giới hạn bởi một góc hạn hẹp của cuộc sống. Có thể thoải mái du ngoạn từ Đông sang Tây, từ cổ kim cho tới hiện tại, hiểu biết rộng khắp bốn biển, không ngừng học hỏi, đọc sách sẽ nuôi dưỡng bên trong bạn một tấm lòng rộng lượng, một lý tưởng lớn lao, rộng mở. Bạn còn có thể mở rộng phạm vi giao tiếp, tìm cho mình những người bạn tâm đầu ý hợp. Tất cả những lợi ích từ đọc sách là vô hạn, trong đó hàm chứa cả việc thay đổi Vận Mệnh của một con người.
Tri thức không chỉ đến từ sách vở mà còn từ những trải nghiệm và học hỏi không ngừng. Việc tiếp thu kiến thức mới giúp mỗi người có thể thích nghi và phát triển trong môi trường thay đổi liên tục.
Các yếu tố khác ảnh hưởng đến Vận Mệnh
Tướng
“Nhất thanh, nhị sắc, tam hình” “Thượng tướng tướng thanh vận, trung tướng tướng tinh thần, hạ tướng tướng hình sắc” Nhân tướng học chia thành 3 loại tướng chính: Thanh tướng: Âm giọng, dùng Tai để nghe Thần tướng: Thần sắc, dùng Tâm cảm nhận Hình tướng: Hình dáng, dùng Mắt để quan sát Tai, Mắt và Tâm là 3 bộ phận để đánh giá con người, gọi là Tam Yếu. Hình là dung mạo có từ khi sinh ra. Thần thái quyết định bởi quá trình tu dưỡng. Tướng mạo của một người là sự kết hợp giữa “hình” và “thần”. Từng ý từng niệm thể hiện trong sinh hoạt thường ngày của mỗi người, qua năm tháng đều ngưng tụ trên gương mặt, gọi là “Hữu chư nội tất hình chư ngoại”, những gì bên trong sẽ hiện ra bên ngoài. "Giám mạo biện sắc, hữu chư nội tất hình ư ngoại": Nhìn diện mạo xem khí sắc, bên trong thế nào sẽ hiện ra bên ngoài thế ấy.
“Hữu tâm vô tướng, tướng do tâm sinh. Hữu tướng vô tâm, tướng tùy tâm diệt”
"Khí sắc hối trệ họa vô đơn hành": Khí sắc ám hãm, họa đến.
"Nhìn tướng biết tâm, nhìn tâm biết mệnh".
“Tướng do tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển”, ý nói tướng bên ngoài một người có thể nói lên nội tâm bên trong, từ tâm tính có thể đoán biết tương lai. Một người nếu chuyển biến tâm tính thì tự khắc hoàn cảnh, phúc phận cũng chuyển biến theo.
“Người thanh tiếng nói cũng thanh Chuông kêu khẽ đánh bên thành cũng kêu” (Người thanh lịch thì tiếng nói cũng thanh lịch, chuông đã âm vang thì đánh nhẹ cũng sẽ âm vang)
“Xem tướng đàn bà qua giọng nói, hiểu lòng đàn ông qua cách tiêu tiền”
Sách “Tướng lý xung chân” đã có đoạn trình bày rất rõ ràng và chi tiết về những tiêu chuẩn tốt xấu, điềm lành và điềm dữ trong tiếng nói của những con người, cũng như những tiêu chuẩn tốt xấu, điềm lành và điềm dữ trong giọng nói trong Ngũ hình như sau: “Trời cao có tiếng sấm rền, dưới đất có tiếng gió thổi, núi cao có tiếng của suối nguồn róc rách, biển sâu có tiếng sóng vỗ bờ”. Tiếng nói của con người xuất phát từ thượng đan điền, trung đan điền hoặc hạ đan điền. Nếu tiếng nói xuất phát từ hạ đan điền thì được cho là ở bậc trên, xuất phát từ trung đan điền thì không tốt bằng và nếu xuất phát từ thượng đan điền thì sẽ kém hơn.
Những người mà tiếng nói xuất phát từ hạ đan điền thường rất sâu sắc, coi trọng tình cảm, sống chan hòa, thân thiện với mọi người, thông minh, hoạt bát và sẽ có được cuộc sống phú quý, sang giàu. Những người mà tiếng nói xuất phát từ trung đan điền thường không mấy sâu sắc, nhìn vẻ bề ngoài cũng thấy rõ sự hời hợt, thường đối xử không công bằng với mọi người theo kiểu “nhất bên trọng, nhất bên khinh”, giọng nói trong trẻo, không có điểm nhấn. Cuộc sống của những chủ nhân hoặc sẽ có thành có bại hoặc sẽ nghèo trước giàu sau hoặc sẽ giàu trước nghèo sau. Những người mà tiếng nói xuất phát từ thượng đan điền, phát ra ở đầu lưỡi thường có tính tình nóng vội, hoang dâm vô độ, cuộc sống vất vả, phải chịu nhiều khổ cực.
Nếu tiếng thanh mà tròn, vang mà rõ, kiên quyết mà vẫn nhẹ nhàng, nhẹ nhàng lại thanh cao, nhanh mà vẫn hòa nhã, dài và có sức thuyết phục, có uy lực và điểm nhấn, khi nói to thì như hổ gầm, chắc chắn như bước chân của rùa, khi nói nhỏ thì mềm mại như tiếng suối chảy róc rách trong khe núi, như tiếng đàn réo rắt, vang xa, như tiếng gõ trong lu, hoặc ví von như tiếng khèn, mang lại cho người nghe cảm giác bình yên, ấm áp, thì tất là người phú quý, trường thọ.
Nếu tiếng nói vội vàng mà lại khàn khàn, nhẹ nhàng mà lắng đọng, sâu sắc mà như nghẹn lại, hoặc tiếng nói như chiêng vỡ, như tiếng kêu não nùng, như tiếng kêu yếu ớt của hươu nai lạc bầy, chim mất tổ, hoặc tiếng nói nghe vo ve như ong vàng gọi bầy, như nhặng tìm bạn, như ve sầu kêu ai oán cuối mùa thu, như tiếng giun đất thở than trong đêm vắng. Tiếng nói như của những người ái nam ái nữ, những người mà cơ thể thì to còn tiếng nói thì nhỏ, khi đứt đoạn khi lại liên tục, tiếng nói nghe như nghẹn tắc trong cổ họng hoặc giọng nói cứ hổn hển như thiếu hơi, hoặc những người chưa cất giọng nói mà mặt đã biến sắc.. đều sẽ có số phận không mấy tốt đẹp.
Tiếng nói của người quân tử thường rất rõ ràng, dõng dạc mà vẫn nhẹ nhàng, vang xa và rất có điểm nhấn, dù họ nói to hay nói nhỏ thì người nghe vẫn cảm nhận rất rõ ràng uy lực ẩn chứa trong đó.
Ngược lại, tiếng nói của những kẻ tiểu nhân thường rất yếu ớt, thiếu sức sống, trầm đục, nói nhanh mà không rõ ràng, không có điểm nhấn nên cuộc sống sẽ gặp rất nhiều khó khăn, bần hàn.
Những người là nữ giới nhưng lại có giọng nói mạnh mẽ và uy lực như nam giới thường có tính cách rất cương trực, vững vàng trong cuộc sống nhưng lại gặp trắc trở trên đường tình duyên, có thể sẽ phải tái hôn thì mới được hạnh phúc.
Ngược lại những người là nam giới nhưng giọng nói lại như nữ giới thường có tính cách ẻo lả, yếu ớt, không mạnh mẽ.
Những người có phần hình tương xứng với phần thanh (giọng nói) thì sẽ gặp được nhiều điều tốt đẹp trong cuộc sống, thường sẽ có cuộc sống giàu sang, phú quý và trường thọ. Ngược lại, những người mà phần hình tương khắc với phần thanh thì cuộc sống sẽ gặp rất nhiều trắc trở, khó khăn, hung họa.
Tiếng nói là một phần rất quan trọng trong tướng lý nên khi xem tướng cần lắng nghe thật kỹ tiếng nói của họ. Những bậc thầy tướng số hoàn toàn có khả năng nghe tiếng nói mà đoán định được chủ nhân của giọng nói đó là kẻ tiểu nhân hay là người quân tử.
Chỉ cần để ý sẽ biết phần Tướng và Vận Hạn của một người sẽ ảnh hưởng nhau theo từng giai đoạn trong cuộc đời.
Dưỡng sinh là giữ thân tâm đều khỏe mạnh. Thời xưa dưỡng sinh đơn giản là sự vận động về cơ thể, tuy nhiên ngày nay người ta thường nói dưỡng sinh là dưỡng cả tâm và thân. Hơn nữa cần sống thuận theo quy luật tự nhiên, “mặt trời mọc thì thức dậy, mặt trời lặn thì nghỉ ngơi”, phù hợp với quy luật vận hành bốn mùa của trời đất.
Tu tâm dưỡng tính, tâm tính tốt thì sẽ sinh ra những việc làm tốt dẫn đến đức độ, thu hút nhiều điều tốt hơn, Vận Mệnh được cải thiện hơn.
Có thể thông qua tu luyện khí công hữu ích, luyện thư pháp, hội họa, nuôi chim, trồng hoa cảnh, học tập văn hóa khoa học tri thức, không ngừng tăng cường tu dưỡng thân tâm, từ bỏ tâm tính bất lương.
Người ăn chay tâm tính có phần ôn hoà hơn rất nhiều nên cũng góp ít nhiều vào việc tu tâm dưỡng tính để cải thiện Vận Mệnh cũng như có sức khoẻ tốt hơn, cơ thể nhẹ nhàng hơn.
Kết giao: Gặp được thầy giỏi, giao du với người tốt.. chọn bạn mà chơi.
Chọn nghề, chọn bạn đời: Chọn đúng nghề nghiệp phù hợp và chọn đúng vợ/chồng (tương hợp) để cùng nhau phát triển.
Kính Thần: Tín ngưỡng, sự kính trọng thần phật, tổ tiên, tin vào nhân quả (Ở đây không khuyến khích sự mê tín, mà là nuôi dưỡng lòng biết ơn, sống có văn hoá và tự cho bản thân một chỗ dựa tinh thần, một niềm tin, một mục tiêu đủ lớn để biết mình đi đâu, mình sống vì điều gì và lúc gặp bế tắc thì sẽ không bị mất phương hướng, bởi luôn có một nơi để quay về).
Tìm lành tránh dữ: Sử dụng các phương pháp thuật số (xem ngày, phong thủy..) để tận dụng cơ hội tốt, hạn chế rủi ro.
Danh tính
Tính danh học (môn khoa học truyền thống của Trung Quốc), áp dụng các nguyên lý âm dương, ngũ hành, can chi, bát quái để đặt tên, sửa tên nhằm góp phần tích cực trong việc cải thiện số mệnh con người, giảm trừ những tác động tiêu cực có thể xảy ra. Để biết mệnh của mình thiếu hành gì phải dùng môn Bát Tự để xem xét, sau đó đặt lại tên để bổ cứu.
Dựa vào Ngũ Hành của bản thân, chọn lấy một cái tên phù hợp cũng sẽ có tác dụng tốt đối với Vận Mệnh. Phương pháp này có một tác dụng nhất định vì họ tên sẽ theo con người suốt cuộc đời. Chẳng hạn, nếu đứa trẻ sinh ra với giờ ngày tháng năm đã định thì thầy mệnh lý xem xét dụng thần của đứa trẻ này là gì? Họ sẽ chọn một cái tên đúng với dụng thần của đứa trẻ.
Ví dụ đứa trẻ cần Hoả, thầy có thể chọn tên Tâm hoặc Tuệ (Hỏa). Rất nhiều người không hiểu được bí mật này nên chỉ chọn tên không xung khắc với Ngũ Hành Nạp Âm (Đại Khê Thủy, Tích lịch Hỏa,..) của đứa trẻ , điều này thật đáng tiếc.
Ngoài ra, làm điều xấu sẽ gây ra nghiệp chướng, tổn hại đến phúc đức của bản thân:
Nghiệp: Để ám chỉ những hành động tạo tác của chúng sinh thông qua ba điểm là cái thân, cái miệng và suy nghĩ. Các hành động này được lặp đi lặp lại nhiều lần và dần trở thành thói quen. Chướng: Từ này thì có khá nhiều nghĩa nhưng xét trong đạo Phật thì nó có nghĩa là cản trở, ngăn cách hay che lấp.
Nhìn chung thì nghiệp được tạo nên từ chính những suy nghĩ, tư tưởng, lời nói và hành động của chính chúng ta hàng ngày. Nói dễ hiểu hơn thì đó chính là tạo nghiệp, sau khi tạo nghiệp thành kết quả thì hậu quả đó cũng sẽ được gọi là nghiệp. Nghiệp khi đã phát sinh và kết quả sẽ sinh ra chướng ngại về sau.
Kết lại
Triết lý nhất mệnh, nhì vận, tam Phong Thuỷ nhấn mạnh rằng cuộc sống của mỗi người là sự kết hợp phức tạp của nhiều yếu tố. Số mệnh tiên thiên định hình những yếu tố cơ bản, trong khi Vận Mệnh và Phong Thuỷ giúp điều chỉnh và tối ưu hóa cuộc sống. Bên cạnh đó, tích lũy âm đức và nâng cao tri thức là những phương pháp hiệu quả.
Việc hiểu và áp dụng đúng các yếu tố này sẽ giúp mỗi người có một cuộc sống thành công và hạnh phúc. Triết lý này không chỉ là một bài học về Phong Thuỷ mà còn là kim chỉ nam giúp chúng ta sống có trách nhiệm và ý thức hơn về cuộc đời mình.

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

