Người nhập cư không phải là nhóm duy nhất không nên có quyền bầu cử
Đa phần cuộc tranh luận về vấn đề nhập cư của Hoa Kỳ hiện nay chủ yếu xoay quanh vấn đề “ân xá" - một từ có nghĩa mơ hồ với ý nghĩa...

Đa phần cuộc tranh luận về vấn đề nhập cư của Hoa Kỳ hiện nay chủ yếu xoay quanh vấn đề “ân xá" - một từ có nghĩa mơ hồ với ý nghĩa có thể xê dịch từ “chúng tôi sẽ không trục xuất anh” cho tới “hãy nhanh chóng trao cho anh tư cách công dân và quyền bầu cử”.
Từ góc độ laissez-faire, khía cạnh 'không trục xuất của ân xá - sự giảm các hành động can thiệp của chính quyền liên bang - là một chuyện, còn trao thêm đặc quyền bầu cử lại là một chuyện rất khác. Cuộc tranh luận này đã làm lộ rõ sự khác biệt giữa quyền tư hữu – một quyền chính đáng và có thật, với những “quyền” chính trị có bản chất khác hoàn toàn như quyền bầu cử. Việc hạn chế quyền tư hữu không bao giờ là chính đáng, nhưng trái lại, hạn chế quyền chính trị, đôi lúc lại là cần thiết.
Quyền tư hữu vs Quyền chính trị
Con người ở mọi nơi đều có các quyền tư hữu, bất kể chế độ cai trị nơi sinh sống và bất kể chính phủ nơi đó có công nhận sự tồn tại của chúng hay không. Các quyền tư hữu bao gồm quyền sở hữu cơ thể của chính bản thân, sở hữu tài sản dành được thông qua trao đổi phi bạo lực, tham gia vào hợp đồng với những người khác, bao gồm cả hợp đồng về lao động và nhà ở. Những người nhập cư bất hợp pháp cũng hoàn toàn có những quyền này. Thế nhưng, những quyền tư hữu như đã nêu không nên bị nhầm lẫn với các “quyền” chính trị. Trên thực tế, các “quyền” chính trị như quyền bầu cử thường được dùng để biện minh cho sự áp bức [của một nhóm người] lên một nhóm người khác thông qua làm gia tăng chi tiêu ngân sách và tăng cường sự kiểm soát của chính phủ lên mọi mặt của đời sống.
Những người chỉ trích ân xá muốn hạn chế quyền tự do sử dụng tài sản của những người thuê lao động, chủ đất và người lao động đã phạm phải sai lầm khi muốn hạn chế nhập cư bằng cách hạn chế các quyền tư hữu. Song, họ hoàn toàn có cơ sở vững chắc khi muốn hạn chế sự bánh trướng quyền lực chính phủ bằng cách giới hạn quyền bầu cử và hạn chế số người có đủ tư cách nhận giấy séc tiền trợ cấp (thông qua tư cách công dân). Lập trường này dựa trên nhận định mặc nhiên cho rằng những người nhập cư thường có xu hướng tìm cách mở rộng phúc lợi từ chính phủ, và rằng họ là những người hưởng thuế - những người nhận được nhiều lợi ích từ thuế hơn là lượng thuế họ nộp.
Nhận định dựa trên trải nghiệm nêu trên có thể đúng hoặc không đúng, nhưng có một điều chắc chắn là, có một phần lớn những người nhập cư là người hưởng thuế, và chúng ta nên tập trung đi theo hướng đó.
Giới hạn kích thước chính phủ bằng cách hạn chế quyền bầu cử
Những nhà hoạt động với lập trường chống lại trao quyền bầu cử cho người nhập cư đã tự đặt mình vào một trong số ít dám đối diện với một vấn đề lớn của quyền bầu cử phổ quát, trong một xã hội với một lượng lớn người hưởng thuế có quyền bầu thêm phúc lợi cho bản thân.
Tuy nhiên, nếu ta xét số cử tri được lợi từ việc làm tăng chi tiêu chính phủ, thành phần người nhập cư chiếm một phần không đáng là bao. Phần đại đa số bao gồm nhân viên chính phủ, các nhà thầu, và những người hưởng An sinh Xã hội đều hiểu rằng bất kỳ sự cắt giảm chi tiêu chính phủ đều động chạm trực tiếp đến họ. Và vì thế, họ đi bầu.
Vì vậy, nếu chúng ta vẫn muốn đi tiếp với lập trường rằng những người hưởng phúc lợi từ thuế không nên có quyền bầu cử, thì tại sao lại chỉ dừng lại ở người nhập cư?
Người nộp thuế vs Người hưởng thuế
Trong cuốn sách ngắn “Quan Liêu", Ludwig Von Mises nhìn nhận về vấn đề này qua góc nhìn của nhân viên chính phủ. Ở phần có tiêu đề “Vị công chức với tư cách cử tri”, Mises giải thích:
“Vị công chức không chỉ là một nhân viên của chính phủ. Anh ta, ở trong một thể chế dân chủ cũng là một cử tri, và ví thế, đồng thời là ông chủ. Anh ta ở vào một vị trí kỳ dị: Vừa là nhân viên, vừa là ông chủ. Lợi ích về tiền tài của người nhân viên thì vượt trội hơn nhiều so với lợi ích của ông chủ, bởi vì anh ta kiếm được nhiều hơn từ quỹ công so với những gì mà anh ta đóng góp. Mối quan hệ kép này càng trở nên quan trọng hơn khi số người hưởng lương chính phủ tăng lên. Vị công chức kiêm cử tri chỉ hăm hở muốn tăng lương hơn là muốn cân đối thu chi ngân sách. Mối quan tâm chính của anh ta là làm sao cho danh sách hưởng lương ngày càng dài.”
Sau đó Mises tiếp tục đưa ra nhận xét về sự trỗi dậy của những nhóm lợi ích quyền lực ở Đức và Pháp vào những năm trước “sự sụp đổ của thể chế dân chủ”. Ông giải thích:
“Không chỉ công chức và nhân viên của những công ty quốc doanh (ví dụ như đường sắt, thư từ, điện báo và điện thoại), mà cả những người hưởng trợ cấp thất nghiệp và an sinh xã hội, cùng với nông dân và những nhóm khác được chính phủ bao cấp trực tiếp hoặc gián tiếp. Mối quan tâm chính của họ là làm sao lấy được nhiều nhất từ quỹ công. Họ chẳng quan tâm đến những vấn đề “lý tưởng” như tự do, công lý, thượng tôn pháp luật hay sự cai trị tốt. Họ chỉ muốn thêm tiền, không gì hơn. Không một ứng cử viên nghị viện quốc gia, nghị viện tỉnh hay hội đồng thành phố dám mạo hiểm chống lại công chức đòi tăng lương. Các đảng phái chính trị không ngừng “chạy đua" xem ai tiêu hoang hơn."
Mise kết luận:
“Nền dân chủ đại diện không thể trường tổn, nếu một phần lớn cử tri nằm trên danh sách trả lương của chính phủ. Nếu như các thành viên nghị viện không còn coi mình là người đại diện cho những người nộp thuế mà là nhân viên được ủy quyền của những người nhận lương, bao cấp, trợ cấp, và những phúc lợi khác từ ngân sách, nền dân chủ ắt sẽ tiêu vong."
Logic của lập trường này rất đơn giản: Nếu như số người nộp thuế (cụ thể là những người có đóng góp tích cực) bị áp đảo về số lượng hoặc cạnh tranh không lại với những người hưởng thuế, không sớm thì muốn, hệ thống kinh tế sẽ ngày càng đi theo chiều hướng lãng phí hơn, dẫn đến hậu quả tất yếu là phá sản.
Cũng không bất ngờ, không ít các nhà bình luận đã từng chỉ ra được chính xác vấn đề với sự hoang phí của chính phủ và việc trao quyền bầu cử cho người nhập cư nhưng lại không bàn đến những nhóm phổ biến và có quyền lực hơn (như: những nhà thầu đường xá và vũ khí, người hưởng trợ cấp lương hưu) có thu nhập lệ thuộc vào chi tiêu chính phủ. Và đương nhiên cũng cần phải nhắc tới, đó là nhân viên chính phủ ăn lương từ ngân sách đông hơn và được trả nhiều hơn rất nhiều so với bất kỳ nhóm người nhập cư nào.
Mặc dù luật pháp và quyết định của các tòa án liên bang đều ủng hộ cho mỗi công dân một phiếu bầu, để cho một người có thu nhập phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách chính phủ được phép tham gia bầu cử ở bất kỳ cấp nào rõ ràng là vô cùng thiếu thận trọng. Ở trong những tình huống khác, đây rõ ràng là một mâu thuẫn lợi ích. Thông thường, không ai lại chấp nhận cho một thành viên hội đồng thành phố biểu quyết xem liệu có thành phố có nên thuê công ty của anh ta lát đường cho thành phố hay không (Dù rằng điều này chắc chắn vẫn đang xảy ra). Ấy vậy mà chúng ta lại vô tư chấp nhận rằng cử tri được phép làm điều tương tự.
Chống lại trao quyền bầu cử và phúc lợi cho người nhập cư có thể là một bước đi đúng, nhưng về lâu dài nó sẽ không giải quyết được gì nếu như những người nộp thuế không dám đối diện với sự thật rằng, những cử tri bầu cho sự chảy máu ngân sách sẽ ngày càng chiếm số đông hơn, là những người sẽ hò reo to nhất trong số những công dân ăn mừng Quốc Khánh vào năm sau.
Xem thêm

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

