Một lịch sử về cuộc chiến La Mã - Carthage: Cuộc chiến giữa hai siêu cường cổ đại
Một lịch sử rút gọn về chiến tranh La Mã - Carthage
Viết bài: Trần Phan
Hiệu đính: Hải Stark
Trong lịch sử La Mã, một trong những sự kiện nổi tiếng và quan trọng nhất chính là Chiến tranh Punic. Đây là một loạt các cuộc chiến xảy ra trong hơn 100 năm giữa La Mã và thế lực hùng mạnh bậc nhất thời ấy trong khu vực là Carthage. Và đây cũng có thể coi là cuộc chiến có ảnh hưởng bậc nhất đến văn minh phương tây. Và sau ghi chú đầu về La Mã, đây lại là một phần mở rộng khác của mình. Mời mọi người đón đọc.

Cuộc chiến Punic lần thứ nhất
Chiến tranh Punic diễn ra vào thời kỳ cộng hòa La Mã. Mặc dù trên danh nghĩa là cộng hòa và theo thể chế dân chủ, nhưng thực tế thì Rome vẫn có một chính quyền do Viện Nguyên lão cai trị và thường thì chỉ người giàu hoặc có uy quyền mới có thể được bầu làm Nguyên lão. Tư tưởng của người La Mã coi vinh quang quân sự là điều cao quý nhất, vì vậy muốn thành công trong chính trị ở La Mã thì không thể thiếu được thành tựu trong quân sự.
Còn về phía Carthage, thì thể chế của họ cũng tương tự như La Mã. Nhưng khác biệt của Carthage ở chỗ họ tập trung nhiều hơn vào thương mại. Carthage không có một đội quân thường trực lớn như La Mã, mà họ dựa vào các đội quân lính đánh thuê. Carthage thời ấy là một thế lực hùng mạnh trong khu vực - họ kiểm soát hàng loạt các hòn đảo ở Địa Trung Hải, Bắc Phi cùng một phần bán đảo Iberia.

Chiến tranh Punic lần thứ nhất nổ ra năm 264 TCN, lý do sâu xa chính là vì La Mã không muốn Carthage mở rộng tầm ảnh hưởng của mình ở Sicily thêm nữa. Carthage vốn đã kiểm soát được phần lớn Sicily, và chỉ còn lại khu vực của người Syracuse chưa bị kiểm soát. Nếu khuất phục được nốt người Syracuse thì Carthage sẽ kiểm soát được toàn bộ Sicily - và đó là điều La Mã không muốn thấy. Vì vậy, chiến tranh đã nổ ra giữa hai gã khổng lồ trong khu vực.
Trước mắt thì cả Rome và Carthage đều chưa thể trực tiếp tấn công vào lãnh thổ của đối phương, nên chiến tranh mở màn tại các khu vực nằm dưới tầm ảnh hưởng của họ. Carthage tấn công trước bằng cách cho quân tiến đánh Messana. Rome dễ dàng phản công, rồi đến năm 263 TCN họ đã đổ thêm quân vào khu vực, thiết lập liên minh với vua Hieron II của người Syracuse và vây hãm Agrigentum của Carthage.

Syracuse ngày nay
Bị vây chặt trong nhiều tháng liên tục, quân Carthage buộc phải gửi lời cầu cứu. Để giải vây cho Agrigentum, Carthage huy động một lượng lớn binh lính và sử dụng đến cả voi chiến. Trong khi đó, quân La Mã chủ yếu chỉ có bộ binh, mà số lượng lại ít hơn đối phương. Bước đầu, Carthage chiếm được lợi thế nhờ chiếm được kho tiếp tế của quân La Mã, khiến lực lượng vây Agrigentum bị thiếu lương, lại cộng thêm bị bệnh dịch hoành hành. Carthage dự định kéo dài tình trạng này để ép La Mã phải rút quân, nhưng lực lượng bên trong Agrigentum đã không thể cầm cự được nữa. Vì vậy Carthage buộc phải chủ động tấn công nhằm giải vây. Vậy là trận Agrigentum đã diễn ra, và tuy không có nhiều ghi chép còn lại về trận đánh, nhưng kết quả là quân La Mã đã chiến thắng và đẩy lui được quân Carthage dù phải chịu thiệt hại khá nặng. La Mã sau đó đã bắt đầu việc giải vây cho những đồng minh và chư hầu mới của mình ở Sicily đang bị Carthage tấn công.
Đến lúc này, La Mã cũng đã nhận ra một điểm yếu của mình so với đối phương - họ thua kém hoàn toàn về hải quân. Để giải quyết vấn đề cốt lõi, người La Mã đã tìm cách sao chép lại thiết kế các con tàu của người Carthage mà họ đoạt được, cộng với cả sự giúp đỡ từ đồng minh Syracuse. La Mã nhanh chóng gây dựng được một hạm đội lớn chỉ trong vài tháng. Nhưng thua kém về khả năng hải chiến không thể bù đắp ngay được, và họ thất bại thảm hại khi đối đầu trực diện với hạm đội của Carthage.
Không bỏ cuộc, La Mã tiếp tục tìm cách cải thiện yếu điểm của mình. Biết rằng lợi thế của quân La Mã so với quân Carthage là khả năng cận chiến ưu việt; nên họ đã cải tiến các tàu chiến của mình bằng cách lắp thêm một cây cầu đổ bộ lớn ở mũi - gọi là corvus. Mục đích là khi áp sát thuyền địch, họ sẽ hạ corvus xuống và tạo điều kiện cho binh lính ùa sang. Làm như vậy thì ưu thế về khả năng cận chiến sẽ có thể được tận dụng. Ngoài ra để tránh bị tàu địch vòng ra phía sau, corvus cũng có thể xoay được nhờ cần trục. Nhờ phát minh này mà La Mã đã giành được chiến thắng quan trọng ở trận hải chiến Mylae ở vùng biển phía bắc Sicily. Họ đã đoạt được hơn 30 tàu Carthage, buộc chỉ huy quân địch phải rút lui.
Sau đó, La Mã tiếp tục chiến dịch tranh đoạt Sicily của mình. Nhưng Carthage cũng không chịu ngồi yên, và họ nhanh chóng mở chiến dịch phản công trong năm 260 TCN. Hai năm tiếp theo, La Mã và Carthage giao tranh liên tục ở Sicily để giành giật từng khu vực một. Đến năm 258 TCN, La Mã phần nào đã giành lại được thế chủ động. Và với hy vọng có thể nhanh chóng hạ gục Carthage thay vì để chiến tranh kéo dài, La Mã quyết định mở chiến dịch tấn công thẳng vào Bắc Phi - lãnh địa do Carthage trực tiếp kiểm soát. Để làm được điều này, La Mã gây dựng một hạm đội khổng lồ lên tới 330 tàu. Đối đầu với họ cũng là một hạm đội khổng lồ gồm 350 tàu chiến của Carthage. Và hai hạm đội khổng lồ đã giao tranh trong trận hải chiến lớn bậc nhất thời cổ đại - Trận Mũi Ecnomus.

Đến thời điểm này, chiến thuật hải quân La Mã đã được cải tiến rất nhiều. Hạm đội tiến dọc theo bờ biển Sicily, và các tàu chiến được chia thành ba đội. Đích thân hai Quan chấp chính của La Mã chỉ huy hai đội, dàn các tàu thành hình cái nêm. Phần lớn các tàu vận tải đều di chuyển phía sau họ và được đội tàu thứ ba đi sau bọc lưng. Hạm đội Carthage thì được bố trí theo đội hình trường tuyến truyền thống, hầu hết các tàu đều xếp dàn thành hàng ngang để đón địch.
Khi trận đánh bắt đầu, hai đội tàu hàng đầu của La Mã tiến thẳng vào trung tâm của hạm đội Carthage. Chỉ huy quân Carthage giả vờ rút lui nhằm nhử cho tiền đội La Mã đuổi theo, nhờ đó có thể cô lập được hai đội tàu đi đầu của La Mã với các tàu vận tải. Sau khi nhử được hai đội tàu La Mã, hai bên sườn Carthage sẽ đánh vào các tàu bị bỏ lại phía sau. Họ tấn công từ bên eo để hạn chế việc quân La Mã sử dụng corvus. Các tàu vận tải đã phải rút vào bờ biển và đội tàu tiếp viện buộc phải nhập cuộc để đối mặt với cuộc tấn công từ Hanno.
Tuy nhiên, trung quân Carthage lại không thể cầm cự được sau một cuộc giao tranh dài và buộc phải rút lui - lần này là rút thật. Nhờ vậy, hai đội tàu đi đầu của La Mã đã có thể quay lại giải quyết tình hình ở hậu quân. Thiếu đi sự hỗ trợ của trung quân, hạm đội còn lại của Carthage nhận thất bại nặng nề. Trận hải chiến kết thúc với thắng lợi hoàn toàn của La Mã khi họ chỉ mất 24 tàu; trong khi đó Carthage bị đánh chìm mất 30 tàu và 64 chiếc khác bị La Mã đoạt được.
Sau chiến thắng, hạm đội La Mã xây dựng căn cứ tại Clypea và bắt đầu chuẩn bị tiến công. Họ tàn phá các vùng đồng bằng lân cận, chiếm lấy vùng Aspis và bắt đầu bao vây thành phố quan trọng của Carthage là Adys. Quân La Mã sau đó tiếp tục đánh thắng quân Carthage một trận lớn và chiếm được Tunis, chỉ cách thành Carthage hơn 10 dặm. Người Carthage bắt đầu đề xuất giảng hòa và kết thúc chiến tranh, nhưng vì các điều kiện La Mã đưa ra quá ngặt nghèo, nên Carthage quyết định đánh tiếp bằng cách thuê một đội quân đến từ Sparta do Xanthippus chỉ huy.
Trận đánh giữa quân viễn chinh La Mã và quân đánh thuê Sparta diễn ra vào đầu năm 255 TCN tại sông Bagradas gần thành Tunis. Với sự hỗ trợ đến từ kỵ binh và voi chiến, Xanthippus đã đập tan hoàn toàn đạo quân viễn chinh La Mã, bắt sống được cả chỉ huy của họ là Marcus Atillius Regulus. La Mã sau đó đã cử một hạm đội đến giải cứu khoảng 2000 tàn quân viễn chinh. Hạm đội La Mã tiếp tục đánh bại hải quân Carthage và đón được tàn quân, nhưng trên đường về lại dính bão. Gần như toàn bộ hạm đội bị đánh chìm và hơn 90,000 người bỏ mạng. Lợi dụng điều này, Carthage đã tấn công và chiếm lại Agrigentum, nhưng vì cho rằng không thể phòng thủ được, họ đã đốt và phá hủy thành phố.

Dù đã thiệt hại nặng nề vì cơn bão, nhưng với nguồn lực khổng lồ, La Mã vẫn nhanh chóng gây dựng được một hạm đội lớn nữa gồm 140 tàu và tiếp tục chiến dịch Sicily. Họ chiếm được nhiều vùng, buộc lực lượng Carthage ở đây phải chuyển sang chiến thuật đánh du kích và quấy phá. Sau đó, La Mã tiếp tục mở các chiến dịch khác đánh vào Lilybaeum - trung tâm quyền lực của Carthage ở Sicily, đồng thời mở một cuộc đột kích vào châu Phi. Tuy vậy, cả hai nỗ lực nói trên đều thất bại, và hạm đội La Mã tiếp tục bị hủy diệt gần như hoàn toàn trong một trận bão năm 253 TCN.
Tuy vậy ở phía bắc, La Mã đạt được những bước tiến lớn. Họ chiếm được thành phố Thermae năm 252 TCN, nhờ vậy mà có được bước đà để đem quân tấn công cảng Panormus. Người La Mã tấn công thành phố này sau khi chiếm Kephalodon trong năm 251 TCN. Sau một cuộc giao tranh ác liệt, người Carthage đã bị đánh bại và thành phố thất thủ. Với việc Panormus bị chiếm, phần lớn phía tây Sicily đã bị La Mã chiếm lấy.

Bản đồ Lilybaeum
Đến năm sau, La Mã chuyển sự chú ý về phía tây nam. Họ đã phái một hạm đội viễn chinh để tiếp tục tấn công Lilybaeum. Trên đường, quân La Mã cũng chiếm và thiêu cháy những thành phố không chịu đầu hàng. Cuộc viễn chinh tới Lilybaeum đã không thành công, nhưng việc này cũng cho thấy quyết tâm chiếm bằng được toàn bộ Sicily của La Mã. Thế nhưng trong trận hải chiến Drepana năm 249 TCN, La Mã lại hứng chịu thất bại nặng nề trước Carthage và hạm đội của họ bị hủy diệt phần lớn. Nhờ vậy mà sau đó, Carthage đã tái lập vị thế thống trị trên biển, vì La Mã tạm thời không còn đủ nguồn lực để gây dựng thêm một hạm đội quy mô lớn nữa. Thế nhưng nội bộ Carthage lúc này lại xảy ra chia rẽ vì ngày càng nhiều người muốn nhanh chóng chấm dứt cuộc chiến. Cuối cùng vào năm 244 TCN, phe phản đối tiếp tục chiến tranh thắng thế, và vì tin rằng cuộc chiến đã đến hồi kết, nên ra lệnh giải tán hạm đội.
Trong khi đó thì ở Sicily, cuộc chiến tranh du kích của Carthage do tướng Hamilcar Barca vẫn là rắc rối thường trực với La Mã. Nhờ vậy mà phần nào Carthage vẫn giữ được chỗ đứng ở Sicily chứ chưa bị đánh bật hoàn toàn. Nhưng rồi với việc Carthage giải tán hạm đội, La Mã cuối cùng đã quyết tâm gây dựng lại thêm một hạm đội lớn nữa và tấn công đối phương. Kết quả là trong trận đánh tại quần đảo Aegates năm 241 TCN, hạm đội La Mã đã giành được thắng lợi lớn, nghiền nát một hạm đội Carthage chỉ được gây dựng vội vàng. Carthage thiệt hại nặng và không còn nguồn lực để gây dựng thêm một hạm đội khác nữa. Không còn hải quân hỗ trợ và bị chia cắt khỏi Carthage, Hamilcar Barca buộc phải cho người đàm phán hòa bình và rút khỏi Sicily. Ngoài ra, La Mã cũng buộc Carthage phải đồng ý với những điều kiện khắc nghiệt và phải trả một lượng tiền lớn trong vòng 10 năm liên tục.

Hamilcar Barca
Cuộc chiến Punic lần thứ nhất đã kết thúc sau 23 năm dài, và để lại hậu quả nặng nề cho cả hai bên. Tuy vậy, La Mã vẫn đã giành được nhiều lợi ích như quyền kiểm soát hoàn toàn ở Sicily và vị thế thống trị bắt đầu được xác lập trên biển. Carthage thiệt hại nặng nề, nhưng mối thù với La Mã cũng được tích tụ, để rồi 23 năm sau, chiến tranh giữa hai cường quốc Địa Trung Hải sẽ lại nổ ra.
Gia tộc Barca
Trước khi đi vào các diễn biến của Cuộc chiến Punic lần thứ hai, chúng ta cần phải dành ra một chút thời gian để nói về người có vai trò như một dấu gạch nối giữa hai cuộc chiến. Đó chính là Hamilcar Barca, người đã gây cho La Mã bao nhiêu cơn đau đầu tại Sicily, và chưa từng thực sự bị đánh bại.

Sau khi bị buộc phải chấp nhận thất bại trước La Mã, Carthage rơi vào khủng hoảng. Họ căn bản không còn tiền để trả cho lính đánh thuê nữa, vì thế nên những đội quân lính đánh thuê này đã nổi loạn và bao vây thành phố Carthage. Phải mất đến 4 năm, hỗn loạn mới chấm dứt, và Hamilcar Barca là người có công lớn nhất trong việc dẹp tan được mối nguy hiểm này. Tất cả những sự kiện xảy ra trong những năm vừa rồi đã khiến Hamilcar đem lòng căm ghét cả La Mã và những kẻ cầm quyền ở Carthage. Tuy vậy, khi được hỏi ý kiến về việc làm sao có thể đưa ra đủ tiền để trả cho Rome, Hamilcar vẫn hiến kế, vì ông chỉ căm ghét những kẻ cầm quyền chứ không hề căm ghét Carthage.
Hamilcar đã đề xuất kế hoạch về việc gây dựng một đội quân mới ở bán đảo Iberia. Ở đó, ông có thể chiếm được các mỏ vàng bạc để kiếm ra đủ tiền trả cho Rome. Trước khi rời Carthage, Hamilcar đã vào điện thờ thần Ba’al cầu nguyện, xin được phù hộ và dắt theo cả đứa con trai mới 10 tuổi là Hannibal. Tại đó, ông yêu cầu con trai mình phải thề rằng sẽ không bao giờ quên đi mối thù với Rome, và không bao giờ trở thành bạn bè với người La Mã. Chính ảnh hưởng từ người cha và việc tận mắt chứng kiện sự suy yếu của Carthage đã khắc sâu mối thù với Rome vào linh hồn Hannibal. Đây chính là tiền đề biến Hannibal về sau sẽ là người gieo rắc những cơn ác mộng với Rome, và được mệnh danh là “Kẻ thù số một của La Mã”.

Hamilcar và con trai, Hannibal Barca thề trước thần Ba'al
Về phần Hamilcar, thì sau khi chuẩn bị xong xuôi, ông đến khu vực miền nam bán đảo Iberia. Với năng lực quân sự xuất chúng của mình, Hamilcar nhanh chóng chiếm được nhiều vùng đất ở nơi này. Vàng bạc bắt đầu chảy về Carthage, giúp họ trả được khoản tiền khổng lồ mà Rome đòi hỏi. Hamilcar cũng dành phần lớn thời gian để chinh phục những bộ lạc tại nơi này, và qua từng năm, đội quân của ông đi từ một đội quân nghèo nàn, không có kinh nghiệm trở thành một trong những lực lượng thiện chiến bậc nhất trên thế giới. Với xuất phát điểm chỉ là lính đánh thuê, nhưng dần dần họ trở nên trung thành với Hamilcar và gia tộc Barca. Sự lớn mạnh của Hamilcar ở bán đảo Iberia cũng khiến Rome lo ngại, nhưng họ không có một cái cớ nào đủ mạnh để yêu cầu ông rời đi.

Bán đảo Iberia
Tuy nhiên đến năm 228 TCN, tình hình thay đổi khi Hamilcar qua đời và người con rể là Hasdrubal lên nắm quyền chỉ huy quân đội thay. Tuy không có năng lực cầm quân xuất chúng, nhưng Hasdrubal lại có năng khiếu ngoại giao. Vì thế, ông tập trung mở rộng lãnh thổ và tầm ảnh hưởng của Carthage ở bán đảo Iberia bằng con đường này. Nhưng sau khi Hasdrubal bị ám sát năm 221 TCN, tình hình tiếp tục biến động, và một cuộc chiến nữa giữa Carthage và La Mã bắt đầu nhen nhóm.
Cuộc chiến Punic lần thứ hai
Cuộc chiến Punic lần thứ hai khởi nguồn từ thành phố Saguntum tại bán đảo Iberia. Đây là một thành phố giàu có nằm dưới tầm ảnh hưởng của Carthage, nhưng đồng thời họ cũng có liên minh với Rome. Chính điều này đã khiến tình hình bên trong thành phố căng thẳng. Nhưng trước đó, La Mã và Hasdrubal đã ký kết một hiệp ước về ranh giới giữa hai bên và đảm bảo quyền độc lập của Saguntum. Tuy vậy, sau khi Hasdrubal bị ám sát, người nắm quân đội thay ông là Hannibal Barca - con trai của tướng Hamilcar; và Hannibal có thái độ quyết liệt với La Mã hơn rất nhiều.
Năm 219 TCN, sau khi xảy ra vụ ám sát những người có khuynh hướng thân Carthage trong thành phố, Hannibal bèn đem quân bao vây thành Saguntum. Thành phố đã cầu cứu người La Mã giúp đỡ, nhưng Rome chưa thể đáp lời lại ngay được vì còn vướng mắc việc chiến sự ở vùng Ilyria phía bắc Hy Lạp. Sau một cuộc vây hãm kéo dài nhiều tháng trời khốc liệt và đẫm máu khiến bản thân Hannibal cũng bị thương, Saguntum thất thủ và bị Carthage chiếm lấy. Nhiều người Saguntum đã chọn tự sát thay vì để bản thân bị người Carthage nô dịch. Và thế là cuộc chiến lần thứ hai giữa Rome và Carthage đã mở màn. Và với tư duy vô cùng táo bạo, Hannibal quyết định chủ động tấn công La Mã ngay tại lãnh địa của họ. Cuộc hành quân huyền thoại của vị tướng Carthage bắt đầu.
Cuộc hành quân của Hannibal
Chỉ tính riêng lực lượng Carthage ở bán đảo Iberia thì Hannibal đã có trong tay hơn 10 vạn quân và 37 con voi chiến. Đó thực sự là một trong những đội quân lớn nhất thời đó và đủ sức sánh ngang với các đội quân La Mã đông đảo. Hannibal khởi hành cùng đội quân này từ Tân Carthage về phía bắc dọc theo bờ biển vào cuối mùa xuân năm 218 TCN. Tại Ebro, ông chia đội quân của mình thành ba đạo và tiến hành chinh phục các bộ lạc từ nơi đó đến dãy núi Pyrenee trong vòng vài tuần, nhưng cũng chịu thiệt hại khá nặng. Bên cạnh đó, Hannibal còn cắt lại nhiều lực lượng khác ở dãy Pyrenee và bán đảo Iberia.

Hannibal vượt sông Rhone
Khi bắt đầu tiến vào lãnh thổ của La Mã, Hannibal đã khôn ngoan tìm cách tránh các đồng minh của Rome ở ven biển. Song song với đó, ông cũng đàm phán với các bộ tộc ở Gaul, nên đội quân của Hannibal hầu như có thể vượt qua vùng này an toàn. Nhưng khi tìm cách vượt sông Rhone, Hannibal lại bị chặn đường bởi lực lượng của bộ tộc người Volce thân La Mã. Dù vậy họ không thể ngăn chặn được đội quân lớn hơn rất nhiều của Carthage - lúc này gồm có 38,000 bộ binh, 8000 kỵ binh và 37 voi chiến. Mùa thu năm 218 TCN, Hannibal bắt đầu dẫn quân vượt dãy Alps - một trong những cuộc hành quân khốc liệt nhất thời ấy. Hannibal muốn nhanh chóng vượt qua dãy Alps trước khi mùa đông kéo tới và để tránh việc chậm trể có thể khiến lợi thế bất ngờ biến mất. Cuộc hành quân của Hannibal kéo dài trong mấy tháng trời dưới thời tiết và địa hình khắc nghiệt; và Hannibal chỉ vừa khéo vào được đất Ý ngay trước khi mùa đông thực sự kéo đến. Tuy vậy, đội quân của ông cũng thiệt hại phải đến hơn 1/3, và có lẽ hơn 20 con voi chiến đã bỏ mạng dọc đường. Khi vào được đất Ý, đội quân của Hannibal chỉ còn trên dưới 30,000 người cùng khoảng một tá voi chiến.

Trong khi Hannibal đưa quân vượt dãy Alps, thì La Mã cũng bắt đầu kế hoạch viễn chinh vào bán đảo Iberia. Các chỉ huy của La Mã là hai anh em Gnaeus Cornelius Scipio Calvus và Publius Cornelius Scipio ban đầu rất ngạc nhiên khi biết tin Hannibal đã đem quân đến thượng nguồn sông Rhone. Sau khi tiến quân đến thành phố đồng minh Massalia, họ liền phái đi một đội quân do thám gồm 300 kỵ binh nhằm thăm dò nơi đóng quân của đối phương. Đội do thám này đã chạm trán 500 kỵ binh người Numidia với mục đích tương tự do Hannibal phái đi. Quân La Mã đã chiến thắng và truy đuổi tàn quân đối phương đến tận gần nơi đóng quân của Hannibal. Nhờ vậy mà các chỉ huy La Mã đã nhận ra kế hoạch thực sự của Hannibal và lập tức tìm cách hành quân quay ngược trở lại. Nhưng đây là thời điểm Hannibal đã khôn khéo tìm cách tránh đi và đàm phán với các bộ tộc ở Gaul để an toàn tới được dãy Alps.
Quân La Mã tiến vào Iberia
Vì không chạm trán được đội quân chủ lực của Hannibal ở nội địa Massalia, nên đạo quân do Calvus chỉ huy tiếp tục tiến vào Iberia. Đạo quân còn lại do Scipio chỉ huy vừa mới tới không lâu đã phải vội vã quay trở lại đất Ý. Đạo quân này chạm trán với quân Carthage của Hannibal tại vị trí gần sông Ticinius. Với số lượng kỵ binh áp đảo và cách vận dụng chiến thuật khéo léo, Hannibal đã đánh bại đối phương. Quân La Mã tan vỡ, Scipio bị thương và suýt chết nếu không được con trai giải cứu khỏi vòng vây.
Ở Iberia lúc này, thì mặc dù sự cai trị của người Carthage khiến cho cư dân ở đây bất mãn, nhưng việc người La Mã không có động thái gì trong cuộc bao vây thành Saguntum đã khiến họ trở nên thận trọng và cảnh giác hơn. Sau khi dẫn quân tiến vào bán đảo, Calvus đã thiết lập đại bản doanh tại Cissa, thuộc vùng đất mới bị Hannibal chinh phục không lâu trước đó, giữa Ebro và dãy Pyrenee. Dù gặp một vài trở ngại ban đầu, nhưng ông nhanh chóng giành được sự ủng hộ ngày càng cao giữa những người bản địa. Điều này khiến cho viên tướng người Carthage là Hanno quyết định giao chiến với quân La Mã; trước khi quân của ông ta hợp nhất với quân của em trai Hannibal là Hasdrubal. Nhưng việc khinh suất tấn công dù có lực lượng yếu hơn đã khiến Hanno phải hứng chịu một thất bại nặng nề. Và khi quân của Hasdrubal đến nơi thì đã quá muộn và không thể xoay chuyển tình thế. Vì vậy, Hasdrubal đã chuyển sang tấn công các binh lính La Mã đang bảo vệ hạm đội, phá hủy gần một nửa số tàu chiến. Tuy vậy, thất bại trong trận Cissa cũng ảnh hưởng phần nào tới kế hoạch của Hannibal, khi các lực lượng ở Iberia đã không thể lập tức tiếp viện cho ông tại đất Ý.

Bản đồ chung cho chiến dịch của Hannibal
Dù bị mất nhiều tàu chiến trong trận Cissa, nhưng hạm đội La Mã ngay lập tức được bổ sung nhờ đồng minh ở Massalia. Hạm đội 40 tàu chiến của người Carthage và người Iberia sau đó đã bị đánh bại bởi hạm đội gồm 55 tàu của người La Mã và Massalia trong trận hải chiến thứ hai. Hasdrubal mất 3/4 số tàu chiến và buộc phải rút lui, nhưng quân La Mã không tổ chức truy kích hay mở rộng phạm vi chiến dịch, mà vẫn giữ vững vị trí tại khu vực giữa Ebro và dãy Pyrenee. Nhưng như vậy cũng là đủ để ngăn Carthage đem quân tiếp viện cho Hannibal.
Ở trên biển, thì ngay sau khi cuộc chiến bắt đầu, hải quân Carthage đã bận rộn với việc thám thính vùng biển Sicily và chuẩn bị cho một cuộc tấn công bất ngờ vào thành trì then chốt của họ trước đây là Lilybaeum. Có 20 tàu chở theo khoảng 1000 lính đã đột kích vào quần đảo Aegadian ở phía tây Sicily và 8 con tàu khác cũng dự định tấn công quần đảo Vulcan; nhưng cuộc đột kích không thành khi tàu chiến của Carthage gặp bão. Sau đó, hải quân Syracuse tại Messina đã chiếm được 3 tàu Carthage. Từ lời khai của đám thủy thủ đoàn rằng một hạm đội Carthage đang chuẩn bị tấn công Lilybaeum, vua Hieron II đã cảnh báo cho viên pháp quan La Mã, Marcus Amellius. Biết được tin báo, người La Mã nhanh chóng cử hạm đội đến Lilybaeum. Trong trận hải chiến tại đây, một lần nữa họ đánh bại được hạm đội của Carthage.
Tuy hải quân của Carthage đã bị La Mã đánh bại vài lần, nhưng cả hai bên đều có ý tránh đụng độ quy mô lớn. Hình thức chiến tranh trên biển chuyển sang dạng các cuộc đột kích quy mô nhỏ - trừ một lần hai hạm đội khổng lồ của hai bên chạm mặt nhau năm 217 TCN ngoài khơi bờ biển Etruria, nhưng rồi đã không có trận đánh nào xảy ra.

Người Gaul nổi dậy và chiến lược của La Mã
Quay lại tình hình trên bộ, thì sau khi Hannibal vượt Ebro, hai bộ tộc ở Gaul đã nổi dậy chống lại Rome. Hai bộ tộc này sau đó đã thiết lập liên minh với Carthage và tấn công các thuộc địa của La Mã ở Placentia và Cremona. Để đối phó với cuộc nổi loạn này, pháp quan La Mã là Gnaeus Manlius Vulso đã lập tức dẫn quân tới Gaul. Họ bị phục kích hai lần trên đường hành quân và thiệt hại hơn 1000 người. Tuy giải vây được cho các thuộc địa, nhưng chính lực lượng này lại rơi vào tình thế bị giam lỏng giữa các lực lượng quân nổi loạn và Carthage. Vì vậy, Viện Nguyên lão đã phải cử một trong số những quân đoàn của Scipio và thêm 5000 quân đồng minh đi trợ giúp. Chính đây là lý do khiến Scipio bị chậm chân do phải tuyển mộ thêm quân, không thể lập tức đến Iberia, giúp Hannibal có thời gian đi từ Ebro đến sông Rhone. Và sau cuộc hành quân của Hannibal vào đất Ý qua dãy Alps, Scipio vừa chân ướt chân ráo đến Iberia đã vội vã đem quân quay về, và bị đánh bại trong trận Ticinius. Kế hoạch tấn công thẳng vào Bắc Phi của quân La Mã buộc phải hủy bỏ để quay sang đối phó với mối nguy hiểm đến từ đội quân của Hannibal.
Trận thua của La Mã tại Ticinius còn kéo theo một việc tai hại nữa là khiến cho hầu hết các bộ tộc Gaul đều thành lập liên minh với Hannibal. Lực lượng của ông được tăng lên đến gần 40,000 người. Ngay cả trước khi tin tức về thất bại tại sông Ticinus truyền tới Rome, Viện Nguyên lão đã ra lệnh cho quan chấp chính Sempronius Longus đem quân từ Sicily quay về, hủy bỏ kế hoạch tấn công Bắc Phi để hội quân với Scipio nhằm toàn lực đối phó với Hannibal.

Hannibal đã tìm cách ngăn không cho quân của Sempronius đến chỗ Scipio, nhưng tình hình thay đổi khi viên chỉ huy của La Mã ở kho lương tại Clastidum phản bội. Hannibal quyết định chiếm lấy nơi này trước, vô hình trung tạo điều kiện cho hai đạo quân La Mã hợp lại với nhau. Tuy vậy, Sempronius gần như nắm toàn quyền chỉ huy, do Scipio vẫn chưa bình phục từ các vết thương phải nhận trong trận Ticinius. Hai bên tiến tới giao chiến gần sông Trebia. Quân La Mã tham chiến trong tình trạng vội vàng, thậm chí binh lính còn chưa kịp ăn sáng và còn phải vượt qua con sông giá lạnh - vậy là sức chiến đấu của họ sụt giảm nghiêm trọng. Họ đã rơi vào cái bẫy của Hannibal mà không hề hay biết, vì ông đã bố trí một đạo quân mai phục ở hậu quân của người La Mã. Trận chiến kết thúc chóng vánh với thất bại nặng nề của La Mã - 20,000 người chết và rất nhiều người bị bắt, trong khi Hannibal thiệt hại vài ngàn người. Sau khi củng cố được vị trí của mình ở phía bắc Italy nhờ chiến thắng này, Hannibal cho quân đội của mình trú đông ở vùng Gaul. Lực lượng của họ giúp quân số của Hannibal nhanh chóng được tăng cường lên đến gần 60,000 quân. Nhưng sĩ khí và nhiệt tình của người Gaul cũng nhanh chóng suy giảm bớt đi, chính vì không thích việc người Carthage sống trên đất đai của họ.
Dù vậy, với Viện Nguyên lão La Mã thì tình thế thật là nguy ngập. Nhưng không còn cách nào khác, họ tiếp tục gây dựng thêm một đội quân nữa để đối phó với Hannibal, dưới quyền hai chấp chính mới được bầu năm 217 TCN là Gnaeus Servilius Geminus và Gaius Flaminius. Bản thân Flaminius tỏ ra không tin tưởng lắm các Nguyên lão và cho rằng họ sẽ cố gắng can thiệp vào việc chỉ huy và trì hoãn kế hoạch lên đường ra trận của mình. Vì vậy, ông lặng lẽ rời khỏi Rome để đến Ariminum tiếp nhận quyền chỉ huy quân đội mà bỏ qua mọi nghi lễ cần được cử hành với các quan chấp chính mới được bầu. Sau đó, ông bỏ qua nốt lệnh triệu hồi quay trở lại Rome mà Viện Nguyên lão đưa ra. Điều này có phần ảnh hưởng đến tinh thần của người La Mã, vì nhiều người cho rằng việc Flaminius bất kính với thần linh có thể khiến họ thất bại. Nhưng với Flaminius, việc cấp bách là tìm cách ngăn chặn Hannibal tiến sâu hơn vào đất Ý.
Theo dự đoán của Flaminius thì Hannibal sẽ tìm cách tiến vào miền trung Ý, nên ông dẫn quân từ Ariminum đến Arretium nhằm khống chế những con đường đèo của dãy núi Apennine đổ vào vùng Etruria. Người đồng cấp của ông là Servilius sau đó cũng đã đến Ariminum gây dựng thêm một đội quân khác để khống chế các tuyến đường dọc theo bờ biển Adriatic. Một đội quân thứ ba được tạo thành từ các lực lượng còn sót lại trong những trận chiến trước đó dưới quyền Scipio thì đóng quân ở Etruria. Vậy là mọi tuyến đường phía đông và phía tây dẫn đến Rome đều được canh giữ.
Mùa xuân năm 217 TCN, Hannibal đã quyết định tiến quân, và rời bỏ các đồng minh người Gaul đang dao động. Ông vượt dãy Apennine mà không gặp phải sự kháng cự nào. Sau đó Hannibal cho quân tránh các vị trí của người La Mã và sử dụng con đường duy nhất qua cửa sông Arno mà không có sự trấn giữ để tiến vào Etruria. Tuyến đường này xuyên qua một đầm lầy lớn, mà thường xuyên xảy ra tình trạng ngập lụt vào mùa xuân. Vì vậy mà cuộc hành quân của Hannibal rất vất vả, binh lính mất sức và thiếu ngủ vì không tìm được nơi đóng trại phù hợp. Tuy cuối cùng cũng vượt qua được nơi này, nhưng Hannibal đã mất một phần lực lượng và cả vài con voi chiến.
Sau khi đem quân tiến vào Etruria, Hannibal tìm cách nhử quân chủ lực của người La Mã dưới quyền Flaminius vào trận chiến bằng cách cho người đi cướp phá khu vực mà ông ta được phái tới bảo vệ, nhưng không thành công. Hannibal bèn tìm cách khác, ông hành quân vòng quanh cánh trái của đối phương và tỏ ra muốn chia cắt quân của Flaminius với Rome. Lần này mưu kế đã có tác dụng khi Flaminius đã phải cho quân truy đuổi Hannibal qua các vùng cao nguyên của Etruria. Sau đó, trong hẻm núi trên bờ hồ Trasimenus, Hannibal bố trí một cuộc phục kích quy mô lớn. Một trận đánh ác liệt đã diễn ra gần hồ Trasimene, và La Mã hứng chịu một thất bại khủng khiếp. Gần như toàn bộ đội quân của Flaminius bị hủy diệt - hoặc chết hoặc bị bắt, bản thân ông cũng tử trận. Chỉ vài nghìn quân La Mã bỏ chạy được. Scipio khi biết tin cũng đã cử kỵ binh tới hỗ trợ - nhưng lực lượng này nhanh chóng bị đánh bật và phải rút lui.

Bản đồ trận Hồ Trasimenus
Hannibal đã loại bỏ được đạo quân duy nhất có thể cản đường tiến quân của ông về Rome. Nhưng sau đó ông không tiếp tục tiến về Rome do những bất đồng giữa các tướng lĩnh; và còn vì thực tế là sau những trận chiến liên tiếp, quân đội đã hao hụt đi tương đối. Hannibal chuyển hướng tiến về miền nam Ý để hy vọng lôi kéo thêm được các đồng minh mới sẵn sàng phản lại La Mã.
Trận Cannae
Thảm bại tại hồ Trasimene đã khiến La Mã thực sự rơi vào hoảng loạn. Viện Nguyên lão buộc phải dùng đến để biện pháp khẩn cấp truyền thống mỗi khi rơi vào khủng hoảng là chỉ định một người lên làm Quan Độc tài. Người này sẽ có quyền lực tuyệt đối và có toàn quyền chỉ huy quân đội, quyền hạn cao hơn các quan chấp chính thông thường rất nhiều. Trong số hai quan chấp chính đương nhiệm, Flaminius đã tử trận còn Servilius thì đang cầm đạo quân lớn còn lại duy nhất; nên Viện Nguyên lão đã phá lệ bổ nhiệm thẳng một người khác lên làm Quan Độc tài là Quintus Fabius Maximus.
Sau khi nhậm chức, Fabius đã vạch ra một chiến lược mới để đối phó với Hannibal. Ông không định giao chiến trực diện với quân chủ lực Carthage; chuyển hướng mục tiêu sang các đạo quân đồng minh nhỏ hơn. Chiến lược này không được lòng người La Mã cho lắm, vì nó tạo cảm giác như thể ông đang né tránh những trận chiến trong khi đất Ý đang bị kẻ thù cướp phá. Hơn nữa, nó cũng khiến nhiều người lo lắng rằng nếu Hannibal tiếp tục cướp bóc mà không gặp bất cứ sự kháng cự nào thì sẽ làm cho đồng minh của họ sợ hãi. Như vậy có thể khiến họ tin rằng La Mã không còn đủ khả năng bảo vệ họ nữa và chuyển sang liên minh với Hannibal. Nhưng Fabius vẫn kiên quyết theo đuổi chiến lược này. Đội quân của ông như biến thành cái bóng của Hannibal, khi di chuyển song song với đà tiến quân của người Carthage trên vùng đồng bằng, để tránh kỵ binh của Hannibal vốn có ưu thế trên địa hình bằng phẳng. Điều này đòi hỏi một sự cẩn trọng tuyệt đối, vì quân Carthage đã cố gắng hết sức để phục kích. Nhưng mọi nỗ lực của Hannibal không thành, vì Fabius đã cho binh lính hành quân theo đội hình ba hàng dọc song song, thay vì đi thành một hàng dọc duy nhất như truyền thống.

Fabius
Fabius liên tục quấy rối đội quân của Hannibal, rút tỉa lực lượng của Carthage. Hannibal bèn tìm cách kích động chia rẽ nội bộ La Mã khi bỏ qua không cướp bóc những khu điền trang thuộc về Fabius, để khiến Rome tưởng rằng ông đã ký kết một hiệp ước bí mật nào đó với Carthage. Fabius bèn đối phó lại bằng cách bán hết các khu điền trang của mình để lấy tiền và chấp nhận trả cho Hannibal nhằm chuộc tù binh.
Sau khi tàn phá vùng Apulia mà không tài nào ép Fabius tham chiến được, Hannibal quyết định hành quân qua vùng Samnium để vào Campania, một trong những tỉnh giàu có và đất đai màu mỡ nhất ở Ý. Ông hy vọng rằng nếu đe dọa đến vùng này thì Fabius sẽ buộc phải giao chiến để bảo vệ nó. Về phần mình, Fabius nhận thấy rằng ông có cơ hội hoàn hảo để bẫy quân Carthage trên đồng bằng Campanian và buộc Hannibal phải chiến đấu ở địa hình bất lợi. Nhưng Hannibal không phải kẻ ngốc, ông nhìn ngay ra được rằng trú đông ở ở vùng đồng bằng đã bị tàn phá của Campania sẽ không an toàn chút nào. Quân Carthage tìm được cách trốn thoát bằng cách lừa những người La Mã tin rằng họ đang trên đường tới các đỉnh núi ở phía trên. Người La Mã vì vậy đã mắc bẫy và quân Carthage rút quân qua một con đường không được bảo vệ, không mảy may xây xát hay mất mát gì. Đây là một cú đánh nghiêm trọng giáng vào uy tín đang ngày càng suy giảm của Fabius.
Sang đến năm 216 TCN, ngày càng có nhiều tiếng nói phản đối chiến lược của Fabius, khi ông đã không thể nhanh chóng kết thúc cuộc chiến. Nhiệm kỳ quan Độc tài sáu tháng của Fabius đã kết thúc, Viện Nguyên lão khi ấy đã bầu ra hai quan chấp chính mới là Gaius Terentius Varro và Lucius Aemilius Paullus. Trong số hai người này; Varro ủng hộ kiểu chiến tranh trực diện và hung hăng hơn, trong khi Paullus tỏ thái độ muốn trung hòa giữa chiến lược của Fabius và chiến lược của Varro.

Hannibal Barca
Về phía Hannibal, thì ông đã không đạt được mục đích ban đầu khi đến nam Ý là lôi kéo các đồng minh của Rome. Vì vậy nên đến mùa xuân năm 216 TCN, Hannibal cho quân đánh chiếm kho lương lớn tại Cannae ở vùng đồng bằng Apulia. Như vậy là quân Carthage đã cắt đứt nguồn tiếp tế lớn nhất của La Mã. Mối đe dọa từ Hannibal ngày càng lớn, nên Viện Nguyên lão La Mã đã trao quyền xây dựng một đội quân lớn gấp đôi cho hai quan chấp chính mới là Varro và Paullus. Lực lượng của họ lên tới 8 quân đoàn La Mã chuẩn, cộng thêm cả các lực lượng đồng minh khiến quân số của họ lên tới gần 87,000 người. Rõ ràng, Rome đã quyết đánh một trận sống chết với Hannibal để chấm dứt cuộc chiến trên đất Ý.
Varro và Paullus quyết tâm đối đầu với Hannibal và hành quân về phía nam. Sau hai ngày hành quân, người La Mã đến nơi và thấy quân Carthage đang đóng ở bờ trái sông Aufidus. Hannibal chỉ có quân số bằng khoảng một nửa đối phương, nhưng ông tự tin có thể nghiền nát quân La Mã.
Trong số hai quan chấp chính, Varro là người kiêu căng và khinh suất, và luôn muốn nhanh chóng đánh bại Hannibal. Trước đó khi tiến về Cannae, quân La Mã đã gặp mai phục của một đội quân Carthage nhỏ. Varro dễ dàng đẩy lùi cuộc tiến công của người Carthage và tiếp tục tiến về Cannae. Tuy chỉ là chiến thắng trong một cuộc đụng độ nhỏ hoàn toàn không có ý nghĩa chiến thuật, Varro vẫn lấy nó để củng cố sự tự tin quá mức của mình trước Hannibal. Quan chấp chính còn lại là Paullus lại trái ngược hoàn toàn khi ông rất thận trọng và cho rằng việc đối đầu trên chiến trường bằng phẳng với quân Carthage là điều ngu ngốc, kể cả khi quân La Mã vượt trội về số lượng. Suy nghĩ của Paullus là hoàn toàn chính xác vì quân của Hannibal vốn nổi tiếng về sức mạnh và số lượng của đội kỵ binh - vốn có lợi thế khi chiến đấu trên chiến trường bằng phẳng.

Một bản đồ về trận Cannae
Hai bên giữ nguyên vị trí trong 2 ngày. Nhưng từ cuối ngày thứ 2, khi biết Varro sẽ chỉ huy quân La Mã ngày tiếp theo, Hannibal rút trại và bắt đầu khiêu chiến. Theo Varro thì quân Hannibal không có nhiều không gian để vận động và cũng không có ý định rút lui vì họ bố trí đội hình quay lưng về phía sông Aufidus. Varro tin rằng có thể dùng ưu thế về số lượng của quân đội La Mã để đẩy người Carthage về phía bờ sông khiến đội hình của họ bị tan vỡ và trở nên rối loạn. Varro cũng chắc chắn rằng hai chiến thắng trước của quân Hannibal chẳng qua là do các trò đánh lừa và mưu mẹo vặt. Tất cả những tính toán đó đã khiến Varro quyết định đưa toàn quân La Mã đối đầu trực tiếp với lực lượng Carthage trên chiến trường.

Kỵ binh Numidia và kỵ binh La Mã
Về phía Carthage, Hannibal cho triển khai đội hình dựa theo khả năng chiến đấu của từng đơn vị, ông xem xét cả về số lượng, điểm mạnh và điểm yếu của từng đơn vị trước khi đưa ra chiến thuật cho toàn quân. Hannibal cũng tin rằng kỵ binh bố trí ở hai cánh sẽ đánh bại đội kỵ binh yếu hơn của quân La Mã sau đó vòng lại tấn công hậu tuyến bộ binh La Mã, đẩy đội quân này tiến về trung quân của Carthage vốn yếu hơn. Khi thế trận hình vòng cung thành hình, các đội lính châu Phi tinh nhuệ của ông sẽ tấn công từ hai cánh và bao vây lực lượng bị kéo dãn của người La Mã. Và sau đó thay vì tấn công các đội bộ binh nặng tinh nhuệ của La Mã, Hannibal sẽ cho kỵ binh chuyển hướng tiêu diệt các đơn vị vòng ngoài của La Mã. Việc này sẽ tạo điều kiện cho quân Carthage ở trung tâm tiêu diệt được đối phương ở bên trong vòng vây và khiến bộ binh nhẹ của La Mã hoảng loạn. Các đội bắn đá Carthage sẽ làm tăng sự rối loạn của quân La Mã khi dồn lực lượng này về trung tâm đội hình khiến cự ly đội hình quân La Mã bị thu hẹp tới mức khó có thể sử dụng vũ khí đồng thời dễ dàng vấp ngã khi giao chiến.
Ngoài ra, trái với suy nghĩ của Varro, việc Hannibal cho quân dựa lưng vào sông là một phần quan trọng trong chiến thuật. Tình thế dựa lưng vào sông sẽ giúp một sườn của quân Carthage không bị phá vỡ ngay thời gian đầu bởi quân La Mã vượt trội về số lượng, đồng thời chặn đường thoát bên cánh phải của quân La Mã. Bên cạnh đó, việc ép quân La Mã quay mặt về hướng đông, cũng là hướng gió đông nam thổi mang theo cát bụi sẽ khiến tốc độ của họ bị chậm lại đáng kể.
Vào giai đoạn đầu trận đánh, kỵ binh hai bên giao tranh ác liệt và đẫm máu ở hai cánh. Với trình độ và lực lượng vượt trội, kỵ binh Carthage nhanh chóng áp đảo và đánh tan kỵ binh La Mã ở cánh phải. Sau đó họ lập tức đánh mạnh vào bộ binh La Mã khu vực trung tâm từ đằng sau. Trong lúc kỵ binh Carthage đang áp đảo ở cánh phải, bộ binh trung tâm của hai phía bắt đầu giao tranh. Tuy vượt trội về lực lượng nhưng bộ binh La Mã gặp bất lợi về hướng tấn công.
Nhận thấy tính chất quyết định của việc bộ binh nặng La Mã phải đánh bại bộ binh Carthage tại trung tâm, Paullus đã dẫn lực lượng của mình trực tiếp gia nhập trận đánh đang càng lúc càng quyết liệt ở đây. Đích thân Hannibal đứng chỉ huy trung quân Carthage và ra lệnh cho đội bộ binh yếu này dần lùi về phía sau tạo thành vòng cung giống như vành trăng khuyết. Với thế trận này của quân Carthage cùng việc vừa tiến vừa đánh, quân La Mã bắt đầu mất cự ly đội hình và có ít không gian để dùng vũ khí chiến đấu. Việc quân Carthage ở trung tâm lùi cũng khiến người La Mã bỏ qua mối nguy đến từ các đội bộ binh châu Phi vẫn gần như giữ nguyên vị trí ở ngoài rìa. Việc này cũng tạo thời gian cho kỵ binh Carthage đẩy lùi hoàn toàn kỵ binh La Mã và đánh mạnh vào bộ binh ở trung tâm. Quân La Mã giờ bị ép vào thế bị đánh từ cả hai phía và khi đến thời điểm quyết định, Hannibal tung các đội bộ binh tinh nhuệ châu Phi vào trận từ hai cánh, bao vây hoàn toàn quân La Mã.

Không còn đường thoát và bị tấn công từ bốn phía trong một khu vực bị bó hẹp, bộ binh La Mã rơi vào tình cảnh hỗn loạn, và cuối cùng thì họ gần như chỉ còn biết đứng chờ chết. Đến khi trận đánh kết thúc, hầu như toàn bộ lực lượng của La Mã hoặc bị tàn sát hoặc bị bắt giữ. Ước chừng có khoảng 50,000 - 70,000 quân La Mã bỏ mạng tại Cannae, trong số đó có cả quan chấp chính Paullus và người tiền nhiệm Servilius. Đó là còn chưa kể đến hàng chục Nguyên lão và quan lại các cấp cũng bỏ mạng trong trận đánh. Vài nghìn người bị bắt sống, chỉ số ít có thể thoát được khỏi Cannae và chạy về thành phố Canusium gần đó. Một thảm họa quân sự bậc nhất với La Mã.
Chiến sự sau trận Cannae
Thảm bại khủng khiếp tại Cannae đã khiến tinh thần người La Mã càng thêm phần hoảng loạn. Đội quân khổng lồ của họ đã bị nghiền nát hoàn toàn, quan chấp chính Varro mất uy tín nghiêm trọng. Rome hoảng loạn tới mức người ta còn bắt đầu tìm tới các phương thức cổ xưa như hiến tế người để cầu nguyện. Có viên quan bảo dân thậm chí còn đề nghị những người đồng nhiệm tìm cách chạy trốn.
Với Hannibal, chỉ sau 3 trận chiến ở Trebia, Trasimene và Cannae, ông đã tiêu diệt được một lực lượng khổng lồ của La Mã. Ngay sau trận Cannae, chỉ huy kỵ binh người Numidia là Maharbal đã đề nghị Hannibal hãy tận dụng thời cơ tiến về Rome, nhưng ông không đồng ý. Chính vì vậy mà có giai thoại cho rằng Maharbal đã than thở rằng Hannibal là người biết cách giành chiến thắng nhưng lại chẳng hề biết cách tận dụng những chiến thắng ấy.

Nhưng Hannibal cũng có lý do của mình để không tiến về Rome ngay lúc đó. Thiệt hại từ các trận đánh liên tiếp trên đất Ý khiến quân Carthage không thể đánh thẳng vào Rome được, trừ phi họ có viện binh từ Iberia. Rome tuy tổn thất nặng nề, nhưng vẫn còn đủ khả năng phòng thủ một cách hiệu quả trước một cuộc vây hãm, đồng thời duy trì sự hiện diện trên các khu vực quan trọng khác. Vả lại, chiến lược của Hannibal không phải là tiêu diệt tận gốc kẻ địch mà là triệt tiêu tinh thần đối phương bằng một loạt trận đánh để rồi buộc đối phương phải ký một hiệp ước hòa bình kèm theo việc từ bỏ hết các thành bang đồng minh. Việc này sẽ giúp làm tan rã khối liên minh giữa La Mã và các đồng minh, và từ đó ông có thể tạo ra một tình thế mà Rome bị cô lập.
Ngay sau trận Cannae, Hannibal cũng đã cử một phái đoàn tới Rome để thảo luận một hiệp ước hòa bình với Viện Nguyên lão La Mã. Tuy gặp nhiều tổn thất cả về người lẫn tinh thần xuống dốc nghiêm trọng, Viện Nguyên lão vẫn từ chối đề nghị của Hannibal, trái lại họ còn tăng gấp đôi nỗ lực chống lại Carthage bằng cách tổng động viên toàn bộ nam giới La Mã. Các quân đoàn mới được thành lập từ những nông dân không có đất canh tác và thậm chí là từ nô lệ.

Tuy vậy, tình thế vẫn rất hiểm nghèo vì sau khi tin tức về thảm họa tại Cannae được truyền đi, một loạt đồng minh miền nam Ý ngay lập tức đổi phe và đứng về phía Hannibal. Nhiều thành bang tại Sicily cũng nổi dậy chống lại La Mã, đặc biệt trong đó có cả thành bang Syracuse, khi vị vua mới lên ngôi là Hieronymus không hài lòng với vị trí của mình trong liên minh La Mã nên chọn đứng về phía Carthage. Đến năm 215 TCN, vua Philippos V của Macedonia cũng quyết định nổi lên phản lại La Mã và bắt tay với Carthage nhằm giành quyền kiểm soát các vùng đất ở Illyria và Hy Lạp nhân lúc Rome suy yếu. Tuy nhiên cuộc chiến ở đây nhanh chóng rơi vào bế tắc, và đến năm 205 TCN thì kết thúc khi hai bên ký kết hiệp ước hòa bình.

Vào năm 215 TCN, hệ thống liên minh của Hannibal đã khống chế được phần lớn miền nam Ý, trừ một số thành phố dọc bờ biển. Nhiều thuộc địa Latin cũng nằm dưới tầm khống chế của Hannibal. Gaul ở phía bắc Ý vẫn ngoài tầm kiểm soát của Rome. Ở Macedonia thì vua Philippos V liên tục quấy phá để tranh giành các vùng đất ở đây.
Tuy nhiên như đã nói, sức mạnh của La Mã vẫn còn, và Rome không dễ sụp đổ như vậy. Sau trận Cannae, Hannibal tìm cách chiếm lấy thành phố Nola ở Campania - một vùng đất quan trọng có vai trò kết nối hàng loạt đồng minh khác nhau của ông về mặt địa lý và có bến cảng quan trọng nhất dành cho việc tiếp tế. Trong 3 năm liên tiếp từ năm 216 TCN đến năm 214 TCN, Hannibal tìm cách chiếm Nola, nhưng đều thất bại trước sự phòng thủ quyết liệt đến từ tướng La Mã là Marcus Claudius Marcellus. Thành công trong việc bảo vệ Nola đã phần nào hồi phục tinh thần cho người La Mã.
Ở Syracuse, vua Hieronymus mới lên ngôi đã quá xem thường quân La Mã đồn trú trong khu vực. Lực lượng của Syracuse nhanh chóng bị đẩy lui và thành phố bị vây hãm từ đầu năm 213 TCN. Chỉ huy quân La Mã lại là Marcellus - người đã có công phòng thủ được thành phố Nola. Và dù Syracuse có thể phòng thủ được nhờ những cỗ máy do Archimedes chế tạo, thì La Mã nhìn chung vẫn kiểm soát được khu vực. Cuộc vây hãm kéo dài đến 2 năm và kết thúc vào mùa thu năm 212 TCN. Thành phố bị đánh hạ và bị cướp phá, còn vua Hieronymus thì đã bị ám sát từ tận năm 214 TCN. Sau khi hạ được Syracuse, Marcellus tiến hành ổn định lại Sicily và đến năm 210 TCN, toàn bộ hòn đảo đã lại hoàn toàn nằm dưới quyền kiểm soát của Rome.
Sự bế tắc của Hannibal
Thực tế thì trước cả khi Sicily được bình ổn, tình hình đã dần chuyển sang chiều hướng bất lợi cho Hannibal nhờ những kết quả từ chiến dịch của người La Mã tại bán đảo Iberia. Vào năm 215 TCN, em trai Hannibal là Hasdrubal đã định đem quân sang Ý để tiếp viện, nhưng không thể vượt qua nổi lực lượng của La Mã trấn giữ ở giữa Ebro và dãy Pyrenee.
Đến năm 212 TCN, người La Mã chiếm lại được Saguntum. Rồi đến năm 211 TCN, Calvus và em trai Scipio (người đã đem quân trở lại Iberia từ trước đó) chiêu mộ thêm được 20,000 lính đánh thuê người Celtiberi để củng cố cho lực lượng của mình. Sau khi nhận thấy rằng quân Carthage đang ở tình trạng tách thành ba đạo riêng biệt - Hasdrubal Barca với 15,000 quân đóng ở gần Amtorgis, Mago Barca và Hasdrubal Gisco mỗi người có 10,000 quân nhưng ở xa hơn về phía tây - anh em Scipio đã lên kế hoạch tấn công. Publius Scipio sẽ đem 20,000 quân La Mã và đồng minh tấn công Mago Barca; trong khi Scipio Calvus sẽ đem 10,000 quân và lính đánh thuê để tấn công Hasdrubal Barca. Hai trận đánh riêng biệt đã diễn ra cùng lúc, nhưng kết quả đều là thất bại nặng nề của La Mã. Hasdrubal đã bí mật mua chuộc lính đánh thuê người Celtiberi và thuyết phục họ không ra trận. Cả hai anh em Scipio đều tử trận, và người La Mã buộc phải rút về các thành trì còn kiểm soát được ở phía bắc Iberia. Ngay sau đó, Viện Nguyên lão đã cử Gaius Claudius Nero đem quân sang tiếp viện và duy trì sự kiểm soát của La Mã tại đây.

Hasdrubal Barca
Đến năm 210 TCN, con trai của Publius Scipio - cũng tên là Publius Cornelius Scipio - đã được cử đến Iberia để tiếp tục cuộc chiến của cha và bác mình. Scipio là một người tài giỏi, và đã nhiều kinh nghiệm tham chiến. Ông cũng là một trong số ít người sống sót sau trận Cannae, đã có công vực dậy tinh thần nhiều người để an toàn rút lui. Đến giai đoạn này thì uy tín của ông đã đủ để được đảm nhận trọng trách tiếp tục chiến dịch ở Iberia dù còn trẻ.
Scipio đã không phạm phải sai lầm giống cha và bác mình. Ông quyết định sẽ không được để các đạo quân Carthage có thể tập hợp lại, vì như thế sẽ khiến lực lượng của họ vượt xa người La Mã. Mục tiêu của Scipio là đánh thẳng vào thủ phủ của Carthage ở Iberia là Tân Carthage. Nhờ khôn ngoan giữ kín tin tức, Scipio đã có thể bất ngờ tấn công Tân Carthage và chiếm được thành phố này năm 209 TCN. Sau đó, ông tiếp tục đánh bại được đội quân của Hasdrubal trong trận Baecula năm 208 TCN. Tuy vậy, Scipio không ngăn được Hasdrubal đem quân tiến vào đất Ý để tăng viện cho Hannibal. Nhưng rốt cuộc chuyện này không thành vấn đề. Hasdrubal dẫn quân tiến vào được đất Ý, cũng bằng cách vượt dãy Alps nhưng nhanh hơn nhiều nhờ các công trình mà Hannibal để lại trong lần hành quân trước. Nhưng sau đó lực lượng của Hasdrubal bị quân La Mã vây đánh, và trong trận sông Metauro, quân Carthage đã hứng chịu thất bại nặng nề. Họ mất một nửa quân số và toàn bộ voi chiến, bản thân Hasdrubal tử trận, bị chặt đầu và thi thể bị nhét vào bao tải rồi bị người La Mã đưa đến cho Hannibal.

Scipio
Còn về phần Scipio ở Iberia, thì ông tiếp tục giành được những chiến thắng liên tiếp. Đỉnh điểm là trận ILipa năm 206 TCN, khi Scipio đánh bại đội quân với lực lượng tương đương của Hasdrubal Gisco và Mago Barca. Hầu như toàn bộ lực lượng Carthage bị tiêu diệt, đặt dấu chấm hết cho sự kiểm soát của họ với Iberia. Nhưng cũng phải mất đến vài năm để Scipio có thể thực sự bình ổn khu vực này.
Về phần Hannibal tại Ý, thì tình hình đã từng có lúc rất khả quan vào năm 212 TCN khi thành phố Hy Lạp lớn nhất tại Ý là Tarentum cũng theo phe ông. Để trả đũa, La Mã đưa quân tới bao vây thành phố Capua - thành phố đồng minh quan trọng với Hannibal. Để tìm cách giải vây cho Capua, Hannibal bèn làm ra vẻ như muốn hành quân đến Rome. Việc này đã khiến quân La Mã buộc phải tạm từ bỏ việc vây hãm Capua. Nhưng họ nhanh chóng quay trở lại tấn công vào năm sau đó và cuối cùng chiếm được thành phố năm 211 TCN, sau những nỗ lực tấn công để giải vây bất thành của Hannibal.
Mặc dù vẫn gây cho La Mã những thiệt hại khá lớn trong các trận đánh, nhưng lực lượng của Hannibal ngày càng hao hụt, trong khi Rome dần hồi phục và bắt đầu phản công. Tình thế gần như rơi vào bế tắc và giằng co, và chỉ thực sự thay đổi khi những nỗ lực tiếp viện cho Hannibal của em trai Hasdrubal thất bại năm 207 TCN. Đến năm 205 TCN, em trai ông là Mago Barca đem tàn quân từ Iberia tới Ý. Nhưng trong trận Insubria năm 203 TCN, đội quân của Mago Barca bị La Mã đánh bại, bản thân ông bị thương và qua đời không lâu sau đó. Lúc này thì mọi hy vọng nhận được tiếp viện của Hannibal đã tiêu tan, và tình hình còn tồi tệ hơn khi quân La Mã do Scipio trẻ tuổi bắt đầu đổ bộ vào Bắc Phi, uy hiếp Carthage. Cuối cùng, Hannibal buộc phải rút toàn bộ lực lượng khỏi Ý và trở về Carthage.

Trận Zama
Quay trở lại năm 205 TCN, sau khi đánh tan hoàn toàn các đạo quân chủ lực của Carthage ở Iberia, Scipio được bầu làm quan chấp chính và đã đề xuất kết thúc chiến tranh bằng cách trực tiếp xâm lược Carthage.
Viện Nguyên lão ban đầu phản đối kế hoạch đầy tham vọng này của Scipio. Tuy nhiên tiếng nói ủng hộ Scipio rất lớn, và cuối cùng kế hoạch được phê duyệt. Scipio được trao toàn quyền thực hiện cuộc xâm lược, nhưng không được cung cấp quân đội từ Ý. Vì vậy, ban đầu ông đến Sicily cùng vài nghìn quân tình nguyện và bắt đầu tập hợp lực lượng ở đây - hầu hết là tàn quân được phái đến sau thảm bại ở Cannae. Khi đã có đủ quân, Scipio vượt biển và đổ bộ xuống Utica ở Bắc Phi năm 203 TCN.
Ngay sau khi đổ bộ, Scipio đã đánh thắng Carthage liền một vài trận, và khiến những người nắm quyền của thành phố cảm thấy bị uy hiếp nghiêm trọng. Họ vội vã đề xuất hòa bình với Rome, theo đó thì Carthage có thể giữ lại các vùng lãnh thổ ở châu Phi, nhưng mất toàn quyền với các vùng lãnh thổ khác. Ngoài ra, Carthage phải giảm đội tàu của mình và phải trả một khoản bồi thường chiến tranh. Viện Nguyên lão hai bên đã phê chuẩn những điều kiện này, và sau đó Hannibal đã bị Carthage gọi về từ đất Ý.
Tuy nhiên, đàm phán hòa bình đã bị đổ vỡ khi Hannibal trở về. Carthage không thực sự tin tưởng Rome, cộng với việc họ tự tin hơn khi có lực lượng của Hannibal nên đã xung đột trở lại với lực lượng của Scipio. Chiến tranh tiếp tục, và trận đánh quyết định sắp sửa diễn ra tại Zama.
Hannibal là người đầu tiên hành quân và đến đồng bằng Zama - một nơi thích hợp cho việc sử dụng kỵ binh, vốn là ưu thế của ông. Nhưng lần này người La Mã cũng đã chuẩn bị khi họ sở hữu lực lượng kỵ binh thậm chí còn có phần trội hơn. Hannibal có khoảng 45,000 bộ binh và 4000 kỵ binh, cùng 80 voi chiến; nhưng quân Carthage có khá nhiều tân binh. Trong khi đó, lực lượng La Mã của Scipio có khoảng 24,000 bộ binh và 6000 kỵ binh, nhưng đều là các cựu binh có kinh nghiệm. Tính ra thì xét về lực lượng tinh nhuệ thì cả hai bên tương đương nhau, vì quân Carthage có kinh nghiệm chủ yếu là lực lượng của Hannibal từ Ý về.

Hannibal sắp xếp đội hình bằng cách đưa kỵ binh tinh nhuệ sang hai cánh, sau đó xếp bộ binh thành ba hàng đứng sau voi chiến. Scipio cũng xếp bộ binh thành ba hàng, còn hai cánh là kỵ binh. Nhưng điều mà Scipio quan tâm hơn cả là làm sao xử lý được các con voi chiến của Hannibal. Và ông đã vạch ra một kế hoạch. Scipio biết rằng voi có thể được lệnh phi về phía trước, nhưng chúng chỉ có thể đột kích trong một đường thẳng. Vì thế, ông đoán rằng nếu bộ binh mở ra một khoảng trống đủ rộng thì lũ voi sẽ xông thẳng qua mà không gây thiệt hại gì cho binh lính của mình.
Khi trận đánh bắt đầu, Hannibal lập tức tung voi chiến vào trận và sử dụng các lính phóng lao nhằm phá vỡ sự gắn kết hàng ngũ của quân La Mã. Scipio cũng cho quân phóng lao chống trả, đồng thời ra lệnh cho kỵ binh thổi còi to để dọa voi chiến. Lũ voi chiến tuy đã quen với những âm thanh chiến trận, nhưng vài con vẫn bị hoảng sợ bởi tiếng còi và quay sang chạy loạn về bên cánh trái. Chớp lấy thời cơ, kỵ binh người Numidia dưới trướng quân La Mã đột kích vào cánh trái Carthage. Kỵ binh Carthage bèn lập tức dẫn dụ kỵ binh La Mã đi xa khỏi chiến trường.
Trong khi đó, những con voi còn lại đã bị nhử đi qua các khoảng trống nhỏ mà bộ binh La Mã tạo ra, và chúng bị dụ đến tận đằng sau. Kế hoạch xử lý đám voi chiến của Scipio coi như đã thành công. Quân La Mã sau đó lập tức quay trở lại đội hình truyền thống và đánh mạnh vào trung quân của Carthage. Cuộc giao tranh giữa bộ binh hai bên kéo dài và cực kỳ ác liệt, thậm chí có những lúc tưởng như Hannibal đã giành được lợi thế. Nhưng Scipio đã duy trì được trật tự các hàng ngũ và chống trả quyết liệt. Cho đến khi các đội kỵ binh La Mã thôi không truy đuổi nữa mà quay về đánh mạnh vào hậu quân Carthage thì trận chiến dần ngã ngũ. Đội hình Carthage sụp đổ do bị đánh mạnh từ cả hai phía - kết quả gần giống y hệt trận Cannae, chỉ khác giờ đây Hannibal là nạn nhân. Carthage đón nhận thất bại nặng nề - 20,000 người bỏ mạng, và số người bị bắt cũng tương đương. Hannibal may mắn rút lui được cùng số ít tàn quân, nhưng kết cục đã rõ ràng. Scipio sau đó được gọi bằng cái tên mới là Scipio Africanus để tôn vinh chiến thắng ông giành được tại châu Phi.

Cuộc chiến Punic lần thứ hai kết thúc khi Carthage chấp nhận những điều kiện hòa bình mà Rome đưa ra. Lần này các điều kiện còn khắc nghiệt hơn khi Carthage mất toàn bộ các vùng lãnh thổ ngoài châu Phi. Thậm chí quyền lực của họ ở Bắc Phi cũng suy giảm khi người Numidia trở nên mạnh hơn sau khi liên minh với Rome. Carthage bị ép phải trả một khoản chiến phí khổng lồ, hạm đội bị ép phải giảm xuống chỉ còn 10 tàu. Carthage cũng không được phép gây dựng quân đội mà không được Rome đồng ý. Còn La Mã tiếp tục mở rộng tầm ảnh hưởng trong khu vực, và trở nên hùng mạnh hơn rất nhiều nhờ kiểm soát được thêm cả khu vực bán đảo Iberia.
Về phần Hannibal - cơn ác mộng của La Mã - thì sau khi chiến tranh kết thúc, ông bắt đầu tham gia chính trị tại Carthage và nhanh chóng được nhiều người ủng hộ. Tuy nhiên chính việc này cũng khiến nhiều người đồng nhiệm trở nên ghen tức. Vài năm sau đó, khi Carthage dần hồi phục và có dấu hiệu thịnh vượng trở lại; Rome dần lo lắng và yêu cầu Carthage phải giao nộp Hannibal. Đối mặt trước việc này, Hannibal tự nguyện đi lưu đày để tránh bị rơi vào tay kẻ thù của mình. Ông đi qua nhiều nơi, cuối cùng dừng chân tại Bithynia ở Tiểu Á và được vua Prusias I đón nhận. Mà lúc này thì Bithynia lại đang có xung đột với đồng minh của Rome là vua Eumenes II của Pergamon. Hannibal đã góp sức giúp Bithynia giành vài chiến thắng, trước khi Rome trực tiếp can thiệp và yêu cầu họ phải giao nộp ông. Quyết không để bản thân bị làm nhục bởi kẻ thù ông căm hận, Hannibal uống thuốc độc tự tử và qua đời năm 65 tuổi. Và như vậy, kẻ thù vĩ đại nhất của La Mã đã chết.

Cuộc chiến Punic lần thứ ba - hồi kết của Carthage
La Mã và Carthage còn xung đột với nhau một lần nữa - vào 50 năm sau khi cuộc chiến Punic lần thứ hai kết thúc. Thế nhưng khác với hai cuộc chiến trước, quy mô của cuộc chiến này nhỏ hơn rất nhiều. Carthage sau 50 năm liên tục phải trả tiền cho Rome và bị các thế lực xung quanh uy hiếp đã suy yếu trầm trọng. Còn Rome, rất nhiều người trong Viện Nguyên lão như Cato Già và Cicero cũng lên tiếng yêu cầu chấm dứt mối đe dọa tiềm tàng từ Carthage một lần và mãi mãi. Có thể nói là La Mã chỉ cần một cái cớ để gây chiến và tiêu diệt hoàn toàn đối thủ.
Năm 151 TCN, Numidia tấn công biên giới Carthage, vây hãm thị trấn Oroscopa. Carthage đã gây dựng một đội quân lớn để bảo vệ lãnh thổ của mình, nhưng lại phải hứng chịu thất bại nặng nề. Tuy nhiên, La Mã tỏ thái độ không hài lòng khi Carthage tự ý gây dựng quân đội lớn và giao chiến với Numidia mà không được Rome cho phép.
Vậy là đến năm 149 TCN, La Mã chính thức tuyên chiến lần nữa với Carthage. Carthage lập tức tìm cách xoa dịu Rome, liên tục chấp nhận các yêu sách ngày một quá đáng. Nhưng bất chấp điều đó, một đạo quân La Mã lớn vẫn được tập trung để sẵn sàng tiến hành xâm lược. Và khi cuối cùng Carthage đã không còn chịu nổi những yêu cầu quá đáng của Rome, họ hủy việc đàm phán và lực lượng viễn chinh La Mã lập tức vượt biển để bao vây thành phố Carthage.

Ban đầu, cuộc bao vây của người La Mã không thu được kết quả gì, mà ngược lại họ còn chịu một số thiệt hại đáng kể do người Carthage gây ra. Vậy là đến năm 147 TCN, Viện Nguyên lão bổ nhiệm Scipio Aemilianus - cháu nuôi của Scipio Africanus lừng danh - làm chỉ huy cuộc viễn chinh của La Mã. Vòng vây La Mã dần khép chặt, và cuối cùng Carthage thất thủ năm 146 TCN. Thành phố bị cướp phá và bị hủy diệt hầu như toàn bộ. Những người sống sót hầu hết đều bị bán làm nô lệ. Toàn bộ lãnh thổ Carthage bị sáp nhập và trở thành một tỉnh của La Mã. Đến đây thì cuộc xung đột kéo dài hơn một thế kỷ giữa hai cường quốc Địa Trung Hải đã chấm dứt hoàn toàn. Carthage bị hủy diệt hoàn toàn còn Rome trở thành thế lực độc tôn trong khu vực. Không còn ai đe dọa được vị thế của họ nữa, và dần dần Rome bắt đầu bành trướng, cuối cùng tạo ra nền móng để sau này chuyển hóa trở thành Đế chế La Mã hùng mạnh của phương Tây.

Lịch sử
/lich-su
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất











