Cuối tuần trước, tôi tham gia một diễn đàn thanh niên khá thú vị, kéo dài hai ngày một đêm. Trước đây, tôi rất thích tham gia những chương trình thế này: được ra ngoài, được thảo luận, tranh biện rồi sinh hoạt tập thể bằng những trò chơi; để rồi khi về nhà, tôi được có cảm giác mình thật năng động và tích cực trong các hoạt động cộng đồng. Bây giờ, tôi không thế nữa. Ban đầu, khi thấy bài đăng thông tin chương trình, tôi lướt qua ngay tức khắc.
Ý niệm đầu tiên nổ lên trong đầu, cũng là thứ tôi rất ghét phải nghe nhất trước đây, là mất thời gian. Năm 3 rồi đấy - một giọng nói như trách móc vang lên trong đầu tôi. Người ta đã đi làm với lương tháng chục triệu rồi. Một đứa với điểm số như tôi lẽ ra cũng nên tìm cách đạt được mấy thứ đó để người ta nhìn vào còn "ngưỡng mộ" chứ không phải ăn không ngồi rồi thế này.
Tôi đã đắn đo vài ngày. Cuối cùng, tôi vẫn bấm đăng ký tham gia, nhưng không phải vì say mê thuần túy như trước. Tôi ôm trong mình không ít mục tiêu thực dụng (mà thực ra, cũng nên học cách trở nên thực dụng một chút): vài dòng thành tích cho hồ sơ du học, kiến thức để làm khóa luận sau này, giải thưởng và quan trọng nhất, điểm rèn luyện. Buồn cười là, ngày xưa tôi cực kỳ dị ứng những ai tham gia hoạt động ngoại khóa chỉ để mưu cầu thứ điểm số vớ vẩn ấy.
Chương trình diễn ra vui vẻ và suôn sẻ. Tôi đạt được kha khá mục tiêu đề ra, song sau cùng, điều đọng lại trong tôi lâu nhất lại là một người bạn mới tên K.
K là một cậu con trai có dáng người mũm mĩm, mái tóc xoăn tít với phần mái được chẻ đôi như bức màn sân khấu vừa chực mở - cũng là loại hình nghệ thuật mà dường như cậu đặc biệt say mê. Đôi mắt K., dù đã được phóng đại đôi phần sau lớp kính dày, vẫn trông nhỏ bé giữa khuôn mặt tròn trĩnh. Nhưng mỗi khi cậu cất tiếng nói, ánh mắt ấy bỗng như phát sáng, lấp lánh bởi những cảm xúc chân thành níu lấy ánh nhìn của người đối diện. Đôi mắt ấy khiến tôi tin vào lời K. Không chỉ nghe đâu, mà thực sự tin.
Giữa một chương trình có đến cả trăm người, điều có thể khiến hai con người xa lạ nhanh chóng quấn lấy nhau, trò chuyện rôm rả như quen từ thuở nào, là vì chúng tôi có vài điểm chung quan trọng. Điểm chung đầu tiên: tôi và K. đều từng là cán bộ chủ chốt của Hội Sinh viên - mỗi đứa ở một ngôi trường khác nhau. Thời làm Hội với tôi giờ đã lùi lại sau hơn một năm, ngọn lửa từng rực cháy cho các phong trào thanh niên giờ chỉ còn là tro âm ỉ. Thế nhưng, khi trò chuyện với K., những hồi ức cũ bỗng sống dậy, như than hồng bỗng được khơi lại bằng một làn gió lạ.
Điểm chung thứ hai, và cũng là điều khiến tôi bất ngờ nhất: cả hai đều từng là học sinh giỏi Văn, và đều dành một phần tuổi trẻ để đắm mình trong tiểu thuyết, trong thơ. Thật ra, tôi biết K. thích văn từ trước, từ vài dòng chia sẻ ngắn ngủi trên Facebook cậu ấy. Phải nói thêm rằng tôi và K. từng biết nhau qua một chương trình cấp Thành, nhưng chỉ dừng lại ở vài dòng tin nhắn xã giao. Trên Facebook, K. mang đến hình ảnh của một cán bộ chính chuyên, xuất sắc trong phong trào lẫn học tập, yêu Tổ quốc và yêu Đảng. Những bài thơ cách mạng làm người ta sục sôi lòng yêu nước, có lẽ thuộc hàng thường thấy nhất trên trang cá nhân cậu.
Khi tôi chia sẻ rằng mình từng có một thời mê mẩn lý luận văn học, mắt K. tròn xoe như không tin nổi, rồi thốt lên với giọng cao đầy sửng sốt: “Thật hả? Bất ngờ thật sự nha. Ý là… tao không nghĩ mày thích văn thơ á. Nó hơi… không liên quan lắm với vẻ ngoài và cả ngành học của mày nữa.” Điều K. nói không phải lần đầu tôi nghe. Người ta hay hình dung những người thích văn, thích viết sẽ có nỗi buồn gắm sâu hoắm trong mắt, dáng dấp thư sinh toát lên nét dịu dàng, trầm lặng, có phần nào tinh khiết như dòng nước trong.
Còn tôi thì… ngược lại: Dáng người cao lớn như hộ pháp, làn da đen nhẻm như vừa bôi tro quệt than, đôi mắt nhỏ đến mức chẳng ai đủ kiên nhẫn để lân la mò mẫm chút ưu tư. Đã thế, tôi còn theo học một ngành thiên về kỹ thuật, ngày ngày chơi đùa với những mô hình toán học như mê cung và các con số bay nhảy không ngừng. Thế nên, nghe K. nói vậy, tôi chỉ biết tủm tỉm cười trừ vì… đúng quá còn gì.
Tôi và K. bắt đầu trò chuyện về văn chương. Chúng tôi chia sẻ với nhau những ký ức thời học đội tuyển, mà thật ra, phần lớn là K. nói. Cậu có vẻ là người thích trò chuyện, khéo chia sẻ và giỏi kết nối. Trước đây, tôi cũng từng là người thích giao lưu như thế: thích được nói, được kể, được giãi bày lòng mình thật tường tận, dù là với bạn thân hay với một người vừa mới gặp. Nhưng giờ thì, cái khao khát được kết nối vẫn còn đó, nhưng tôi không còn đủ tự tin - và có lẽ, cả một chút can đảm - để nói quá nhiều về mình nữa.
Kể về chuyện học đội tuyển, tôi và K. có một điểm giống nhau: cả hai đều đến từ những ngôi trường không chuyên, nhưng may mắn lọt vào đội tuyển thi Học sinh giỏi Quốc gia môn Văn. Khi nghe K. kể về đề thi ở TP. HCM năm đó, tôi thấy thực sự ấn tượng. Nhưng có lẽ, đó là một câu chuyện nên để dành cho một dịp khác, một bài viết khác, nơi tôi có thể đào sâu nói kỹ hơn. Lúc ấy, bất chợt tôi để mình trôi về những tháng ngày cũ, cái thời mà tôi đã đọc và viết văn thật non dại mà chân thành bằng một trái tim đang lớn. Nếu không có quãng thời gian tưới tắm trong văn chương ấy, có lẽ suy nghĩ, lối sống và cả những lựa chọn hiện tại của tôi đã khác đi rất nhiều.
Rồi, chúng tôi kể nhau nghe về những nhà thơ yêu thích. K. nghiêng hẳn về văn học Việt Nam với tình yêu nồng nàn dành cho những bài thơ từ thời kháng chiến đến thời kỳ Đổi mới. Cơ duyên K. đến với thơ bắt đầu từ những ngày tuổi thơ sống cùng bà. Khi còn nhỏ, hình như K. không lớn lên bên cha mẹ. Tuổi thơ của cậu là những cái ôm dịu dàng của bà và là những ngày một mình làm bạn với con chữ từ các tập thơ cũ. Những tháng năm lớn lên cùng thơ ấy, tình yêu văn chương trong K. cứ thế nảy nở, không hề gượng ép, tự nhiên như cách một bông hoa nở vươn mình trong mưa. Tôi lắng nghe, lòng thoáng một nỗi ước ao mơ hồ. Ước gì mình có thể quay lại những ngày còn bé, để có thật nhiều thời gian rảnh, để đắm chìm đời mình trong cái thế giới nhiệm màu mà những trang sách mở ra. Và hơn hết, để tình yêu văn chương trong tôi có thể trong veo, thuần khiết, không bị pha lẫn bởi những tính toán hay hoài nghi tuổi trưởng thành.
K. yêu sự lãng mạn trong những trang tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn, mê cái chất suy tư triết lý mà cay đắng, gai góc của kịch Lưu Quang Vũ, và hơn hết là đắm mình sung sướng trong những vần thơ Tố Hữu. Thật ra, điều này tôi đã phần nào đoán được. Không dưới đôi ba lần, tôi bắt gặp trên trang cá nhân của cậu những câu thơ tràn đầy khí thế cách mạng, những dòng thơ mà chỉ cần đọc qua là biết xuất thân từ hồn thơ Tố Hữu. K. kể rằng ngày trước, giáo viên từng khuyên cậu đừng đọc thơ Tố Hữu quá nhiều. Nghe đến đó, cả hai đứa nhìn nhau phá lên cười, như cùng đồng điệu một điều gì rất cũ. Tôi cũng từng được một giáo viên nhắc khéo rằng: đừng nên đưa thơ Tố Hữu vào bài làm thi HSG. Lý do, là bởi thơ ông… đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình rồi. Tôi thì nghĩ khác.
Mỗi lần đọc thơ Tố Hữu, tôi cảm nhận rất rõ một điều: sự chân thành. Một thứ tình yêu nước mãnh liệt, khao khát cháy bỏng được chiến đấu và sống vì lý tưởng - thứ cảm xúc từng cuộn chảy trong tim bao nhiêu thanh niên Việt Nam thời ấy - được kết tinh trong từng câu chữ của ông. Người ta bảo thơ Tố Hữu “tô hồng hiện thực”, là công cụ tuyên truyền hơn là tác phẩm nghệ thuật, là sản phẩm của một thời đại cụ thể chứ không còn giá trị văn chương. Nhưng nếu những bài thơ ấy, ở thời điểm này, vẫn đủ sức làm một người trẻ như tôi rung động; vẫn đủ thật thà để gợi lên trong lòng ta sự biết ơn, sự ngưỡng vọng với những hy sinh lặng thầm của cha anh đi trước, vậy thì cớ gì nó lại không được coi là hay? Thơ hay, chẳng phải là thơ gợi được điều đẹp đẽ trong lòng người đọc, bất kể đề tài nó mang là gì hay sao? Và nếu, giả như, Tố Hữu có từng viết ra những vần thơ mà ông không thật sự tin, không thật sự nghĩ thì điều đó có nhất thiết phải ảnh hưởng đến cách ta đánh giá giá trị nghệ thuật của tác phẩm? Tôi cho rằng, một tác phẩm văn chương hay bất kỳ loại hình nghệ thuật nào nên được xem là một thực thể độc lập. Nó hay hay dở là vì chính nó hay dở, vì những gì nó chứa đựng bên trong, chứ không phải vì người viết là ai, vì sao họ viết, hay tệ hơn, là vì xã hội, truyền thông hôm nay đang có thái độ thế nào với người ấy.
Sau một hồi rôm rả về văn chương, tôi và K. phát hiện ra cả hai từng nuôi một giấc mơ giống nhau: trở thành giáo viên dạy Văn. Chỉ là, lý do dẫn lối chúng tôi đến với ước mơ ấy lại không hoàn toàn giống nhau. Ngày trước, tôi nghĩ mình thích làm giáo viên và từng nói ba mẹ muốn đi học sư phạm. Nhưng ba mẹ tôi đều làm trong ngành và không mấy ủng hộ. Đến bây giờ nhìn lại, tôi cũng không biết rằng bao nhiêu trong số những điều tôi từng khẳng định là “đam mê” là đam mê thực sự. Luôn có một ranh giới quá đỗi mong manh giữa việc yêu gì đó một cách thuần túy, yêu vì nó dễ dàng, ít dụng công hơn những thứ khác và yêu nó vì đó là công cụ để đạt được một thứ khác, thường là sự công nhận, tiền bạc hay danh vọng. Khi nghĩ về những điều đó, tôi quả thực nhận ra mình chẳng thật sự thích sư phạm là như bản thân từng tin. Tôi luôn cảm thấy xót xa và tội nghiệp cho những đứa trẻ 18 tuổi phải chọn ngành học - thứ có thể ảnh hưởng đến cả cuộc đời chúng sau này. Trừ số ít đủ trưởng thành để tự nhận thức về bản thân, đa phần những điều ta nghĩ về mình ở độ tuổi ấy đều là sự ảo tưởng và kỳ vọng.
Tôi cũng không rõ K. thuộc loại nào. Nghe cậu kể về thời học sinh rực rỡ với hàng loạt thành tích, tôi mạo muội nghĩ rằng, có lẽ cậu cũng từng rơi vào trạng thái chơi vơi và vô định tại điểm ngoặc đó. Cậu thích học sư phạm Văn một phần vì thích văn, phần còn lại là bởi học sư phạm thì không tốn tiền. Phải, gia đình của K. có vẻ không mấy khá giả. Cậu ở ký túc xá dành cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, trong một căn phòng tám người chật chội và đầy bất tiện, vậy mà khi kể lại, giọng điệu cậu vẫn đầy hài hước: “Vì ở đó tao không cần phải đóng tiền.” Nghe đến đó, tôi nể K.
Cho tới giờ, tôi cũng tự thấy bản thân mình có đôi ba thành tích nho nhỏ. Song, tôi thành thực không dám nghĩ đó là nỗ lực của mình. Những gì tôi có được, ngay cả lòng can đảm theo đuổi văn chương, tất thảy đều là nhờ bố mẹ tôi đã luôn chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện cho tôi được sống một cuộc đời ít lo nghĩ. Trưởng thành có lẽ là bóc tách từng lớp bản thân, dần dà đối diện, ngắm nghía kỹ, để rồi thất vọng. Không ít lần, tôi đã nghĩ với bản chất thế này, nếu đưa tôi vào một hoàn cảnh sống khác, đôi khi chỉ cần khổ sở hơn một chút thôi, mọi phần bản tính xấu xí trong tôi sẽ như cá gặp nước, và tôi sẽ là một con người khác, sống cuộc đời thật khác, sẽ thê thảm đến mức không tài nào vực dậy được. Do vậy, khi được gặp và nói chuyện với một người có nội lực đủ mạnh mẽ vượt lên những khó khăn của gia đình, những thiếu sót của tình thương để trưởng thành mà vẫn giữ được một tâm hồn nhiều mộng mơ, hoài bão; tôi nghĩ K. phải trưởng thành và chín chắn hơn tôi rất nhiều.
Trong cuộc trò chuyện cuối cùng tại lễ bế mạc, K. rủ tôi: “Khi nào rảnh thì đi xem kịch Hoàng Thái Thanh nhé.” Tôi gật đầu và cười mỉm. Không rõ bao nhiêu phần trong lời mời ấy là sự chân thành, bao nhiêu phần là phép lịch sự xã giao nên tôi cũng không dám hứa hẹn gì nhiều. Dù sao, tôi và K. cũng chỉ mới quen biết nhau vài ngày, trong một môi trường khuyến khích sự kết nối, nhưng không nhất thiết đòi hỏi sự gắn bó. Thế rồi, K. bảo, hồi trước cậu hay dẫn mẹ và bà đi xem kịch ở đây và cả nhà đều rất thích. Cậu còn khóc nhiều vì xúc động. Tôi thấy lòng mình bất giác chùng lại. Đã bao giờ tôi dẫn ba mẹ tới một nơi mình yêu thích, hay nói rộng hơn là giới thiệu về những điều làm mình yêu với ba mẹ hay chưa? Trong một bài đăng trên blog này, tôi từng viết tình yêu giữa bố mẹ và con cái là thứ tình cảm mà đôi khi, người ta không hiểu nhau, khó kết nối với nhau những vẫn khát khao dành trọn mọi điều tốt đẹp nhất cho nhau. Tôi chỉ ước rằng, nếu trong tình thương ấy còn có sự thấu hiểu thì sẽ còn đẹp hơn biết nhường nào. Song, tôi không nghĩ mình có thể đòi hỏi thêm điều gì từ những người bố mẹ quá đỗi tuyệt vời của mình. Họ đã cố gắng hết sức trong khả năng của họ. Mọi chuyện, từ giờ, là ở phía tôi.
Dù khó có cơ hội gặp lại, nhưng tôi và K. vẫn giữ liên lạc với nhau qua mạng xã hội. Tôi thích trò chuyện với những người mới gặp vì khi đó, tôi được lắng nghe về hành trình mà họ lớn lên, những khó khăn từng đối mặt và những điều làm nên con người họ hiện tại; cũng giống như khi ta ăn một thứ gì đó, thực chất là ta đang nuốt lấy cả một chu trình sống mà nó từng trải qua. Trò chuyện với K. xong, tôi lật dở vài bài thơ hay của Tố Hữu ra đọc, lướt lại vở kịch kinh điển “Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt” của Lưu Quang Vũ, ngẫm nghĩ đôi điều về gia đình rồi gói ghém chúng cất vào ký ức, quay lại cuộc sống thường nhật và chuẩn bị cho những hành trình mới.