Mở đầu
“Có phải Shakespeare thực sự đã chết” - đấy là câu nói mà nhiều cư dân mạng Việt Nam ngày nay vẫn thường nói khi thấy một tràng văn hay nào đấy, mỉa mai hay chân thành. Ở Việt Nam, dù là một đại văn hào Anh sống cách đây bốn trăm năm, thì cái tên Shakespeare vẫn được vang lên như một chuẩn mực trong sáng tác và viết văn. Còn ở Anh Quốc, cái tên của ông gần như là vô song khi nói về tầm ảnh hưởng ngôn ngữ, và trên thế giới ông là một ánh sao chói ngời trên bầu trời. Vậy vì sao Shakespeare vĩ đại đến thế? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây.
Tuổi trẻ Stratford
William Shakespeare sinh ra tại Stratford, một thị trấn nhỏ ở Anh. Ông là con trai của cặp vợ chồng John Shakespeare và Mary Arden. Một điểm thú vị là đến nay, vẫn chưa ai biết rõ ngày sinh của Shakespeare. Không có giấy khai sinh chính thức, các sổ sách nhà thờ ghi nhận ông được làm lễ rửa tội vào ngày 26 tháng 4 năm 1564. Do đó, người ta thường lấy ngày 23 tháng 4 năm 1564 làm ngày sinh truyền thống của William Shakespeare, dù vậy hệ thống lịch cũ và đối chiếu với lịch Gregorian khiến chúng ta có thể kết luận được rằng Shakespeare thực chất được sinh vào ngày 3 tháng 5.

Stratford-Upon-Avon
Shakespeare ra đời trong thời kỳ đặc biệt của lịch sử Anh Quốc lẫn cả thế giới. Thế kỷ 16 là điểm chuyển giao thời hiện đại với trung đại, với các xung đột về quân sự lẫn tôn giáo. Anh quốc chuyển từ Công giáo sang Tin Lành và bắt đầu xây dựng hạm đội trứ danh, thách thức các đế quốc lớn trên thế giới. Trong lòng nước Anh, xã hội bị kiểm soát chặt chẽ bởi luật pháp, từ ăn mặc đến ăn uống, đi kèm với đó là các hình phạt hà khắc như chém đầu hoặc moi ruột dần tan biến để thế chỗ cho các hình phạt nhân văn hơn. Các cuộc cải cách tôn giáo cũng dẫn đến nền móng của kịch nghệ Anh truyền thống - các vở kịch tôn giáo, phép màu hay huyền bí đều lu mờ, mà thay vào đó là các thể loại khác được đầu tư hơn. Cả hai điều trên vô hình trung khiến Shakespeare luôn có cảm giác đứng trên giữa hai thế giới, giữa hoài nghi và đức tin, giữa nông thôn và thành thị, giữa sự sống và cái chết, và sự xung đột giữa hai thế giới quan này sẽ trở thành nền tảng cho sự nghiệp viết kịch của ông về sau.
Cha mẹ của Shakespeare, ông John và bà Mary Arden đều là những người khá giả vào thời điểm loạn lạc đấy. Ông John là thợ làm găng tay và thị trưởng cho Stratford vào thời điểm con trai ra đời. Mẹ cậu bé William, bà Arden có xuất thân từ một gia đình nông dân khá giả. Trước ngày William ra đời, cả hai vợ chồng đã mất hai người con gái. Việc một bé trai nối dõi tông đường sinh ra và vượt qua dịch hạch như này đã là một may mắn phi thường với gia đình, và William trên cương vị đứa con trai lớn nhất còn sống trong số 8 người con của Nhà Shakespeare đã phải nhận kỳ vọng rất lớn khi còn trẻ.
Tuổi thơ của Shakespeare và sau này là cả cuộc đời của ông lại không mấy yên bình. Ông John từng dính đến hoạt động bất hợp pháp như bán len số lượng lớn và cho vay nặng lãi. Trong cộng đồng,ông John cũng tự động rút khỏi vai trò ủy viên hội đồng của mình cũng như các cuộc họp tại sảnh chung, có lẽ trốn tránh vì vấn đề nợ nần. Điều này tạo áp lực cùng tiếng đồn không đáng có cho gia đình Shakespeare là đám gian trá và trốn tránh nghĩa vụ thần dân. Cậu bé William ngày ấy nghĩ thế nào về cha? Chúng ta có rất ít thông tin, nhưng qua các tài liệu lịch sử, có thể đoán được William có một góc quan sát nhạy bén, nhận thức rõ về việc buôn lậu, và chứng kiến cả những thất bại và thành công gia đình. Đối với một người trẻ có tâm hồn nhạy cảm, nhận thấy người cha mình từng thần tượng hóa thực chất cũng có những khiếm khuyết và bị cả thế giới căm ghét vừa là quá trình lớn lên, vừa là sự vỡ mộng.

Và trong lúc khó khăn đấy, giáo dục đến với Shakespeare như một nguồn giải phóng to lớn về tinh thần. Dù cho không có nguồn ghi chép rõ ràng, các học giả tin rằng Shakespeare theo học trường ngữ pháp ở Stratford, tại đây cậu bé William được học đọc, viết, nghiên cứu sâu về văn học, thần thoại và tiếng Latin trong khung thời gian dày đặc. Môi trường giáo dục này đóng vai trò như một sự giải thoát, giúp tâm trí William tạm thời rời xa khỏi áp lực tài chính và rắc rối nợ nần bủa vây ngôi nhà phố Henley. Những tác phẩm về sau của Shakespeare cho thấy ông hẳn là người có thiên phú về văn học và tố chất thơ ca từ khi còn rất nhỏ, nhất là trong các bài tập tiếp thu và imitatio - hay mô phỏng văn phòng trứ danh của Anh Quốc.
Các thầy giáo của William có vẻ cũng có thiện cảm với cậu bé - theo quy định giáo luật đương thời, mỗi năm các thầy giáo có nghĩa vụ báo cáo danh sách những học trò xuất sắc nhất cho Giám mục giáo phận Worcester. Những cá nhân có năng khiếu và có sự tiến bộ vượt bậc trong học tập sẽ trở thành những người phò tá đắc lực cho chính quyền hoặc phục vụ Giáo hội trong tương lai. Kỳ lạ thay, William chưa bao giờ được đề cử. Dù lịch sử vẫn chưa chắc chắn, nhưng các nhà sử học đều đưa ra giả thuyết đáng chú ý - các thầy giáo, thông qua mạng lưới quan hệ đã vạch riêng cho William một con đường hoàn toàn khác biệt. Làm việc ở nhà thờ thời bấy giờ đòi hỏi tiền tài và địa vị rất cao trong xã hội - điều mà gia đình Shakespeare không hề có. Shakespeare thay vào đó được định hướng là sẽ trở thành một diễn viên sân khấu. Dù đến nay chưa ai chứng minh được giả thuyết, việc Shakespeare theo đuổi ngành kịch ắt hẳn là thiên phú lẫn định mệnh của cuộc đời.

Truyền thuyết về việc Shakespeare trộm hươu
Năm 15 tuổi, Shakespeare hoàn tất chương trình học. Lúc này, không ai biết ông làm gì, có truyền thuyết ông phải bó trốn lên Luân Đôn vì bắt quả tang đi trộm hươu, nhưng truyền thuyết vẫn chỉ là truyền thuyết. Khả năng cao là ông tiếp tục làm việc trong xưởng da gia đình hoặc làm thư ký cho một luật sư địa phương, hoặc đi làm gia sư cho một gia đình giàu có. Vào năm William 18 tuổi, có một hồ sơ xin giấy phép kết hôn ghi tên Anne Whateley. Đây là lỗi ghi chép của một viên thư ký cẩu thả, vì vào tháng 9 năm đấy, người William cưới tên là Anne Hathaway. Bà Anne lớn hơn chồng 8 tuổi, và khi cưới đã mang thai Susanna - con gái đầu lòng của William, và mặc dù việc bản thân cô dâu có thai trước khi cưới là điều bình thường, sự gấp gáp bất thường cộng thêm với việc Shakespeare kết hôn quá sớm vẫn là câu hỏi đau đầu với các sử gia hiện tại. Cùng với Hathaway, Shakespeare có đến ba người con, lần lượt là Susanna cùng cặp song sinh Hamnet và Judith. Ngoài các thông tin cơ bản này, hầu như không có bất kỳ ghi chép gì về tính cách, quan hệ tình cảm hay đời sống hôn nhân của hai vợ chồng.
Bước Ngoặt Luân Đôn

Từ năm 1585 đến năm 1592, không hề có bất cứ ghi chép nào về Shakespeare - những năm tháng này được đề cập với tên gọi Những Năm Mất Tích - nhiều sử gia đề xuất rằng có thể Shakespeare định theo đuổi ngành luật, làm gia sư hoặc tìm cách gia nhập các đoàn kịch lớn của Luân Đôn vào thời điểm đấy.
Ta có thể đoán được sau thời gian làm việc ở vùng nông thôn trong khoảng thời gian 1587 đến năm 1589, Shakespeare trở về nhà ở phố Henley với một tâm hồn đầy xáo trộn. Chàng trai trẻ không còn bằng lòng với vị thế trong gia đình, mà thay vào đó trở nên phức tạp và khó lường hơn sau các trải nghiệm đường đời. Bằng cách tận dụng các mối quan hệ với gia đình, ông để lại cha mẹ, con cái và ba đứa con nhỏ để dấn thân vào tham vọng cá nhân của mình là ngành kịch ở Luân Đôn.
Trong khoảng thời gian này, Shakespeare viết lên vở hài kịch Hai Quý Ông Từ Verona. Qua cách Shakespeare chế giễu những lời từ biệt sướt mướt trong vở kịch này, có thể thấy ông là người có cái nhìn thực tế, thậm chí là hơi tách biệt đối với những cảm xúc chia ly ủy mị. Dù vậy, cuộc chia ly năm ấy sẽ định hình lại toàn bộ cuộc đời sau này của Shakespeare.
Đến Luân Đôn, Shakespeare không chỉ đến một vùng đất của tham vọng mà còn là một nơi nguy hiểm, với nạn vệ sinh kém cùng bệnh dịch. Tỷ lệ tử vong của thủ đô Anh Quốc luôn cao hơn tỷ lệ sinh, dân số chỉ tăng nhờ dòng người nhập cư từ các tỉnh và người tị nạn từ châu Âu. Khác với thời cận đại, Luân Đôn thời Shakespeare rất nhỏ, nhưng cực kỳ đông đúc và chật chội. Điều này tạo ra một dạng văn hóa đại chúng dưới thời Elizabeth Đệ Nhất, người dân sống gần gũi với nhau và có điều kiện để lan tỏa các kiến thức từ các đầu sách, đặc biệt trong đó là kịch nghệ. Xem kịch là điều gì đó rất đỗi đặc biệt, được ví đến như một hoạt động cộng đồng đầy náo nhiệt. Để xem kịch, phải dành đến 2-3 penny để có chỗ ngồi thoải mái, trong khi lương trung bình một ngày của dân nghèo Luân Đôn chỉ có khoảng 12 pence. Trong không gian chật chội đó, sân khấu không hề có rèm che hay cảnh trang trí phức tạp, mà phải sử dụng ngôn từ để thiết lập bối cảnh. Trong thời Shakespeare, phe Thanh giáo cũng từng chỉ trích kịch và coi nhà hát là chỗ truyền bá sự bệnh hoạn và đồng tình luyến ái, nhưng nhờ sự bảo trợ từ Nữ Hoàng Elizabeth, các nỗ lực cấm đoán của phe Thanh giáo đều không thành.
Tham gia vào kịch, Shakespeare không chỉ là nhà thơ và nhà biên kịch mà còn là một diễn viên. Tiếp xúc với trang phục diễn xuất còn mang lại cho chàng thanh niên trẻ sự tách biệt về nhận thức - khi khoác lên mình lớp áo nhân vật, quê hương của Shakespeare không chỉ là thế giới duy nhất, mà là sân khấu riêng biệt, qua vở Giấc Mộng Đêm Hè, ta thấy được một cảm giác về sự đối lập giữa thế giới thi mộng của người thi sĩ ở quê hương với sự bình thường, quy củ trên các khu thủ công. Điều này khiến các nhà phê bình phỏng đoán Shakespeare có một nỗi khiếp sợ của cái gọi là thực tại - ông có một trí tuệ khao khát muốn thoát ly khỏi cuộc sống thường nhật, nhưng cũng đan xen vào đó là tinh thần ngợi ca và tôn vinh những giá trị tốt nhất của hiện thực.
Vào năm 1588, chiến thắng của hạm đội Anh trước hạm đội Armada của Tây Ban Nha không chỉ bảo vệ Tin Lành mà còn khơi dậy tinh thần yêu nước mãnh liệt. Shakespeare đã tận dụng luồng cảm hứng yêu nước này để viết nên kịch sử, như trong bộ ba Henry Đệ Lục, ông học cách xử lý khối lượng lớn tư liệu lịch sử từ sử ký của Holinshed và Hall.

Tất nhiên, nhân vô thập toàn, sự hiện diện của Shakespeare không hẳn sẽ chiều lòng tất cả mọi người. Vào năm 1592, nhà viết kịch Robert Greene viết một đoạn văn nhạo báng chàng trai Shakespeare - gọi ông là “con quạ mới phất” - “upstart crow” và tuyên bố các thành tựu của Shakespeare được dựa trên nhóm university wits - các trí thức đại học có tiếng đương thời. Lời chế nhạo này hóa ra lại chứng tỏ bản thân Shakespeare đã đủ trình độ để đe dọa các nhà văn và học giả có tiếng, được đào tạo bài bản tại các trường đại học.
Cùng cuối năm đấy, Cái chết Đen hay bệnh Dịch hạch bùng phát tại Luân Đôn khiến các nhà hát phải đóng cửa để tránh lây nhiễm. Không thể diễn kịch, Shakespeare buộc phải đi từ nghề diễn viên sang một nhà thơ. Ông xuất bản hai trường ca thành công là Venus và Adonis, cùng với đó là Vụ Hãm Hiếp Lucrece. Điều khiến cả hai trường ca này thành công là bởi Shakespeare có một nhãn quan và cách viết thể thơ rất sáng tạo và thích ứng trước nhiều thể loại vào thời điểm đấy - nếu cấu trúc khổ thơ của Venus và Adonis được xây dựng để tạo nhịp điệu nhanh, hóm hỉnh và nhẹ nhàng thì nghệ thuật viết trong Vụ Hãm Hiếp Lucrece lại được đề dòng lên, kéo dài và khiến bài thơ mang tính suy tưởng đạo đức, danh dự và bi kịch chính trị. Shakespeare dành một phần lớn bài thơ để miêu tả cảnh Lucrece đứng nhìn một bức tranh vẽ cảnh thành Troy sụp đổ. Bằng việc miêu tả bức tranh này, ông dùng nỗi đau của thành Troy để phản chiếu sự sụp đổ thế giới nội tâm của Lucrece, một kỹ thuật mượn từ văn học cổ đại cực kỳ tinh tế.

Cả hai tác phẩm đều được đề tặng cho Henry Wriothesley, Bá tước vùng Southampton. Đây là bước tiến quan trọng giúp ông bước chân vào giới thượng lưu và có được nguồn thu nhập ổn định khi sân khấu bị đình trệ, cũng như giúp Shakespeare tiếp xúc được với văn hóa Ý để viết lên vở bi kịch trứ danh Romeo và Juliet. Khi dịch bệnh giảm và các nhà hát mở cửa trở lại, sự ra đời của đoàn kịch Lord Chamberlain’s Men - Cung Vụ Nhân Sự - nhóm kịch được cung vụ đại thần lúc đấy bảo trợ đã thay đổi hoàn toàn cơ nghiệp Shakespeare. Vị thế của ông được nâng cao trong đoàn kịch, đi từ biên kịch - diễn viên sang cổ đông chính, giúp ông có nguồn tài chính ổn định hơn trước. Gia đình Shakespeare cũng đạt được tước hiệu quý tộc và dần được người dân quanh vùng công nhận.
Đặc biệt hơn cả, trong năm ấy, cả ba vở A Midsummer’s Night Dream - Giấc Mộng Đêm Hè, Richard Đệ Nhị và Romeo và Juliet ra mắt và nhận được lời tán dương nhiệt liệt. Giấc Mộng Đêm Hè tựa như lời phản bác của Shakespeare về lời phê bình của Robert Greene dành cho ông 3 năm trước đó - nếu như các vở kịch của Greene chú trọng đến kết cấu 2-3 tuyến truyện khác nhau, Đêm Hè tựa như một cú đề ba khi Shakespeare lồng đến 4 tuyến truyện, pha trộn thần thoại, thần tiên Anh Quốc đến thành thị - nông thôn. Bằng cách viết Giấc mộng đêm hè, Shakespeare như muốn nói: "Ta không chỉ dùng lông vũ của các ngài, mà ta còn bay cao hơn các ngài bằng chính đôi cánh đó.” Đến câu chuyện về vị vua Richard Đệ Nhị yếu kém bị lật đổ, Shakespeare thể hiện sự hoàn thiện về thi ca, và riêng Romeo và Juliet lại là một lật ngược về chủ đề. Bi kịch được dựa trên các cảm hứng của Shakespeare về Commedia dell’Arte đất Ý. Nhưng Shakespeare không chỉ thêm vào đó là hài, mà ông còn điểm xuyết vào đó là bi. Kết hợp với nghệ thuật vật chất hóa thời gian nhằm đẩy cao tính căng thẳng trong lăng kính hiện thực, vở Romeo và Juliet đến nay vẫn được coi là tuyệt phẩm đáng nhớ nhất của Shakespeare và tiền đề cho sự nghiệp viết bi hài kịch hoành tráng của ông.
Đến một năm sau, con trai duy nhất và người kế thừa của Shakespeare, Hamnet qua đời vì bệnh dịch hạch. Cái chết của Hamnet là cú sốc lớn nhất trong cuộc đời Shakespeare, và nỗi đau mất con trai đã ám ảnh các tác phẩm sau này của ông, và là động lực để ông viết lên bi kịch nổi tiếng nhất của mình: Hamlet.
Thời kỳ đỉnh cao

Tháng 4 năm 1597, một năm sau cái chết của con trai, Shakespeare mua New Place - căn nhà mới của ông tại Stratford. Việc một "anh kép hát" từ Luân Đôn trở về mua một dinh thự bề thế như vậy đã gây kinh ngạc cho dân địa phương, cũng như khẳng định vị thế Nhà Shakespeare. Nhắc đến chủ đề con trai, thì cũng khó để không kể đến vở kịch hai phần Henry Đệ Tứ. Khai thác mối quan hệ giữa cha con Henry Đệ Tứ và vương tử Hal, vở kịch đào sâu về quan hệ cha con và sự khác biệt giữa tuổi trưởng thành đầy trách nhiệm và tuổi trẻ bồng bột. Nhân vật Falstaff cũng là điểm nhấn quan trọng nhất - sự hài hước và duyên dáng của tay hiệp sĩ gây bão cả khán đài Luân Đôn, lấn át cả nhân vật chính và dựng lên một cơn sốt văn hóa. Đen đủi thay, Falstaff cũng khiến Shakespeare vướng vào bê bối chính trị với gia tộc Oldcastle. Ban đầu, Falstaff được dựa trên một nhân vật trong Henry Đệ Lục là Oldcastle, nhưng dòng họ quý tộc Cobham, hậu duệ thật của Oldcastle phản đối dữ dội vì tin rằng Shakespeare đang bôi nhọ tổ tiên của họ. Dưới áp lực từ Cung vụ Đại Thần, Oldcastle được đổi tên thành Falstaff.

Falstaff
Cùng năm đó, một loạt các bản in rời được phát hành để phục vụ nhu cầu kịch Shakespeare của công chúng, một sự kiện càng chứng tỏ thành công vượt trội của Shakespeare. Nguyên nhân cho thành công đấy của ông, bên cạnh tài năng nằm ở tính cách. Nhiều nguồn đương thời miêu tả ông có sự bao dung đầy thiện chí với điều lố bịch, từ đấy giúp các diễn viên có thiện cảm với bản thân, cũng như lối viết tạo không gian sáng tạo và ứng biến sân khấu. Dù chúng ta không có ghi chép cụ thể về các buổi biểu diễn thời Tudor, nhưng vào năm 1598, vở Hai Quý Ông từ Verona đã được xếp đứng đầu trong danh sách tác phẩm hài kịch của Shakespeare, điều này chứng tỏ các vở kịch đều rất thịnh hành và có sức ảnh hưởng lớn.
Trước đó một năm, bê bối chính trị từ vở kịch của Ben Jonson - một biên kịch trẻ tài năng - mà các đoàn kịch phải lưu diễn ở các vùng nông thôn. Ấy vậy mà khi Jonson tìm đến Shakespeare, bỏ ngoài tai điều tiếng thiên hạ, Shakespeare thuyết phục đoàn kịch dàn dựng vở Every Man in His Humour - Mỗi Người Một Tâm Trạng của Jonson. Sự bảo trợ của Shakespeare đã giúp thanh niên trẻ có được sự nghiệp và nhà viết kịch có được người bạn tâm giao. Cả hai thường xuyên có những cuộc tranh luận sôi nổi tại quán rượu Mermaid ở Luân Đôn, trong khi một số người khác kể lại Jonson cũng dành thời gian để phê bình lẫn tham vấn các tác phẩm của Shakespeare.

Ben Jonson
Năm 1599, Shakespeare cùng các thành viên trong đoàn kịch góp vốn xây dựng nhà hát Globe bên bờ sông Thames. Đây là nơi biểu diễn hầu hết các kiệt tác của ông và mang lại cho ông nguồn tiền đáng kể. Với khẩu hiệu "Totus mundus agit histrionem" - Cả thế giới là một sàn diễn, nhà hát Globe trở thành nơi Shakespeare có thể trình diễn các tác phẩm cho mọi tầng lớp từ bình dân đến quý tộc. Thời gian này Shakespeare vẫn chứng tỏ năng suất bản thân khi hoàn thiện được đến bốn vở kịch lớn, mỗi vở là một sắc thái riêng biệt. Henry Đệ Ngũ là vở kịch lịch sử hào hùng và đánh dấu sự chia tay của Shakespeare dành cho thể loại này. Julius Caesar là bi kịch chính trị sâu sắc, nhưng thay vì tập trung vào nhân vật tiêu đề hay ngoại cảnh hành động, Shakespeare đã đi một nước cờ còn táo bạo hơn khi khai thác về tâm lý kẻ ám sát. As You Like It - Xin Tùy Ý Thích thì đến nay vẫn được coi là đỉnh cao hài kịch lãng mạn cũng như tiên phong về hình tượng nhân vật nữ thông minh, tự chủ. Đêm thứ mười hai, tiếp tục khai thác các chủ đề về tình yêu của Shakespeare.
Qua các vở kịch này, ta có thể thấy ngôn ngữ và tư duy của nhà viết kịch có sự thay đổi sâu sắc - thay vì các ngôn từ hào nhoáng, chủ đề mà Shakespeare động đến liên quan đến tồn tại và bản chất của thời gian, cũng như sự mong manh của quyền lực, những điều mà rất nhạy cảm trên chính trường Anh Quốc, nhất là khi nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhất bước vào tuổi gần đất xa trời. Chưa kể, vào năm 1599, Bá tước Essex, một người quen của Cung vụ Nhân Sự dẫn quân đi dẹp loạn miền đất Ái Nhĩ Lan. Trong mục mở đầu của Henry Đệ Ngũ, Shakespeare trực tiếp nhắc đến sự kiện này với hy vọng Essex sẽ trở về trong vinh quang. Tuy nhiên, thất bại của Essex sau đó đã đẩy giới kịch nghệ London vào một giai đoạn chính trị đầy căng thẳng. Trong lúc đó, bản thân Shakespeare vẫn đang tập trung dành thời gian để viết vở kịch Hamlet - cái chết của người con trai và sau đấy là cha vào năm 1601 ảnh hưởng sâu sắc đến Shakespeare, và những suy ngẫm của ông về di sản gia đình sẽ kéo dài dai dẳng đến suốt Hamlet.
Trong năm 1601, cũng có một rắc rối chính trị lần nữa đe dọa đến đoàn kịch Cung Vụ Nhân Sự. Họ bị lôi kéo vào âm mưu lật đổ Nữ hoàng Elizabeth của Bá tước Essex và Southampton, người bảo trợ của Shakespeare. Cả đoàn được trả tiền để diễn vở Richard Đệ Nhị để kích động dân chúng. Nhưng may mắn thay, cuộc nổi loạn thất bại thảm hại và Shakespeare cùng cả đoàn may mắn thoát tội.
Và giữa tất cả các biến cố đấy, Hamlet ra mắt. Bi Kịch Hamlet, vương tử Đan Mạch là câu chuyện dựa trên nhân vật Amleth được ghi chép lại trong cuốn Gesta Danorum, kể về hành trình trả thù của nhân vật Hamlet - một motif đã quá phổ biến trong lòng kịch nghệ Anh Quốc, đây cũng không phải lần đầu tiên Shakespeare viết kịch trả thù. Nhưng so với Titus Andronicus là lời chế giễu bi kịch báo thù, Hamlet của Shakespeare lại mang đậm tính đoạn độc thoại nội tâm sâu sắc. Cái tiên đề cho câu chuyện của Hamlet ở việc, dù bản thân anh ta được một bóng ma của cha tiếp xúc và yêu cầu phải trả thù, nhưng Hamlet luôn thắc mắc liệu điều đó có thật hay không và dành thời gian để suy tư. Nếu như các vở kịch báo thù đương thời đào sâu về hành động, thì Hamlet lại lựa chọn phi hành động và sự trì hoãn làm điểm nhấn của cốt truyện. Cuộc xung đột giữa hành động và suy nghĩ khiến Hamlet người hơn bất kỳ nhân vật kịch nào trước đó, cũng như đưa vở kịch này thành kinh điển trong các tác phẩm kinh điển nhất của Shakespeare.

Sau Hamlet, Shakespeare tiếp tục sáng tác những tác phẩm mang sắc thái đạo đức mơ hồ, tiêu biểu là Troilus và Cressida cũng như All’s Well That Ends Well - Chuyện Đời Thành Đạt. Dù bận rộn với sân khấu, Shakespeare vẫn tiếp tục thực hiện công việc kinh doanh, ông chi một số tiền rất lớn để mua đất tại quê nhà nhằm củng cố tài chính gia tộc. Hành động đấy của Shakespeare hẳn rất cần thiết, bởi đầu tháng 3 năm 1603, Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhất, người bảo trợ lâu năm của Cung Vụ Nhân Sự qua đời - chỉ sau một tháng khi đoàn biểu diễn cho bà lần cuối tại Điện Richmond. Một trận đại dịch hạch khủng khiếp bùng phát tại Luân Đôn cũng khiến các nhà hát phải đóng cửa để ngăn chặn lây lan. So với các nhà thơ đương thời, Shakespeare không hề viết bất kỳ bài điếu thi nào cho Nữ hoàng - điều này có thể đến từ sự xa cách của Shakespeare với cựu triều Tudor sau vụ bê bối Essex năm 1601.
Khi vua James Đệ Nhất lên ngôi vào năm 1603, vị thế của Shakespeare trong tân triều cũng thay đổi vĩnh viễn. Là người có niềm đam mê mãnh liệt với sân khấu, James Đệ Nhất cấp sắc lệnh chính thức đổi tên đoàn Cung Vụ Nhân Sự thành King’s Men - Vương Thượng Nhân Sự. Shakespeare và các đồng nghiệp giờ đây trở thành những người phục vụ trực tiếp cho triều đình, được cấp vải nhung đỏ để mặc trong các nghi lễ hoàng gia. Khởi đầu một thanh niên tỉnh lẻ vô danh, Shakespeare đã vươn tới nấc thang danh vọng và huy hoàng nhất của đời mình.
Nhà văn của Nhà Vua
Trong thời kỳ Vua James, Shakespeare vẫn viết kịch, nhưng thay vì tập trung vào thể loại hài kịch lãng mạn, ông lần này đào sâu thêm về bi kịch, và dựa trên các nhân vật lịch sử lẫn các huyền thoại. Đoàn kịch Vương Thượng Nhân Sự không chỉ khẳng định được uy tín mà còn về năng suất - trong vòng 13 năm, họ đã diễn trước nhà vua tới 187 lần, nhiều hơn tất cả các đoàn kịch khác cộng lại.
Lẽ dĩ nhiên, cuộc sống vẫn rất mệt mỏi với Shakespeare. Dù là đại gia bất động sản ở Stratford, tại Luân Đôn, tài sản của Shakespeare chỉ bị định giá ở mức 5 bảng Anh - rất có thể là mánh khóe trốn thuế. Ông sống tại nhà trọ của gia đình thợ làm tóc Christopher Mountjoy - lúc này gia đình Mountjoy liên tục xảy ra vụ kiện tụng tài chính gay gắt với con rể. Mặt khác, đợt dịch năm 1603- 1604 khiến Shakespeare tranh thủ về dinh thự Stratford để sáng tác. Điều này vô hình trung lại là may mắn, bởi vào tháng 11 năm 1605, phe cực đoan Công giáo giấu 36 thùng thuốc súng dưới tầng hầm của tòa nhà Quốc Hội để tiêu diệt toàn bộ hoàng gia và giới tinh hoa. Dù âm mưu bị ngăn chặn, chính quyền Anh đã đáp trả tàn khốc, cấm người Công giáo hành nghề quan trọng, áp dụng các khoản phạt khổng lồ lẫn giới hạn vị thế xã hội của họ.
Sự sụp đổ của một trật tự Công giáo cũ và sự trỗi dậy của Thanh giáo hẳn đã in sâu vào tư tưởng của Shakespeare để ông viết lên vở kịch Timon xứ Athen và vua Lear. Timon xứ Athen, được dựa trên Cuộc Đời Song Hành của sử gia Plutarch khai thác sự suy đồi đạo đức xã hội và sự tha hóa con người. Vua Lear lại càng đen tối hơn nữa. Lấy huyền thoại vua Leir xứ Briton, vua Lear khai thác về mặt tối trong tính cách con người. Tương tự như Đêm Hè, Shakespeare cũng sử dụng hai câu chuyện có cấu trúc tương đồng trong vua Lear, về việc vua Lear bị các con gái phản bội và Bá tước Gloucester bị đứa con hoang Edmund lừa dối. Các kỹ thuật như thảm họa trên cánh đồng hoang là lời phóng chiếu hoàn hảo đến tâm trí Lear và sự hỗn loạn của một vương quốc mất đi trật tự và cái nhìn. Cái kết của vở kịch - việc Lear đi từ một vị vua đầy quyền năng đến một con vật trần trụi - là một sự đảo ngược của cái kết hạnh phúc sang một kiểu kết thúc nơi tất cả đều chết. Chính điều này đã khiến vua Lear gây sốc rất lớn với những người xem đương thời và được đánh giá rất cao trên phương diện nghệ thuật
Và chắc hẳn, sự chuyển mình từ hài kịch sang bi kịch cũng thể hiện thế giới bi quan hơn của một Shakespeare đã bước đến tuổi 41. Ngôn ngữ và bối cảnh trong kịch của ông trở nên ngột ngạt và đầy ẩn dụ về bệnh tật, sự thối rữa và cái chết. Mùa hè năm 1606, dịch hạch lại bùng phát tại Luân Đôn lần nữa. Điều này vô hình trung tạo điều kiện để Shakespeare viết các đoạn độc thoại nội tâm trong Macbeth và các vở kịch khác.
Macbeth, vở đại bi kịch tiếp theo được Shakespeare viết mang đậm tinh thần bi quan chính trị của Shakespeare. Tận dụng nỗi sợ ma thuật của James Đệ Nhất , Shakespeare vừa đưa ba phù thủy vào kịch để đánh trúng nỗi sợ này, vừa xây dựng nhân vật anh hùng chính trực Banquo - tổ tiên của vua James Đệ Nhất. Kỹ thuật nói nước đôi được sử dụng trong Macbeth ám chỉ lấy các phạm nhân Công giáo trong sự kiện thuốc súng năm 1605, và nhân vật Phu nhân Macbeth đến nay vẫn là một khuôn vàng thước ngọc về phản diện trong lòng người xem. Cuối năm đó, nhờ vào tài năng và sự tinh tế nghệ sĩ, Shakespeare củng cố được vị thế của mình trong triều đình. Đoàn kịch của ông không chỉ được biểu diễn trước nhà vua mà còn trước phái đoàn vua Christian Đệ Tứ của Đan Mạch.
Đến năm 1607, Shakespeare quay trở lại với các bi kịch La Mã, bước đầu là cho hoàn thiện và công diễn vở Anthony và Cleopatra, cũng như bắt đầu viết vở Coriolanus - một vở kịch phê phán dân chúng và phân hóa giai cấp - có lẽ dựa trên các cuộc nổi loạn miền trung của nông dân, chống lại rào lậu đất đai. Ông cũng được tin là đã cùng với George Wilkins viết vở Pericles, Thân vương xứ Tyre. Đối với gia tộc, tháng 6 năm 1607, con gái của Shakespeare là Susanna kết hôn với một bác sĩ danh tiếng tên John Hall. Niềm vui cũng đi kèm nỗi buồn, vào tháng 12 cùng năm, em út của Shakespeare là Edmund qua đời ở tuổi 27. Edmund cũng là một diễn viên, và cái chết trẻ của người em có thể đã góp phần vào tông màu u uất trong các sáng tác sau đấy của anh trai.

Nhà hát Blackfriars thời nay
Năm 1608, đoàn Vương Thượng Nhân Sự mở một nhà hát trong nhà tên Blackfriars . Khác với Globe quần chúng, nhà hát mới này nhỏ hơn rất nhiều với vé khoảng 6 pence, cực đắt so với lao động đương thời. Việc xây dựng một nhà hát mang tính thượng lưu như vậy hẳn đã khiến Shakespeare phải viết tiếp các vở kịch mang tính chiêm nghiệm và lý tưởng hơn. Dẫu vậy, các bi kịch gia đình vẫn không ngừng đeo bám lấy Shakespeare. Vào tháng 9 năm 1608, bà Mary Shakespeare qua đời tại Stratford. Cái chết của người mẹ hẳn đã ám ảnh Shakespeare trong quá trình sáng tác Coriolanus, và từ đấy dẫn đến mâu thuẫn giữa nhân vật cùng tên và người mẹ Volumia trong kịch nghệ.
Trong lúc đó, dịch hạch kéo dài ở Luân Đôn dẫn đến nhiều đoàn kịch phá sản, trừ Vương Thượng Nhân Sự được vua James chu cấp. Khoảng thời gian này, có lẽ chịu ảnh hưởng từ cái chết của mẹ và em trai, Shakespeare về quê Stratford, dành thời gian viết lách lẫn đầu tư bất động sản. Cương vị điền chủ có tiếng hẳn lan tỏa vào trong tâm trí Shakespeare chuyện nghỉ hưu giải nghệ. Dù vậy, ông vẫn viết Cymbeline - một vở kịch Lãng Mạn pha trộn giữa lịch sử cổ đại của Anh, các âm mưu kiểu Ý, cùng yếu tố cổ tích. Mang tính thử nghiệm cao hơn rất nhiều so với các vở kịch khác của Shakespeare, Cymbeline được viết để tận dụng tối đa không gian nhà hát Blackfriars. Điều đặc biệt nhất, đó là thay vì các bi kịch, Shakespeare cho sự tha thứ và hòa giải để giải quyết nút thắt câu chuyện, khiến Cymbeline và Câu Chuyện Mùa Đông dù ít nổi tiếng hơn nhưng đánh dấu giai đoạn chuyển mình cuối cùng của Shakespeare.
Vẫn còn nhiều biến cố xảy đến với Shakespeare. Tháng 5, nhà in Thomas Thorpe cho xuất bản tập "Sonnet của Shakespeare" gồm 154 bài thơ trữ tình. Được đề cập đến như một cú chấn động cả làng văn học Anh Quốc - tập thơ này vốn dĩ không được Shakespeare tự tay biên tập xuất bản, thế nên nhiều người đoán rằng đây là một bản in lậu hoặc rò rỉ. Việc nó mở đầu bằng lời đề tặng Ngài W.H. dẫn đến đây là một trong các bí ẩn thi học lớn nhất, hé lộ cả về tâm tư lẫn xu hướng tính dục của Shakespeare.
Từ năm 1610, Shakespeare dành phần lớn thời gian ở dinh thự New Place tại Stratford thay vì ở lại London sau dịch hạch. Ông tập trung vào việc quản lý đất đai, tham gia các vụ kiện tụng nợ nần và củng cố gia sản. Không còn tham gia diễn xuất thường xuyên, Shakespeare giờ là một cộng tác viên từ xa cho đoàn kịch, gửi bản thảo lên đến Luân Đôn. Các báo cáo về vụ đắm tàu Sea Venture tại Bermuda một năm trước, đi kèm thêm là cảm quan thiên nhiên dẫn đến Shakespeare chuẩn bị cho vở kịch cuối cùng của riêng mình: The Tempest - Giông Tố. Thể loại của nó, sẽ là bi hài kịch - dựa trên thị hiếu của khán giả lẫn đặc thù của Shakespeare. Dù vậy, ông cũng bắt đầu cộng tác với John Fletcher, một nhà biên kịch mới nổi để viết thêm 3 vở kịch nữa. Chúng bao gồm Cardenio - một vở kịch đến nay đã thất lạc dựa trên Don Quixote, Henry Đệ Bát, Two Noble Kinsmen - Hai Đồng Tộc. Vào ngày 1 tháng 11 năm 1611, vở Giông Tố được công diễn tại triều đình nhân ngày lễ Các Thánh. Nhân vật chính của vở kịch, Prospero là một phù thủy dùng quyền năng để điều khiển cả hòn đảo, mang tính bi quan hơn, vẫn được coi là hiện thân của chính Shakespeare. Và có lẽ, việc Shakespeare để Prospero học cách buông bỏ cũng là cách ông để lại lời giã từ đến sân khấu.
Những năm cuối đời và di sản
Từ năm 1612 đến lúc Shakespeare qua đời, Shakespeare gần như đã định cư hẳn tại Stratford. Ông dành thời gian chăm sóc vườn tược, quản lý các khoản đầu tư và tham gia vào đời sống cộng đồng quê nhà. Nhưng định mệnh vẫn chưa buông tha cho ông. Trở lại quê nhà, Shakespeare lại được triệu tập để tham gia vụ kiện liên quan đến quán trọ trước ông từng ở. Tháng 6 năm 1613, con gái của Shakespeare, Susanna bị buộc tội là nhiễm bệnh lậu từ tình nhân và buộc Shakespeare kiện lại kẻ cáo buộc thành công.
Năm 1613, vở kịch Henry Đệ Bát được biểu diễn tại Nhà Hát Globe. Trong buổi diễn, khẩu đại bác đạo cụ đã được bắn đi để tạo hiệu ứng. Không may thay, tia lửa rơi trúng mái tranh nhà hát dẫn đến Nhà hát Globe - biểu tượng gắn liền với cả cuộc đời Shakespeare đã bị thiêu rụi hoàn toàn. Và với Shakespeare, đây hẳn đã là tín hiệu để từ bỏ hẳn việc viết kịch chuyên nghiệp tại Luân Đôn để trở thành điền chủ quê nhà.
Năm 1615, sức khỏe Shakespeare, lúc này đã bước qua tuổi ngũ tuần đã cho thấy dấu hiệu giảm xuống. Đầu năm 1616, con gái thứ Judith của ông cũng vướng vào bê bối với hôn phu của cô là Thomas Quinley. Quinley được cho là đã thông dâm với một phụ nữ tên Margaret Wheeler và để cô này có thai, kết cục là cả Wheeler cùng đứa con của cô về sau đều qua đời khi sinh. Bê bối này dẫn đến Shakespeare phải nhìn lại mà phế quyền thừa kế của ông con rể mà thay vào đó để Judith cùng Susanna giữ quyền thừa kế gia sản Nhà Shakespeare.
Ông thiết lập một hợp đồng thế chấp phức tạp thông qua 3 ủy thác viên, trong đó có chủ quán rượu Mermaid , và tài sản này không được trao lại cho vợ ông, bà Anne. Lý do thực sự của hành động này mãi là một ẩn số, nhưng với việc ông tuyên bố giành cho vợ “chiếc giường thứ hai” và trong bối cảnh vụ bê bối của Judith, việc Shakespeare tập trung toàn lực vào việc bảo vệ tài sản cho các con gái cho thấy ông đang cố gắng giữ cho gia sản không bị phân tán bởi những người chồng không đáng tin cậy. Chiếc giường "tốt nhất" thường dành cho khách hay các cô con gái, trong khi chiếc "tốt thứ hai" chính là giường cưới của hai vợ chồng – một kỷ vật tình cảm giữa hai người.
Theo một ghi chú, vào tháng 4 năm 1616, Shakespeare, Michael Drayton và Ben Jonson đã có cuộc họp mặt vui vẻ lần cuối. Và vào ngày 23 tháng 4 năm 1616, đúng ngày sinh truyền thống của Shakespeare, ông qua đời ở tuổi 52. Ông được chôn cất tại gian ca đoàn của Nhà Thờ Tam Điểm của Stratford vì các cống hiến của Shakespeare đến địa phương. Gia đình của Shakespeare, gồm bà Anne, hai con gái Susanna và Judith được quyền thừa kế tài sản. Susanna Shakespeare chỉ có duy nhất một người con gái, trong khi Judith có đến ba đứa con trai. Đáng tiếc thay, cả ba đứa con trai của bà Judith đều mất sớm, để lại di sản của Shakespeare trong tay gia đình Nhà Hall. Bà Susanna giữ gìn giấy tờ và tài sản của cha rất cẩn thận và qua đời năm 1649. Trên bia mộ của bà có khắc rằng bà là người "thừa hưởng trí tuệ của cha mình". Và đến khi con gái của bà, Elizabeth Hall qua đời vào năm 1670, dòng máu trực hệ của Shakespeare cũng tuyệt diệt, và New Place của Shakespeare cùng các di sản khác của gia tộc đều được bán đi hoặc giao cho họ hàng xa quản lý.

7 năm sau khi William Shakespeare mất, hai người bạn và là đồng nghiệp của ông, John Heminges và Henry Condell, đã thu thập và xuất bản tuyển tập "First Folio" gồm 36 vở kịch. So với tập tác phẩm của Ben Jonson được in rất tinh xảo, First Folio bị đánh giá là có chất lượng trung bình. Nhưng nhờ tuyển tập này, một nửa số tác phẩm của Shakespeare mới được lưu giữ để hậu thế nhìn nhận.
Trong thế kỷ 17 đương thời, Shakespeare được kính trọng thay vì sùng bái. Việc bị chê bởi Ben Jonson là không biết nhiều về tiếng Latin lẫn Hy Lạp, đi kèm với đó là xuất thân bình dân, dẫn đến Shakespeare bị coi là một nghệ sĩ tài năng, thiếu học thức cùng tính kỷ luật so với các tiêu chuẩn cổ điển.
Đến thời kỳ Trung hưng, lý thuyết công lý thi ca cùng ảnh hưởng kịch Pháp dẫn đến các vở kịch của Shakespeare bị cho là quá đen tối, bị sửa đổi để phù hợp với thị hiếu thanh lịch của thời đại. Vua Lear được thay đổi để Cordelia sống sót, Giông Tố được sửa hài nhiều hơn bi, cả Romeo và Juliet đều sống sót. Nhưng vào năm 1769, diễn viên lừng lẫy tên David Garrick đã tổ chức lễ kỷ niệm Shakespeare lần đầu tiên tại Stratford, kéo theo sau đó là một trào lưu nhìn nhận lại về tài năng của Shakespeare. Các học giả bắt đầu biên soạn các văn bản gốc của ông, coi ông là một thiên tài bẩm sinh, người hiểu thấu mọi ngóc ngách của tâm hồn con người mà không cần qua trường lớp hàn lâm.
Shakespeare trở thành biểu tượng quốc gia của nước Anh, và đến thế kỷ 19, ông được đề cập đến như “vị thánh của các anh hùng thi sĩ”. Đến thế kỷ 20, Shakespeare được coi như tiền-thân cho chủ nghĩa hiện đại và tâm lý học, Hamlet là ví dụ để củng cố lý thuyết phức cảm Oedipus, Othello là về sắc tộc, Macbeth là về nữ quyền và Giông Tố về chủ nghĩa thực dân. Đến ngày nay, Shakespeare được coi là ngôn ngữ chung của toàn nhân loại và là biểu tượng cho đỉnh cao của văn học toàn thế giới. Nhiều bộ phim, game, tiểu thuyết hay truyện tranh như Rome (2004), The Lion King (1994), Fire Emblem Three Houses (2019). Discworld và Ran (1989) dựa trên khung mẫu của Shakespeare, đưa cái tên của ông hòa làm một với tinh thần của thế giới phương tây.
Và lúc này, hãy nhìn lại năm 1623, chính Ben Jonson, trong lời tựa First Folio, đã tuyên bố “ông không thuộc về một thời đại, mà là cho mọi thời đại”. Một câu nói từ bốn trăm năm trước, và đến nay trong thời hiện đại, vẫn hết sức chính xác.
Một nhà văn xây dựng di sản dựa trên di sản từ người khác, và đến nay vẫn có rất nhiều người tranh luận rằng từng vở kịch của Shakespeare đã chịu ảnh hưởng từ nhóm trí thức đại học đương thời. Hamlet dựa trên Bác Sĩ Faustus của Christopher Marlowe, Macbeth được đúc từ khuôn bi kịch trong vở Tamburlaine cũng của Marlowe, hay như Giấc Mộng Đêm Hè cũng chịu ảnh hưởng từ Fiar Bacon and Fiar Bungay từ Robert Greene. Xin Tùy Ý Thích mang màu sắc viết văn xuôi lãng mạn trong Rosalynde của Thomas Lodge, hay đến Vua Lear dựa trên vở kịch vô danh. Greene đã gọi Shakespeare là con quạ mới phất, và là một Johnnas factotum - kẻ biết mỗi thứ một ít. Nhưng như đã đề cập đến về Titus Andronicus hay Giấc Mộng Đêm Hè, Shakespeare là kẻ đề ba, nâng tầm văn học Anh lên đến một tầm cao hoàn toàn mới.

Lịch sử bi hài kịch lúc Shakespeare viết đã trải qua 18 thế kỷ, ấy vậy mà xuyên suốt 2 thập kỷ viết kịch, Shakespeare đã để vào đó là tính thuyết phục về mặt hành động hư cấu, cốt truyện phức tạp, cùng sự mơ hồ về đạo đức - nhân trạng. Mà không kể đến bi hài kịch, các thể loại của Shakespeare chạm đến đi từ bi, hài, lãng mạn, lịch sử, sonnet đến nay vẫn được nâng lên nhiều bậc. Shakespeare chuyên viết bi hài kịch, nhưng động đến thể loại kịch này ông vẫn có thể phát triển sâu thêm nhiều hơn nữa, và khó có thể tìm thấy ai để lại nhiều di sản nhất quán và vĩ đại hơn ông.
Ông đã cách mạng hóa được nhân vật - vào tay Shakespeare, ai cũng nhìn nhận được với con mắt đa chiều, tính cách, nhận thức và tam quan riêng của bản thân. Hamlet là sự biến đổi sâu sắc của anh hùng bi kịch, Richard Đệ Tam hay Macbeth là đỉnh cao của thể loại phản diện bi kịch, còn Vua Lear là cả cấu trúc kể chuyện. Bằng cách đảo ngược quy tắc Tam Đồng Quy Chiếu của Aristotle, Shakespeare thay đổi địa điểm, kéo dài thời gian và đan xen nhiều tuyến truyện phụ - điều không tưởng với kịch cổ điển. Hài hước được đưa vào bi kịch, độc thoại và lời bộc bạch với khán giả được tận dụng đến nhuần nhuyễn. Nếu Shakespeare lấy một từ người đi trước, thì ông để lại mười cho thế hệ sau. Cái bóng từ “con quạ mới phất” phủ bóng bầu trời văn học, đến ngày nay, đã có đến hai nghìn từ tiếng Anh được sáng tạo từ ngôn ngữ kịch Shakespeare, thêm vào với đó là hằng hà sa số cụm từ như vanish into thin air - tan biến vào không trung, one fell swoop - sạch sành sanh, hay brave new world - thế giới mới tươi đẹp. Nhưng nổi tiếng hơn tất cả, có lẽ vẫn là the rest is silence trong Hamlet. Và quả thực, tất cả những gì diễn ra sau cái chết với Shakespeare chỉ là sự câm lặng từ cửu tuyền, nhưng với cả dương gian là bản hòa nhạc thịnh soạn mà ông để lại cho nhân thế.
Câu hỏi về quyền tác giả của Shakespeare

Vài lời cuối trong bài viết ngày hôm nay là về vấn đề quyền tác giả của William Shakespeare. Từ đầu thế kỷ 18, nhiều người phỏng đoán rằng danh tính của Shakespeare thực chất là bút danh cho một hay nhiều cá nhân. Những người tin vào giả thuyết này vẫn được gọi là hội phản Stratford, còn những người tin rằng Shakespeare viết kịch Shakespeare được gọi là Hội Stratford.
Lập luận của phe Stratford cho rằng Shakespeare quá giỏi so với nguồn gốc của mình - Làm sao một con người không có hồ sơ học tập tại Oxford hay Cambridge lại có thể am tường luật pháp, y học và các nghi lễ cung đình? Việc chúng ta chỉ có 6 chữ ký nguệch ngoạc của Shakespeare là bằng chứng then chốt của phe phản Stratford, trong đó một người làm kinh doanh như Shakespeare không thể biết nhiều đến thế về văn học, lịch sử, triết học và thần học được, và người viết thực sự các vở kịch của ông là Christopher Marlowe hay Francis Bacon. Trong ba trăm năm theo sau đó, giả thuyết này đã được rất nhiều người nổi tiếng ủng hộ như Charles Chaplin, Mark Twain, Sigmund Freud hay Charles Dicken, thậm chí còn được làm phim. Dưới thời Mark Rylance, nhà hát Globe cũng ủng hộ quan điểm này.
Nhìn vào bằng chứng lịch sử, thì ta có thể thấy lập luận này không hẳn là có cơ sở. Vào thời đại Elizabeth, các trường tiểu học ở Stratford cung cấp một nền tảng giáo dục cực kỳ khắc nghiệt về tiếng Latin, Logic và Văn học cổ điển. Hồ sơ học sinh thời đó không còn lưu giữ được, nhưng với tư cách là con trai của một ủy viên hội đồng thành phố, Shakespeare đương nhiên được học miễn phí tại đây, cộng thêm với đó là việc hay đi tiếp xúc tại quán Mermaid giúp Shakespeare biết rất nhiều về thế giới xung quanh. Hơn nữa, việc không còn bản thảo gốc của các vở kịch là điều bình thường ở thế kỷ 17, vì sau khi in xong, các bản chép tay thường bị vứt bỏ như rác vụn tại nhà in.
Tuổi trẻ Stratford
William Shakespeare sinh ra tại Stratford, một thị trấn nhỏ ở Anh. Ông là con trai của cặp vợ chồng John Shakespeare và Mary Arden. Một điểm thú vị là đến nay, vẫn chưa ai biết rõ ngày sinh của Shakespeare. Không có giấy khai sinh chính thức, các sổ sách nhà thờ ghi nhận ông được làm lễ rửa tội vào ngày 26 tháng 4 năm 1564. Do đó, người ta thường lấy ngày 23 tháng 4 năm 1564 làm ngày sinh truyền thống của William Shakespeare, dù vậy hệ thống lịch cũ và đối chiếu với lịch Gregorian khiến chúng ta có thể kết luận được rằng Shakespeare thực chất được sinh vào ngày 3 tháng 5.
Shakespeare ra đời trong thời kỳ đặc biệt của lịch sử Anh Quốc lẫn cả thế giới. Thế kỷ 16 là điểm chuyển giao thời hiện đại với trung đại, với các xung đột về quân sự lẫn tôn giáo. Anh quốc chuyển từ Công giáo sang Tin Lành và bắt đầu xây dựng hạm đội trứ danh, thách thức các đế quốc lớn trên thế giới. Trong lòng nước Anh, xã hội bị kiểm soát chặt chẽ bởi luật pháp, từ ăn mặc đến ăn uống, đi kèm với đó là các hình phạt hà khắc như chém đầu hoặc moi ruột dần tan biến để thế chỗ cho các hình phạt nhân văn hơn. Các cuộc cải cách tôn giáo cũng dẫn đến nền móng của kịch nghệ Anh truyền thống - các vở kịch tôn giáo, phép màu hay huyền bí đều lu mờ, mà thay vào đó là các thể loại khác được đầu tư hơn. Cả hai điều trên vô hình trung khiến Shakespeare luôn có cảm giác đứng trên giữa hai thế giới, giữa hoài nghi và đức tin, giữa nông thôn và thành thị, giữa sự sống và cái chết, và sự xung đột giữa hai thế giới quan này sẽ trở thành nền tảng cho sự nghiệp viết kịch của ông về sau.
Cha mẹ của Shakespeare, ông John và bà Mary Arden đều là những người khá giả vào thời điểm loạn lạc đấy. Ông John là thợ làm găng tay và thị trưởng cho Stratford-Upon-Avon vào thời điểm con trai ra đời. Mẹ cậu bé William, bà Arden có xuất thân từ một gia đình nông dân khá giả. Trước ngày William ra đời, cả hai vợ chồng đã mất hai người con gái. Việc một bé trai nối dõi tông đường sinh ra và vượt qua dịch hạch như này đã là một may mắn phi thường với gia đình, và William trên cương vị đứa con trai lớn nhất còn sống trong số 8 người con của Nhà Shakespeare đã phải nhận kỳ vọng rất lớn khi còn trẻ.
Tuổi thơ của Shakespeare và sau này là cả cuộc đời của ông lại không mấy yên bình. Ông John từng dính đến hoạt động bất hợp pháp như bán len số lượng lớn và cho vay nặng lãi. Trong cộng đồng,ông John cũng tự động rút khỏi vai trò ủy viên hội đồng của mình cũng như các cuộc họp tại sảnh chung, có lẽ trốn tránh vì vấn đề nợ nần. Điều này tạo áp lực cùng tiếng đồn không đáng có cho gia đình Shakespeare là đám gian trá và trốn tránh nghĩa vụ thần dân. Cậu bé William ngày ấy nghĩ thế nào về cha? Chúng ta có rất ít thông tin, nhưng qua các tài liệu lịch sử, có thể đoán được William có một góc quan sát nhạy bén, nhận thức rõ về việc buôn lậu, và chứng kiến cả những thất bại và thành công gia đình. Đối với một người trẻ có tâm hồn nhạy cảm, nhận thấy người cha mình từng thần tượng hóa thực chất cũng có những khiếm khuyết và bị cả thế giới căm ghét vừa là quá trình lớn lên, vừa là sự vỡ mộng.
Và trong lúc khó khăn đấy, giáo dục đến với Shakespeare như một nguồn giải phóng to lớn về tinh thần. Dù cho không có nguồn ghi chép rõ ràng, các học giả tin rằng Shakespeare theo học trường ngữ pháp ở Stratford, tại đây cậu bé William được học đọc, viết, nghiên cứu sâu về văn học, thần thoại và tiếng Latin trong khung thời gian dày đặc. Môi trường giáo dục này đóng vai trò như một sự giải thoát, giúp tâm trí William tạm thời rời xa khỏi áp lực tài chính và rắc rối nợ nần bủa vây ngôi nhà phố Henley. Những tác phẩm về sau của Shakespeare cho thấy ông hẳn là người có thiên phú về văn học và tố chất thơ ca từ khi còn rất nhỏ, nhất là trong các bài tập tiếp thu và imitatio - hay mô phỏng văn phòng trứ danh của Anh Quốc.
Các thầy giáo của William có vẻ cũng có thiện cảm với cậu bé - theo quy định giáo luật đương thời, mỗi năm các thầy giáo có nghĩa vụ báo cáo danh sách những học trò xuất sắc nhất cho Giám mục giáo phận Worcester. Những cá nhân có năng khiếu và có sự tiến bộ vượt bậc trong học tập sẽ trở thành những người phò tá đắc lực cho chính quyền hoặc phục vụ Giáo hội trong tương lai. Kỳ lạ thay, William chưa bao giờ được đề cử. Dù lịch sử vẫn chưa chắc chắn, nhưng các nhà sử học đều đưa ra giả thuyết đáng chú ý - các thầy giáo, thông qua mạng lưới quan hệ đã vạch riêng cho William một con đường hoàn toàn khác biệt. Làm việc ở nhà thờ thời bấy giờ đòi hỏi tiền tài và địa vị rất cao trong xã hội - điều mà gia đình Shakespeare không hề có. Shakespeare thay vào đó được định hướng là sẽ trở thành một diễn viên sân khấu. Dù đến nay chưa ai chứng minh được giả thuyết, việc Shakespeare theo đuổi ngành kịch ắt hẳn là thiên phú lẫn định mệnh của cuộc đời.
Năm 15 tuổi, Shakespeare hoàn tất chương trình học. Lúc này, không ai biết ông làm gì, có truyền thuyết ông phải bó trốn lên Luân Đôn vì bắt quả tang đi trộm hươu, nhưng truyền thuyết vẫn chỉ là truyền thuyết. Khả năng cao là ông tiếp tục làm việc trong xưởng da gia đình hoặc làm thư ký cho một luật sư địa phương, hoặc đi làm gia sư cho một gia đình giàu có. Vào năm William 18 tuổi, có một hồ sơ xin giấy phép kết hôn ghi tên Anne Whateley. Đây là lỗi ghi chép của một viên thư ký cẩu thả, vì vào tháng 9 năm đấy, người William cưới tên là Anne Hathaway. Bà Anne lớn hơn chồng 8 tuổi, và khi cưới đã mang thai Susanna - con gái đầu lòng của William, và mặc dù việc bản thân cô dâu có thai trước khi cưới là điều bình thường, sự gấp gáp bất thường cộng thêm với việc Shakespeare kết hôn quá sớm vẫn là câu hỏi đau đầu với các sử gia hiện tại. Cùng với Hathaway, Shakespeare có đến ba người con, lần lượt là Susanna cùng cặp song sinh Hamnet và Judith. Ngoài các thông tin cơ bản này, hầu như không có bất kỳ ghi chép gì về tính cách, quan hệ tình cảm hay đời sống hôn nhân của hai vợ chồng.
Bước Ngoặt Luân Đôn
Từ năm 1585 đến năm 1592, không hề có bất cứ ghi chép nào về Shakespeare - những năm tháng này được đề cập với tên gọi Những Năm Mất Tích - nhiều sử gia đề xuất rằng có thể Shakespeare định theo đuổi ngành luật, làm gia sư hoặc tìm cách gia nhập các đoàn kịch lớn của Luân Đôn vào thời điểm đấy.
Ta có thể đoán được sau thời gian làm việc ở vùng nông thôn trong khoảng thời gian 1587 đến năm 1589, Shakespeare trở về nhà ở phố Henley với một tâm hồn đầy xáo trộn. Chàng trai trẻ không còn bằng lòng với vị thế trong gia đình, mà thay vào đó trở nên phức tạp và khó lường hơn sau các trải nghiệm đường đời. Bằng cách tận dụng các mối quan hệ với gia đình, ông để lại cha mẹ, con cái và ba đứa con nhỏ để dấn thân vào tham vọng cá nhân của mình là ngành kịch ở Luân Đôn.
Trong khoảng thời gian này, Shakespeare viết lên vở hài kịch Hai Quý Ông Từ Verona. Qua cách Shakespeare chế giễu những lời từ biệt sướt mướt trong vở kịch này, có thể thấy ông là người có cái nhìn thực tế, thậm chí là hơi tách biệt đối với những cảm xúc chia ly ủy mị. Dù vậy, cuộc chia ly năm ấy sẽ định hình lại toàn bộ cuộc đời sau này của Shakespeare.
Đến Luân Đôn, Shakespeare không chỉ đến một vùng đất của tham vọng mà còn là một nơi nguy hiểm, với nạn vệ sinh kém cùng bệnh dịch. Tỷ lệ tử vong của thủ đô Anh Quốc luôn cao hơn tỷ lệ sinh, dân số chỉ tăng nhờ dòng người nhập cư từ các tỉnh và người tị nạn từ châu Âu. Khác với thời cận đại, Luân Đôn thời Shakespeare rất nhỏ, nhưng cực kỳ đông đúc và chật chội. Điều này tạo ra một dạng văn hóa đại chúng dưới thời Elizabeth Đệ Nhất, người dân sống gần gũi với nhau và có điều kiện để lan tỏa các kiến thức từ các đầu sách, đặc biệt trong đó là kịch nghệ. Xem kịch là điều gì đó rất đỗi đặc biệt, được ví đến như một hoạt động cộng đồng đầy náo nhiệt. Để xem kịch, phải dành đến 2-3 penny để có chỗ ngồi thoải mái, trong khi lương trung bình một ngày của dân nghèo Luân Đôn chỉ có khoảng 12 pence. Trong không gian chật chội đó, sân khấu không hề có rèm che hay cảnh trang trí phức tạp, mà phải sử dụng ngôn từ để thiết lập bối cảnh. Trong thời Shakespeare, phe Thanh giáo cũng từng chỉ trích kịch và coi nhà hát là chỗ truyền bá sự bệnh hoạn và đồng tình luyến ái, nhưng nhờ sự bảo trợ từ Nữ Hoàng Elizabeth, các nỗ lực cấm đoán của phe Thanh giáo đều không thành.
Tham gia vào kịch, Shakespeare không chỉ là nhà thơ và nhà biên kịch mà còn là một diễn viên. Tiếp xúc với trang phục diễn xuất còn mang lại cho chàng thanh niên trẻ sự tách biệt về nhận thức - khi khoác lên mình lớp áo nhân vật, quê hương của Shakespeare không chỉ là thế giới duy nhất, mà là sân khấu riêng biệt, qua vở Giấc Mộng Đêm Hè, ta thấy được một cảm giác về sự đối lập giữa thế giới thi mộng của người thi sĩ ở quê hương với sự bình thường, quy củ trên các khu thủ công. Điều này khiến các nhà phê bình phỏng đoán Shakespeare có một nỗi khiếp sợ của cái gọi là thực tại - ông có một trí tuệ khao khát muốn thoát ly khỏi cuộc sống thường nhật, nhưng cũng đan xen vào đó là tinh thần ngợi ca và tôn vinh những giá trị tốt nhất của hiện thực.
Vào năm 1588, chiến thắng của hạm đội Anh trước hạm đội Armada của Tây Ban Nha không chỉ bảo vệ Tin Lành mà còn khơi dậy tinh thần yêu nước mãnh liệt. Shakespeare đã tận dụng luồng cảm hứng yêu nước này để viết nên kịch sử, như trong bộ ba Henry Đệ Lục, ông học cách xử lý khối lượng lớn tư liệu lịch sử từ sử ký của Holinshed và Hall.
Tất nhiên, nhân vô thập toàn, sự hiện diện của Shakespeare không hẳn sẽ chiều lòng tất cả mọi người. Vào năm 1592, nhà viết kịch Robert Greene viết một đoạn văn nhạo báng chàng trai Shakespeare - gọi ông là “con quạ mới phất” hay “upstart crow” và tuyên bố các thành tựu của Shakespeare được dựa trên nhóm university wits - các trí thức đại học có tiếng đương thời. Lời chế nhạo này hóa ra lại chứng tỏ bản thân Shakespeare đã đủ trình độ để đe dọa các nhà văn và học giả có tiếng, được đào tạo bài bản tại các trường đại học.
Cùng cuối năm đấy, Cái chết Đen hay bệnh Dịch hạch bùng phát tại Luân Đôn khiến các nhà hát phải đóng cửa để tránh lây nhiễm. Không thể diễn kịch, Shakespeare buộc phải đi từ nghề diễn viên sang một nhà thơ. Ông xuất bản hai trường ca thành công là Venus và Adonis, cùng với đó là Vụ Hãm Hiếp Lucrece. Điều khiến cả hai trường ca này thành công là bởi Shakespeare có một nhãn quan và cách viết thể thơ rất sáng tạo và thích ứng trước nhiều thể loại vào thời điểm đấy - nếu cấu trúc khổ thơ của Venus và Adonis được xây dựng để tạo nhịp điệu nhanh, hóm hỉnh và nhẹ nhàng thì nghệ thuật viết trong Vụ Hãm Hiếp Lucrece lại được đề dòng lên, kéo dài và khiến bài thơ mang tính suy tưởng đạo đức, danh dự và bi kịch chính trị. Shakespeare dành một phần lớn bài thơ để miêu tả cảnh Lucrece đứng nhìn một bức tranh vẽ cảnh thành Troy sụp đổ. Bằng việc miêu tả bức tranh này, ông dùng nỗi đau của thành Troy để phản chiếu sự sụp đổ thế giới nội tâm của Lucrece, một kỹ thuật mượn từ văn học cổ đại cực kỳ tinh tế.
Cả hai tác phẩm đều được đề tặng cho Henry Wriothesley, Bá tước vùng Southampton. Đây là bước tiến quan trọng giúp ông bước chân vào giới thượng lưu và có được nguồn thu nhập ổn định khi sân khấu bị đình trệ, cũng như giúp Shakespeare tiếp xúc được với văn hóa Ý để viết lên vở bi kịch trứ danh Romeo và Juliet. Khi dịch bệnh giảm và các nhà hát mở cửa trở lại, sự ra đời của đoàn kịch Lord Chamberlain’s Men - Cung Vụ Nhân Sự - nhóm kịch được cung vụ đại thần lúc đấy bảo trợ đã thay đổi hoàn toàn cơ nghiệp Shakespeare. Vị thế của ông được nâng cao trong đoàn kịch, đi từ biên kịch - diễn viên sang cổ đông chính, giúp ông có nguồn tài chính ổn định hơn trước. Gia đình Shakespeare cũng đạt được tước hiệu quý tộc và dần được người dân quanh vùng công nhận.
Đặc biệt hơn cả, trong năm ấy, cả ba vở A Midsummer’s Night Dream - Giấc Mộng Đêm Hè, Richard Đệ Nhị và Romeo và Juliet ra mắt và nhận được lời tán dương nhiệt liệt. Giấc Mộng Đêm Hè tựa như lời phản bác của Shakespeare về lời phê bình của Robert Greene dành cho ông 3 năm trước đó - nếu như các vở kịch của Greene chú trọng đến kết cấu 2-3 tuyến truyện khác nhau, Đêm Hè tựa như một cú đề ba khi Shakespeare lồng đến 4 tuyến truyện, pha trộn thần thoại, thần tiên Anh Quốc đến thành thị - nông thôn. Bằng cách viết Giấc mộng đêm hè, Shakespeare như muốn nói: "Ta không chỉ dùng lông vũ của các ngài, mà ta còn bay cao hơn các ngài bằng chính đôi cánh đó.” Đến câu chuyện về vị vua Richard Đệ Nhị yếu kém bị lật đổ, Shakespeare thể hiện sự hoàn thiện về thi ca, và riêng Romeo và Juliet lại là một lật ngược về chủ đề. Bi kịch được dựa trên các cảm hứng của Shakespeare về Commedia dell’Arte đất Ý. Nhưng Shakespeare không chỉ thêm vào đó là hài, mà ông còn điểm xuyết vào đó là bi. Kết hợp với nghệ thuật vật chất hóa thời gian nhằm đẩy cao tính căng thẳng trong lăng kính hiện thực, vở Romeo và Juliet đến nay vẫn được coi là tuyệt phẩm đáng nhớ nhất của Shakespeare và tiền đề cho sự nghiệp viết bi hài kịch hoành tráng của ông.
Đến một năm sau, con trai duy nhất và người kế thừa của Shakespeare, Hamnet qua đời vì bệnh dịch hạch. Cái chết của Hamnet là cú sốc lớn nhất trong cuộc đời Shakespeare, và nỗi đau mất con trai đã ám ảnh các tác phẩm sau này của ông, và là động lực để ông viết lên bi kịch nổi tiếng nhất của mình: Hamlet.
Thời kỳ đỉnh cao
Tháng 4 năm 1597, một năm sau cái chết của con trai, Shakespeare mua New Place - căn nhà mới của ông tại Stratford. Việc một "anh kép hát" từ Luân Đôn trở về mua một dinh thự bề thế như vậy đã gây kinh ngạc cho dân địa phương, cũng như khẳng định vị thế Nhà Shakespeare. Nhắc đến chủ đề con trai, thì cũng khó để không kể đến vở kịch hai phần Henry Đệ Tứ. Khai thác mối quan hệ giữa cha con Henry Đệ Tứ và vương tử Hal, vở kịch đào sâu về quan hệ cha con và sự khác biệt giữa tuổi trưởng thành đầy trách nhiệm và tuổi trẻ bồng bột. Nhân vật Falstaff cũng là điểm nhấn quan trọng nhất - sự hài hước và duyên dáng của tay hiệp sĩ gây bão cả khán đài Luân Đôn, lấn át cả nhân vật chính và dựng lên một cơn sốt văn hóa. Đen đủi thay, Falstaff cũng khiến Shakespeare vướng vào bê bối chính trị với gia tộc Oldcastle. Ban đầu, Falstaff được dựa trên một nhân vật trong Henry Đệ Lục là Oldcastle, nhưng dòng họ quý tộc Cobham, hậu duệ thật của Oldcastle phản đối dữ dội vì tin rằng Shakespeare đang bôi nhọ tổ tiên của họ. Dưới áp lực từ Cung vụ Đại Thần, Oldcastle được đổi tên thành Falstaff.
Cùng năm đó, một loạt các bản in rời được phát hành để phục vụ nhu cầu kịch Shakespeare của công chúng, một sự kiện càng chứng tỏ thành công vượt trội của Shakespeare. Nguyên nhân cho thành công đấy của ông, bên cạnh tài năng nằm ở tính cách. Nhiều nguồn đương thời miêu tả ông có sự bao dung đầy thiện chí với điều lố bịch, từ đấy giúp các diễn viên có thiện cảm với bản thân, cũng như lối viết tạo không gian sáng tạo và ứng biến sân khấu. Dù chúng ta không có ghi chép cụ thể về các buổi biểu diễn thời Tudor, nhưng vào năm 1598, vở Hai Quý Ông từ Verona đã được xếp đứng đầu trong danh sách tác phẩm hài kịch của Shakespeare, điều này chứng tỏ các vở kịch đều rất thịnh hành và có sức ảnh hưởng lớn.
Trước đó một năm, bê bối chính trị từ vở kịch của Ben Jonson - một biên kịch trẻ tài năng - mà các đoàn kịch phải lưu diễn ở các vùng nông thôn. Ấy vậy mà khi Jonson tìm đến Shakespeare, bỏ ngoài tai điều tiếng thiên hạ, Shakespeare thuyết phục đoàn kịch dàn dựng vở Every Man in His Humour - Mỗi Người Một Tâm Trạng của Jonson. Sự bảo trợ của Shakespeare đã giúp thanh niên trẻ có được sự nghiệp và nhà viết kịch có được người bạn tâm giao. Cả hai thường xuyên có những cuộc tranh luận sôi nổi tại quán rượu Mermaid ở Luân Đôn, trong khi một số người khác kể lại Jonson cũng dành thời gian để phê bình lẫn tham vấn các tác phẩm của Shakespeare.
Năm 1599, Shakespeare cùng các thành viên trong đoàn kịch góp vốn xây dựng nhà hát Globe bên bờ sông Thames. Đây là nơi biểu diễn hầu hết các kiệt tác của ông và mang lại cho ông nguồn tiền đáng kể. Với khẩu hiệu "Totus mundus agit histrionem" - Cả thế giới là một sàn diễn, nhà hát Globe trở thành nơi Shakespeare có thể trình diễn các tác phẩm cho mọi tầng lớp từ bình dân đến quý tộc. Thời gian này Shakespeare vẫn chứng tỏ năng suất bản thân khi hoàn thiện được đến bốn vở kịch lớn, mỗi vở là một sắc thái riêng biệt. Henry Đệ Ngũ là vở kịch lịch sử hào hùng và đánh dấu sự chia tay của Shakespeare dành cho thể loại này. Julius Caesar là bi kịch chính trị sâu sắc, nhưng thay vì tập trung vào nhân vật tiêu đề hay ngoại cảnh hành động, Shakespeare đã đi một nước cờ còn táo bạo hơn khi khai thác về tâm lý kẻ ám sát. As You Like It - Xin Tùy Ý Thích thì đến nay vẫn được coi là đỉnh cao hài kịch lãng mạn cũng như tiên phong về hình tượng nhân vật nữ thông minh, tự chủ. Đêm thứ mười hai, tiếp tục khai thác các chủ đề về tình yêu của Shakespeare.
Qua các vở kịch này, ta có thể thấy ngôn ngữ và tư duy của nhà viết kịch có sự thay đổi sâu sắc - thay vì các ngôn từ hào nhoáng, chủ đề mà Shakespeare động đến liên quan đến tồn tại và bản chất của thời gian, cũng như sự mong manh của quyền lực, những điều mà rất nhạy cảm trên chính trường Anh Quốc, nhất là khi nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhất bước vào tuổi gần đất xa trời. Chưa kể, vào năm 1599, Bá tước Essex, một người quen của Cung vụ Nhân Sự dẫn quân đi dẹp loạn miền đất Ái Nhĩ Lan. Trong mục mở đầu của Henry Đệ Ngũ, Shakespeare trực tiếp nhắc đến sự kiện này với hy vọng Essex sẽ trở về trong vinh quang. Tuy nhiên, thất bại của Essex sau đó đã đẩy giới kịch nghệ London vào một giai đoạn chính trị đầy căng thẳng. Trong lúc đó, bản thân Shakespeare vẫn đang tập trung dành thời gian để viết vở kịch Hamlet - cái chết của người con trai và sau đấy là cha vào năm 1601 ảnh hưởng sâu sắc đến Shakespeare, và những suy ngẫm của ông về di sản gia đình sẽ kéo dài dai dẳng đến suốt Hamlet.
Trong năm 1601, cũng có một rắc rối chính trị lần nữa đe dọa đến đoàn kịch Cung Vụ Nhân Sự. Họ bị lôi kéo vào âm mưu lật đổ Nữ hoàng Elizabeth của Bá tước Essex và Southampton, người bảo trợ của Shakespeare. Cả đoàn được trả tiền để diễn vở Richard Đệ Nhị để kích động dân chúng. Nhưng may mắn thay, cuộc nổi loạn thất bại thảm hại và Shakespeare cùng cả đoàn may mắn thoát tội.
Và giữa tất cả các biến cố đấy, Hamlet ra mắt. Bi Kịch Hamlet, vương tử Đan Mạch là câu chuyện dựa trên nhân vật Amleth được ghi chép lại trong cuốn Gesta Danorum, kể về hành trình trả thù của nhân vật Hamlet - một motif đã quá phổ biến trong lòng kịch nghệ Anh Quốc, đây cũng không phải lần đầu tiên Shakespeare viết kịch trả thù. Nhưng so với Titus Andronicus là lời chế giễu bi kịch báo thù, Hamlet của Shakespeare lại mang đậm tính đoạn độc thoại nội tâm sâu sắc. Cái tiên đề cho câu chuyện của Hamlet ở việc, dù bản thân anh ta được một bóng ma của cha tiếp xúc và yêu cầu phải trả thù, nhưng Hamlet luôn thắc mắc liệu điều đó có thật hay không và dành thời gian để suy tư. Nếu như các vở kịch báo thù đương thời đào sâu về hành động, thì Hamlet lại lựa chọn phi hành động và sự trì hoãn làm điểm nhấn của cốt truyện. Cuộc xung đột giữa hành động và suy nghĩ khiến Hamlet người hơn bất kỳ nhân vật kịch nào trước đó, cũng như đưa vở kịch này thành kinh điển trong các tác phẩm kinh điển nhất của Shakespeare.
Sau Hamlet, Shakespeare tiếp tục sáng tác những tác phẩm mang sắc thái đạo đức mơ hồ, tiêu biểu là Troilus và Cressida cũng như All’s Well That Ends Well - Chuyện Đời Thành Đạt. Dù bận rộn với sân khấu, Shakespeare vẫn tiếp tục thực hiện công việc kinh doanh, ông chi một số tiền rất lớn để mua đất tại quê nhà nhằm củng cố tài chính gia tộc. Hành động đấy của Shakespeare hẳn rất cần thiết, bởi đầu tháng 3 năm 1603, Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhất, người bảo trợ lâu năm của Cung Vụ Nhân Sự qua đời - chỉ sau một tháng khi đoàn biểu diễn cho bà lần cuối tại Điện Richmond. Một trận đại dịch hạch khủng khiếp bùng phát tại Luân Đôn cũng khiến các nhà hát phải đóng cửa để ngăn chặn lây lan. So với các nhà thơ đương thời, Shakespeare không hề viết bất kỳ bài điếu thi nào cho Nữ hoàng - điều này có thể đến từ sự xa cách của Shakespeare với cựu triều Tudor sau vụ bê bối Essex năm 1601.
Khi vua James Đệ Nhất lên ngôi vào năm 1603, vị thế của Shakespeare trong tân triều cũng thay đổi vĩnh viễn. Là người có niềm đam mê mãnh liệt với sân khấu, James Đệ Nhất cấp sắc lệnh chính thức đổi tên đoàn Cung Vụ Nhân Sự thành King’s Men - Vương Thượng Nhân Sự. Shakespeare và các đồng nghiệp giờ đây trở thành những người phục vụ trực tiếp cho triều đình, được cấp vải nhung đỏ để mặc trong các nghi lễ hoàng gia. Khởi đầu một thanh niên tỉnh lẻ vô danh, Shakespeare đã vươn tới nấc thang danh vọng và huy hoàng nhất của đời mình.
Nhà văn của Nhà Vua
Trong thời kỳ Vua James, Shakespeare vẫn viết kịch, nhưng thay vì tập trung vào thể loại hài kịch lãng mạn, ông lần này đào sâu thêm về bi kịch, và dựa trên các nhân vật lịch sử lẫn các huyền thoại. Đoàn kịch Vương Thượng Nhân Sự không chỉ khẳng định được uy tín mà còn về năng suất - trong vòng 13 năm, họ đã diễn trước nhà vua tới 187 lần, nhiều hơn tất cả các đoàn kịch khác cộng lại.
Lẽ dĩ nhiên, cuộc sống vẫn rất mệt mỏi với Shakespeare. Dù là đại gia bất động sản ở Stratford, tại Luân Đôn, tài sản của Shakespeare chỉ bị định giá ở mức 5 bảng Anh - rất có thể là mánh khóe trốn thuế. Ông sống tại nhà trọ của gia đình thợ làm tóc Christopher Mountjoy - lúc này gia đình Mountjoy liên tục xảy ra vụ kiện tụng tài chính gay gắt với con rể. Mặt khác, đợt dịch năm 1603- 1604 khiến Shakespeare tranh thủ về dinh thự Stratford để sáng tác. Điều này vô hình trung lại là may mắn, bởi vào tháng 11 năm 1605, phe cực đoan Công giáo giấu 36 thùng thuốc súng dưới tầng hầm của tòa nhà Quốc Hội để tiêu diệt toàn bộ hoàng gia và giới tinh hoa. Dù âm mưu bị ngăn chặn, chính quyền Anh đã đáp trả tàn khốc, cấm người Công giáo hành nghề quan trọng, áp dụng các khoản phạt khổng lồ lẫn giới hạn vị thế xã hội của họ.
Sự sụp đổ của một trật tự Công giáo cũ và sự trỗi dậy của Thanh giáo hẳn đã in sâu vào tư tưởng của Shakespeare để ông viết lên vở kịch Timon xứ Athen và vua Lear. Timon xứ Athen, được dựa trên Cuộc Đời Song Hành của sử gia Plutarch khai thác sự suy đồi đạo đức xã hội và sự tha hóa con người. Vua Lear lại càng đen tối hơn nữa. Lấy huyền thoại vua Leir xứ Briton, vua Lear khai thác về mặt tối trong tính cách con người. Tương tự như Đêm Hè, Shakespeare cũng sử dụng hai câu chuyện có cấu trúc tương đồng trong vua Lear, về việc vua Lear bị các con gái phản bội và Bá tước Gloucester bị đứa con hoang Edmund lừa dối. Các kỹ thuật như thảm họa trên cánh đồng hoang là lời phóng chiếu hoàn hảo đến tâm trí Lear và sự hỗn loạn của một vương quốc mất đi trật tự và cái nhìn. Cái kết của vở kịch - việc Lear đi từ một vị vua đầy quyền năng đến một con vật trần trụi - là một sự đảo ngược của cái kết hạnh phúc sang một kiểu kết thúc nơi tất cả đều chết. Chính điều này đã khiến vua Lear gây sốc rất lớn với những người xem đương thời và được đánh giá rất cao trên phương diện nghệ thuật
Và chắc hẳn, sự chuyển mình từ hài kịch sang bi kịch cũng thể hiện thế giới bi quan hơn của một Shakespeare đã bước đến tuổi 41. Ngôn ngữ và bối cảnh trong kịch của ông trở nên ngột ngạt và đầy ẩn dụ về bệnh tật, sự thối rữa và cái chết. Mùa hè năm 1606, dịch hạch lại bùng phát tại Luân Đôn lần nữa. Điều này vô hình trung tạo điều kiện để Shakespeare viết các đoạn độc thoại nội tâm trong Macbeth và các vở kịch khác.
Macbeth, vở đại bi kịch tiếp theo được Shakespeare viết mang đậm tinh thần bi quan chính trị của Shakespeare. Tận dụng nỗi sợ ma thuật của James Đệ Nhất , Shakespeare vừa đưa ba phù thủy vào kịch để đánh trúng nỗi sợ này, vừa xây dựng nhân vật anh hùng chính trực Banquo - tổ tiên của vua James Đệ Nhất. Kỹ thuật nói nước đôi được sử dụng trong Macbeth ám chỉ lấy các phạm nhân Công giáo trong sự kiện thuốc súng năm 1605, và nhân vật Phu nhân Macbeth đến nay vẫn là một khuôn vàng thước ngọc về phản diện trong lòng người xem. Cuối năm đó, nhờ vào tài năng và sự tinh tế nghệ sĩ, Shakespeare củng cố được vị thế của mình trong triều đình. Đoàn kịch của ông không chỉ được biểu diễn trước nhà vua mà còn trước phái đoàn vua Christian Đệ Tứ của Đan Mạch.
Đến năm 1607, Shakespeare quay trở lại với các bi kịch La Mã, bước đầu là cho hoàn thiện và công diễn vở Anthony và Cleopatra, cũng như bắt đầu viết vở Coriolanus - một vở kịch phê phán dân chúng và phân hóa giai cấp - có lẽ dựa trên các cuộc nổi loạn miền trung của nông dân, chống lại rào lậu đất đai. Ông cũng được tin là đã cùng với George Wilkins viết vở Pericles, Thân vương xứ Tyre. Đối với gia tộc, tháng 6 năm 1607, con gái của Shakespeare là Susanna kết hôn với một bác sĩ danh tiếng tên John Hall. Niềm vui cũng đi kèm nỗi buồn, vào tháng 12 cùng năm, em út của Shakespeare là Edmund qua đời ở tuổi 27. Edmund cũng là một diễn viên, và cái chết trẻ của người em có thể đã góp phần vào tông màu u uất trong các sáng tác sau đấy của anh trai.
Năm 1608, đoàn Vương Thượng Nhân Sự mở một nhà hát trong nhà tên Blackfiars. Khác với Globe quần chúng, nhà hát mới này nhỏ hơn rất nhiều với vé khoảng 6 pence, cực đắt so với lao động đương thời. Việc xây dựng một nhà hát mang tính thượng lưu như vậy hẳn đã khiến Shakespeare phải viết tiếp các vở kịch mang tính chiêm nghiệm và lý tưởng hơn. Dẫu vậy, các bi kịch gia đình vẫn không ngừng đeo bám lấy Shakespeare. Vào tháng 9 năm 1608, bà Mary Shakespeare qua đời tại Stratford. Cái chết của người mẹ hẳn đã ám ảnh Shakespeare trong quá trình sáng tác Corolianus, và từ đấy dẫn đến mâu thuẫn giữa nhân vật cùng tên và người mẹ Volumia trong kịch nghệ.
Trong lúc đó, dịch hạch kéo dài ở Luân Đôn dẫn đến nhiều đoàn kịch phá sản, trừ Vương Thượng Nhân Sự được vua James chu cấp. Khoảng thời gian này, có lẽ chịu ảnh hưởng từ cái chết của mẹ và em trai, Shakespeare về quê Stratford, dành thời gian viết lách lẫn đầu tư bất động sản. Cương vị điền chủ có tiếng hẳn lan tỏa vào trong tâm trí Shakespeare chuyện nghỉ hưu giải nghệ. Dù vậy, ông vẫn viết Cymbeline - một vở kịch Lãng Mạn pha trộn giữa lịch sử cổ đại của Anh, các âm mưu kiểu Ý, cùng yếu tố cổ tích. Mang tính thử nghiệm cao hơn rất nhiều so với các vở kịch khác của Shakespeare, Cymbeline được viết để tận dụng tối đa không gian nhà hát Blackfriars. Điều đặc biệt nhất, đó là thay vì các bi kịch, Shakespeare cho sự tha thứ và hòa giải để giải quyết nút thắt câu chuyện, khiến Cymbeline và Câu Chuyện Mùa Đông dù ít nổi tiếng hơn nhưng đánh dấu giai đoạn chuyển mình cuối cùng của Shakespeare.
Vẫn còn nhiều biến cố xảy đến với Shakespeare. Tháng 5, nhà in Thomas Thorpe cho xuất bản tập "Sonnet của Shakespeare" gồm 154 bài thơ trữ tình. Được đề cập đến như một cú chấn động cả làng văn học Anh Quốc - tập thơ này vốn dĩ không được Shakespeare tự tay biên tập xuất bản, thế nên nhiều người đoán rằng đây là một bản in lậu hoặc rò rỉ. Việc nó mở đầu bằng lời đề tặng Ngài W.H. dẫn đến đây là một trong các bí ẩn thi học lớn nhất, hé lộ cả về tâm tư lẫn xu hướng tính dục của Shakespeare.
Từ năm 1610, Shakespeare dành phần lớn thời gian ở dinh thự New Place tại Stratford thay vì ở lại London sau dịch hạch. Ông tập trung vào việc quản lý đất đai, tham gia các vụ kiện tụng nợ nần và củng cố gia sản. Không còn tham gia diễn xuất thường xuyên, Shakespeare giờ là một cộng tác viên từ xa cho đoàn kịch, gửi bản thảo lên đến Luân Đôn. Các báo cáo về vụ đắm tàu Sea Venture tại Bermuda một năm trước, đi kèm thêm là cảm quan thiên nhiên dẫn đến Shakespeare chuẩn bị cho vở kịch cuối cùng của riêng mình: The Tempest - Giông Tố. Thể loại của nó, sẽ là bi hài kịch - dựa trên thị hiếu của khán giả lẫn đặc thù của Shakespeare. Dù vậy, ông cũng bắt đầu cộng tác với John Fletcher, một nhà biên kịch mới nổi để viết thêm 3 vở kịch nữa. Chúng bao gồm Cardenio - một vở kịch đến nay đã thất lạc dựa trên Don Quixote, Henry Đệ Bát, Two Noble Kinsmen - Hai Đồng Tộc. Vào ngày 1 tháng 11 năm 1611, vở Giông Tố được công diễn tại triều đình nhân ngày lễ Các Thánh. Nhân vật chính của vở kịch, Prospero là một phù thủy dùng quyền năng để điều khiển cả hòn đảo, mang tính bi quan hơn, vẫn được coi là hiện thân của chính Shakespeare. Và có lẽ, việc Shakespeare để Prospero học cách buông bỏ cũng là cách ông để lại lời giã từ đến sân khấu.
Những năm cuối đời và di sản
Từ năm 1612 đến lúc Shakespeare qua đời, Shakespeare gần như đã định cư hẳn tại Stratford. Ông dành thời gian chăm sóc vườn tược, quản lý các khoản đầu tư và tham gia vào đời sống cộng đồng quê nhà. Nhưng định mệnh vẫn chưa buông tha cho ông. Trở lại quê nhà, Shakespeare lại được triệu tập để tham gia vụ kiện liên quan đến quán trọ trước ông từng ở. Tháng 6 năm 1613, con gái của Shakespeare, Susanna bị buộc tội là nhiễm bệnh lậu từ tình nhân và buộc Shakespeare kiện lại kẻ cáo buộc thành công.
Năm 1613, vở kịch Henry Đệ Bát được biểu diễn tại Nhà Hát Globe. Trong buổi diễn, khẩu đại bác đạo cụ đã được bắn đi để tạo hiệu ứng. Không may thay, tia lửa rơi trúng mái tranh nhà hát dẫn đến Nhà hát Globe - biểu tượng gắn liền với cả cuộc đời Shakespeare đã bị thiêu rụi hoàn toàn. Và với Shakespeare, đây hẳn đã là tín hiệu để từ bỏ hẳn việc viết kịch chuyên nghiệp tại Luân Đôn để trở thành điền chủ quê nhà.
Năm 1615, sức khỏe Shakespeare, lúc này đã bước qua tuổi ngũ tuần đã cho thấy dấu hiệu giảm xuống. Đầu năm 1616, con gái thứ Judith của ông cũng vướng vào bê bối với hôn phu của cô là Thomas Quinley. Quinley được cho là đã thông dâm với một phụ nữ tên Margaret Wheeler và để cô này có thai, kết cục là cả Wheeler cùng đứa con của cô về sau đều qua đời khi sinh. Bê bối này dẫn đến Shakespeare phải nhìn lại mà phế quyền thừa kế của ông con rể mà thay vào đó để Judith cùng Susanna giữ quyền thừa kế gia sản Nhà Shakespeare.
Ông thiết lập một hợp đồng thế chấp phức tạp thông qua 3 ủy thác viên, trong đó có chủ quán rượu Mermaid , và tài sản này không được trao lại cho vợ ông, bà Anne. Lý do thực sự của hành động này mãi là một ẩn số, nhưng với việc ông tuyên bố giành cho vợ “chiếc giường thứ hai” và trong bối cảnh vụ bê bối của Judith, việc Shakespeare tập trung toàn lực vào việc bảo vệ tài sản cho các con gái cho thấy ông đang cố gắng giữ cho gia sản không bị phân tán bởi những người chồng không đáng tin cậy. Chiếc giường "tốt nhất" thường dành cho khách hay các cô con gái, trong khi chiếc "tốt thứ hai" chính là giường cưới của hai vợ chồng – một kỷ vật tình cảm giữa hai người.
Theo một ghi chú, vào tháng 4 năm 1616, Shakespeare, Michael Drayton và Ben Jonson đã có cuộc họp mặt vui vẻ lần cuối. Và vào ngày 23 tháng 4 năm 1616, đúng ngày sinh truyền thống của Shakespeare, ông qua đời ở tuổi 52. Ông được chôn cất tại gian ca đoàn của Nhà Thờ Tam Điểm của Stratford vì các cống hiến của Shakespeare đến địa phương. Gia đình của Shakespeare, gồm bà Anne, hai con gái Susanna và Judith được quyền thừa kế tài sản. Susanna Shakespeare chỉ có duy nhất một người con gái, trong khi Judith có đến ba đứa con trai. Đáng tiếc thay, cả ba đứa con trai của bà Judith đều mất sớm, để lại di sản của Shakespeare trong tay gia đình Nhà Hall. Bà Susanna giữ gìn giấy tờ và tài sản của cha rất cẩn thận và qua đời năm 1649. Trên bia mộ của bà có khắc rằng bà là người "thừa hưởng trí tuệ của cha mình". Và đến khi con gái của bà, Elizabeth Hall qua đời vào năm 1670, dòng máu trực hệ của Shakespeare cũng tuyệt diệt, và New Place của Shakespeare cùng các di sản khác của gia tộc đều được bán đi hoặc giao cho họ hàng xa quản lý.
7 năm sau khi William Shakespeare mất, hai người bạn và là đồng nghiệp của ông, John Heminges và Henry Condell, đã thu thập và xuất bản tuyển tập "First Folio" gồm 36 vở kịch. So với tập tác phẩm của Ben Jonson được in rất tinh xảo, First Folio bị đánh giá là có chất lượng trung bình. Nhưng nhờ tuyển tập này, một nửa số tác phẩm của Shakespeare mới được lưu giữ để hậu thế nhìn nhận.
Trong thế kỷ 17 đương thời, Shakespeare được kính trọng thay vì sùng bái. Việc bị chê bởi Ben Jonson là không biết nhiều về tiếng Latin lẫn Hy Lạp, đi kèm với đó là xuất thân bình dân, dẫn đến Shakespeare bị coi là một nghệ sĩ tài năng, thiếu học thức cùng tính kỷ luật so với các tiêu chuẩn cổ điển.
Đến thời kỳ Trung hưng, lý thuyết công lý thi ca cùng ảnh hưởng kịch Pháp dẫn đến các vở kịch của Shakespeare bị cho là quá đen tối, bị sửa đổi để phù hợp với thị hiếu thanh lịch của thời đại. Vua Lear được thay đổi để Cordelia sống sót, Giông Tố được sửa hài nhiều hơn bi, cả Romeo và Juliet đều sống sót. Nhưng vào năm 1769, diễn viên lừng lẫy tên David Garrick đã tổ chức lễ kỷ niệm Shakespeare lần đầu tiên tại Stratford, kéo theo sau đó là một trào lưu nhìn nhận lại về tài năng của Shakespeare. Các học giả bắt đầu biên soạn các văn bản gốc của ông, coi ông là một thiên tài bẩm sinh, người hiểu thấu mọi ngóc ngách của tâm hồn con người mà không cần qua trường lớp hàn lâm.
Shakespeare trở thành biểu tượng quốc gia của nước Anh, và đến thế kỷ 19, ông được đề cập đến như “vị thánh của các anh hùng thi sĩ”. Đến thế kỷ 20, Shakespeare được coi như tiền-thân cho chủ nghĩa hiện đại và tâm lý học, Hamlet là ví dụ để củng cố lý thuyết phức cảm Oedipus, Othello là về sắc tộc, Macbeth là về nữ quyền và Giông Tố về chủ nghĩa thực dân. Đến ngày nay, Shakespeare được coi là ngôn ngữ chung của toàn nhân loại và là biểu tượng cho đỉnh cao của văn học toàn thế giới. Nhiều bộ phim, game, tiểu thuyết hay truyện tranh như Rome (2004), The Lion King (1994), Fire Emblem Three Houses (2019). Discworld và Ran (1989) dựa trên khung mẫu của Shakespeare, đưa cái tên của ông hòa làm một với tinh thần của thế giới phương tây.
Và lúc này, hãy nhìn lại năm 1623, chính Ben Jonson, trong lời tựa First Folio, đã tuyên bố “ông không thuộc về một thời đại, mà là cho mọi thời đại”. Một câu nói từ bốn trăm năm trước, và đến nay trong thời hiện đại, vẫn hết sức chính xác.
Một nhà văn xây dựng di sản dựa trên di sản từ người khác, và đến nay vẫn có rất nhiều người tranh luận rằng từng vở kịch của Shakespeare đã chịu ảnh hưởng từ nhóm trí thức đại học đương thời. Hamlet dựa trên Bác Sĩ Faustus của Christopher Marlowe, Macbeth được đúc từ khuôn bi kịch trong vở Tamburlaine cũng của Marlowe, hay như Giấc Mộng Đêm Hè cũng chịu ảnh hưởng từ Fiar Bacon and Fiar Bungay từ Robert Greene. Xin Tùy Ý Thích mang màu sắc viết văn xuôi lãng mạn trong Rosalynde của Thomas Lodge, hay đến Vua Lear dựa trên vở kịch vô danh. Greene đã gọi Shakespeare là con quạ mới phất, và là một Johnnas factotum - kẻ biết mỗi thứ một ít. Nhưng như đã đề cập đến về Titus Andronicus hay Giấc Mộng Đêm Hè, Shakespeare là kẻ đề ba, nâng tầm văn học Anh lên đến một tầm cao hoàn toàn mới.
Lịch sử bi hài kịch lúc Shakespeare viết đã trải qua 18 thế kỷ, ấy vậy mà xuyên suốt 2 thập kỷ viết kịch, Shakespeare đã để vào đó là tính thuyết phục về mặt hành động hư cấu, cốt truyện phức tạp, cùng sự mơ hồ về đạo đức - nhân trạng. Mà không kể đến bi hài kịch, các thể loại của Shakespeare chạm đến đi từ bi, hài, lãng mạn, lịch sử, sonnet đến nay vẫn được nâng lên nhiều bậc. Shakespeare chuyên viết bi hài kịch, nhưng động đến thể loại kịch này ông vẫn có thể phát triển sâu thêm nhiều hơn nữa, và khó có thể tìm thấy ai để lại nhiều di sản nhất quán và vĩ đại hơn ông.
Ông đã cách mạng hóa được nhân vật - vào tay Shakespeare, ai cũng nhìn nhận được với con mắt đa chiều, tính cách, nhận thức và tam quan riêng của bản thân. Hamlet là sự biến đổi sâu sắc của anh hùng bi kịch, Richard Đệ Tam hay Macbeth là đỉnh cao của thể loại phản diện bi kịch, còn Vua Lear là cả cấu trúc kể chuyện. Bằng cách đảo ngược quy tắc Tam Đồng Quy Chiếu của Aristotle, Shakespeare thay đổi địa điểm, kéo dài thời gian và đan xen nhiều tuyến truyện phụ - điều không tưởng với kịch cổ điển. Hài hước được đưa vào bi kịch, độc thoại và lời bộc bạch với khán giả được tận dụng đến nhuần nhuyễn. Nếu Shakespeare lấy một từ người đi trước, thì ông để lại mười cho thế hệ sau. Cái bóng từ “con quạ mới phất” phủ bóng bầu trời văn học, đến ngày nay, đã có đến hai nghìn từ tiếng Anh được sáng tạo từ ngôn ngữ kịch Shakespeare, thêm vào với đó là hằng hà sa số cụm từ như vanish into thin air - tan biến vào không trung, one fell swoop - sạch sành sanh, hay brave new world - thế giới mới tươi đẹp. Nhưng nổi tiếng hơn tất cả, có lẽ vẫn là the rest is silence trong Hamlet. Và quả thực, tất cả những gì diễn ra sau cái chết với Shakespeare chỉ là sự câm lặng từ cửu tuyền, nhưng với cả dương gian là bản hòa nhạc thịnh soạn mà ông để lại cho nhân thế.
Câu hỏi về quyền tác giả của Shakespeare
Vài lời cuối trong bài viết ngày hôm nay là về vấn đề quyền tác giả của William Shakespeare. Từ đầu thế kỷ 18, nhiều người phỏng đoán rằng danh tính của Shakespeare thực chất là bút danh cho một hay nhiều cá nhân. Những người tin vào giả thuyết này vẫn được gọi là hội phản Stratford, còn những người tin rằng Shakespeare viết kịch Shakespeare được gọi là Hội Stratford.
Lập luận của phe Stratford cho rằng Shakespeare quá giỏi so với nguồn gốc của mình - Làm sao một con người không có hồ sơ học tập tại Oxford hay Cambridge lại có thể am tường luật pháp, y học và các nghi lễ cung đình? Việc chúng ta chỉ có 6 chữ ký nguệch ngoạc của Shakespeare là bằng chứng then chốt của phe phản Stratford, trong đó một người làm kinh doanh như Shakespeare không thể biết nhiều đến thế về văn học, lịch sử, triết học và thần học được, và người viết thực sự các vở kịch của ông là Christopher Marlowe hay Francis Bacon. Trong ba trăm năm theo sau đó, giả thuyết này đã được rất nhiều người nổi tiếng ủng hộ như Charles Chaplin, Mark Twain, Sigmund Freud hay Charles Dicken, thậm chí còn được làm phim. Dưới thời Mark Rylance, nhà hát Globe cũng ủng hộ quan điểm này.
Nhìn vào bằng chứng lịch sử, thì ta có thể thấy lập luận này không hẳn là có cơ sở. Vào thời đại Elizabeth, các trường tiểu học ở Stratford cung cấp một nền tảng giáo dục cực kỳ khắc nghiệt về tiếng Latin, Logic và Văn học cổ điển. Hồ sơ học sinh thời đó không còn lưu giữ được, nhưng với tư cách là con trai của một ủy viên hội đồng thành phố, Shakespeare đương nhiên được học miễn phí tại đây, cộng thêm với đó là việc hay đi tiếp xúc tại quán Mermaid giúp Shakespeare biết rất nhiều về thế giới xung quanh. Hơn nữa, việc không còn bản thảo gốc của các vở kịch là điều bình thường ở thế kỷ 17, vì sau khi in xong, các bản chép tay thường bị vứt bỏ như rác vụn tại nhà in.
Hiện tại, việc phản bác quyền tác giả Shakespeare mang tính ngụy biện ấm trà hơn là một dạng tranh luận thực sự. Những nhà văn có tiếng tăm như Alan Moore, James Joyce và Jorge Borges đều thể hiện rõ quan điểm ủng hộ quyền tác giả Shakespeare. Khi chúng ta nhìn vào về lập luận kịch Shakespeare đều cần sự am hiểu sâu rộng thực tế mà nói, các vở kịch của Shakespeare không hẳn chính xác, các sai lầm cơ bản rất phổ biến, như Rome có đồng hồ hay Bohemia có bờ biển. Như bao nhà biên kịch cùng thời, cốt truyện từ Shakespeare dựa trên sử ký hay các vở kịch đã có từ trước. Và lời phê phán Shakespeare biết rất ít tiếng Latin và Hy Lạp từ Ben Jonson, ta có thể thấy rõ giả thuyết này không có tính chân thực.
Kết thúc
Và vừa rồi là toàn bộ nội dung của bài viết. Cảm ơn các bạn đã đọc đến dòng này.

Sách
/sach
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất








