Viết bài: Trần Phan
Hiệu đính: Hải Stark
“Nước Đại Tần còn tên là Lê Kiền, vì nằm ở phía tây biển nên cũng gọi là nước Hải Tây. Đất rộng mấy nghìn lý, có hơn 400 thành. Có mấy chục tiểu quốc lệ thuộc. Thành quách xây bằng đá. Có đặt bưu đình, tường đều trát màu trắng. Có các loài cây cối bách thảo như tùng bách. Người nước này chăm chỉ làm ruộng, trồng nhiều thứ cây và dâu tằm. Ai nấy đều cắt tóc ngắn, mặc áo thêu hoa văn, đi xe nhỏ lợp mái trắng. Ra vào thì đánh trống, dựng tinh kỳ cờ xí.”
Đoạn trích vừa rồi được lấy ra từ “Hậu Hán thư - Tây Vực truyện”, mô tả góc nhìn đương thời của người Trung Quốc về Đế chế La Mã - một trong những đế chế nổi tiếng nhất lịch sử. Từ thế kỷ 8 TCN đến khoảng thế kỷ 3-4, La Mã đã đi từ một thành bang nhỏ bé đến một đế chế rộng lớn, chinh phục được Ai Cập, Hy Lạp, Lưỡng Hà, làm chủ một phần lãnh thổ rộng lớn của lục địa Á-Âu. Tuy xuất hiện muộn hơn nhiều so với các nền văn minh lâu đời khác, nhưng không thể phủ nhận ảnh hưởng sâu rộng của La Mã với thế giới phương tây về nhiều mặt. Vậy văn hóa của La Mã có những điểm gì thú vị? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết tổng hợp dưới đây nhé.

Khái quát chung về La Mã

Nằm ở phía tây Hy Lạp là bán đảo Italia với địa hình như chiếc ủng, kéo dài ra Địa Trung Hải. Phía bắc bán đảo được bao bọc bởi dãy núi Alps, ngăn cách nó với phần còn lại của châu Âu. Ba mặt còn lại đều giáp biển, với nhiều vịnh thuận lợi cho việc giao thương. Ở ngoài khơi phía nam là đảo Sicily - một hòn đảo rộng lớn với đất đai màu mỡ; còn ở phía tây là hai hòn đảo Corse và Sardegna. Những vùng đồng bằng trù phú ở Sicily và miền trung Italia là điều kiện lý tưởng để phát triển nông nghiệp. Khí hậu ấm áp, lượng mưa dồi dào, cùng với các nguồn khoáng sản như đồng, chì, và sắt đã tạo nền tảng cho sự hình thành các thành bang quanh bán đảo.
Nông nghiệp là một phần quan trọng của văn minh La Mã, chủ yếu là lúa và nho; ngoài ra người La Mã cũng chăn nuôi các loại gia súc như bò hay cừu. Khi hệ thống dẫn nước ra đời, nông nghiệp trở nên hiệu quả hơn, đồng thời xuất hiện thêm nhiều loại cây trồng mới. Trong thời kỳ đế chế, sự cạnh tranh kinh tế gia tăng khi các nông dân bắt đầu chuyển sang trồng cây ăn trái, vì ngũ cốc và gạo từ các thuộc địa được đưa về La Mã ngày càng nhiều.
Ngoài nông nghiệp, thủ công nghiệp cũng phát triển mạnh, với các nghề phổ biến như làm gốm, rèn sắt và xây dựng. Đồng thời, giao thương buôn bán cũng rất phát triển khi các thương nhân La Mã buôn bán khắp vùng Địa Trung Hải. Ngoài ra thì cũng giống Hy Lạp, La Mã cũng áp dụng chế độ nô lệ.
Một trong những đặc điểm nổi bật của người La Mã là việc tư tưởng cộng hòa có ảnh hưởng sâu sắc với họ. Từ “Republic” nghĩa là Cộng hòa trong tiếng Anh bắt nguồn từ tiếng Latin là “Res Publica”, có nghĩa là “vấn đề của quần chúng”. Khác với nhiều nền văn minh lớn trong khu vực, giai đoạn bắt đầu phát triển của Rome lại là giai đoạn Cộng hòa, và người La Mã luôn tự hào rằng họ có một nền cộng hòa thay vì một nhà nước quân chủ. Họ tin rằng nhà nước cộng hòa là một thể chế ưu việt hơn và đặc biệt ghét bỏ chế độ quân chủ - vì vị vua cuối cùng của Rome là Tarquinius là một bạo chúa đã bị lật đổ và dân chúng từ đó trở đi căm ghét những ai xưng là “Vua”. Kể cả về sau khi đã chuyển sang giai đoạn Đế chế, các Hoàng đế La Mã cũng không trực tiếp sử dụng các danh xưng mang tính hoàng tộc. Họ luôn tự xưng là một công dân của nền cộng hòa, là “Công dân thứ nhất”, một nguyên thủ và người cai trị mà thôi.
Xã hội La Mã nhìn chung chia thành hai tầng lớp chính là quý tộc và thường dân. Ban đầu, chỉ quý tộc mới có quyền tham gia chính trị. Tuy nhiên dần dần về sau, thường dân cũng có cơ hội tham gia vào các hoạt động chính trị, nhưng không thể có nhiều thuận lợi và được hậu thuẫn như các gia đình quý tộc lâu đời. Giới quý tộc vẫn nắm vai trò chi phối xã hội thông qua mối quan hệ người bảo trợ và người được bảo trợ. Quý tộc sẽ bảo vệ quyền lợi của thường dân, giúp họ trong các vụ kiện, hỗ trợ tài chính khi cần. Đổi lại, người được bảo trợ sẽ ủng hộ quý tộc trong các hoạt động chính trị, thương mại, thậm chí cả chiến tranh. Mối quan hệ này là một nét đặc trưng của xã hội La Mã, tạo nên sự gắn kết giữa các tầng lớp và ảnh hưởng sâu rộng đến bầu cử và luật pháp.

Đời sống người dân La Mã

Người La Mã rất coi trọng truyền thống. Họ tin rằng mỗi công dân phải tôn trọng những quy tắc và giá trị mà tổ tiên để lại. Gia đình là trung tâm của xã hội La Mã, nơi mà sự gắn bó giữa các thành viên được đề cao. Mỗi gia đình thường gồm nhiều thế hệ sống chung, tương tự như mô hình gia đình ba đến bốn thế hệ ở nhiều nước phương Đông.
Người đứng đầu gia đình là một người đàn ông lớn tuổi, gọi là pater familias – tức gia trưởng. Ông có quyền lực tuyệt đối đối với mọi thành viên trong gia đình. Việc nhận con nuôi rất phổ biến, và con nuôi được đối xử như con ruột. Một ngày thường nhật của gia đình La Mã thường bắt đầu bằng bữa sáng nhẹ, lời cầu nguyện, rồi mọi người đi làm. Sau giờ nghỉ trưa, họ sẽ quay lại làm việc, còn buổi chiều thường kết thúc bằng việc đi tắm ở nhà tắm công cộng. Trẻ em thì chơi các trò giải trí, và nếu chúng đủ lớn thì có thể đi xem các võ sĩ giác đấu chiến đấu với nhau.
Nhà thơ Juvenal từng có cụm từ nổi tiếng “Bánh mì và đấu trường”; vẫn thường được sử dụng để ám chỉ việc chính phủ trao cho người dân 1 điều gì đó và người dân sẽ tập trung vào điều ấy thay vì giám sát chính phủ. Câu này cho chúng ta thấy người dân La Mã thời đó thường chỉ có hai mối quan tâm lớn nhất - đồ ăn là bánh mì rẻ, và trò chơi giải trí là xem các cuộc thi đấu. Ở trong Đại hý trường Colosseum - một trường đấu khổng lồ mất đến 12 năm mới xây xong - người ta có thể cho tổ chức giao đấu giữa các võ sĩ với nhau, hoặc cho các võ sĩ chiến đấu với động vật, thậm chí là bơm nước vào để tiến hành những trận thủy chiến giả. Các trận giác đấu thường đều là mua vui nên các pha hành động đều được thiết kế sao cho ngoạn mục nhất. Các võ sĩ giác đấu nổi tiếng có rất nhiều người hâm mộ và nhận được nhiều tiền thưởng cũng như quà tặng, được chăm sóc kỹ càng không khác gì những minh tinh thời nay. Vì vậy, rất hiếm khi xảy ra trường hợp một võ sĩ giác đấu chết trong Colosseum, khác hẳn những gì mà phim ảnh hay thể hiện. Ngoài các trò hành động trong Colosseum, người La Mã cũng rất ưa chuộng các cuộc đua chiến xa.
Công dân La Mã đều có quyền bầu cử và có nghĩa vụ đối với nhà nước, tiêu biểu là nghĩa vụ quân sự và nộp thuế. Để được công nhận là công dân La Mã, người đó phải có bố mẹ là công dân La Mã hoặc đến từ một vùng được công nhận là lãnh thổ của La Mã. Còn với những vùng đất bị La Mã chinh phục và biến thành thuộc địa, dân ở những nơi đó sẽ được công nhận là cư dân của thành bang bị chinh phục và sống theo luật lệ của Rome. Dân thuộc các vùng quanh bán đảo Italia nhìn chung đều được công nhận là công dân La Mã. Người từ các vùng thuộc địa có thể trở thành công dân La Mã nhờ phục vụ trong quân đội, hoặc nếu là nô lệ thì qua việc được trả tự do.
Bất cứ ai đến từ những vùng đất bị La Mã chinh phục đều có thể bị biến thành nô lệ. Đời sống nô lệ nhìn chung hầu hết đều khổ cực vất vả, những ai phục vụ trong các gia đình quý tộc thì có thể khá hơn một chút. Tuy vậy, một số nô lệ có học vấn có thể được đối xử tử tế hơn và thậm chí trở thành tâm phúc của gia chủ, nhưng số này rất ít. Đến thời kỳ đế chế, đời sống nô lệ có được cải thiện hơn và nhiều đạo luật được ban hành để xem xét và thậm chí là bảo vệ quyền lợi của các nô lệ.
Với phụ nữ thì thường họ không có vai trò chính thức nào do ở trong một xã hội gia trưởng. Phụ nữ thường không được học hành, nhưng nếu sinh ra trong các gia đình quý tộc thì vẫn được học đọc hay học viết. Tuy nhiên, phụ nữ vẫn được đảm bảo quyền lợi, họ có quyền sở hữu tài sản riêng. Phụ nữ La Mã khi kết hôn cũng không bị coi như tài sản sở hữu của chồng. Nhìn chung, tuy xã hội La Mã vẫn nặng tính gia trưởng, nhưng cũng đã có một số điều tiến bộ hơn so với nhiều quốc gia và đế chế khác cùng thời.
Một người đàn ông La Mã mặc đồ tunic được tái hiện lại ngày nay
Một người đàn ông La Mã mặc đồ tunic được tái hiện lại ngày nay
Trang phục phổ biến của đàn ông La Mã là tunic - một bộ trang phục cộc tay đơn giản để tiện cho việc di chuyển, lao động. Phụ nữ thì thường mặc loại váy có tên là stola, cũng cộc tay. Phụ nữ có thể mặc thêm olicula, một loại mũ trùm đầu và palla, một loại áo choàng được làm từ lụa hay len mộc. Quý tộc La Mã thường mặc toga, một bộ trang phục dài và bất tiện hơn nhằm chứng tỏ địa vị tôn quý không cần lao động. Trang phục thường có màu trắng đơn giản, nhưng trong những dịp quan trọng (ví dụ như mừng chiến thắng), các vị tướng và nhà độc tài có thể sẽ có vinh dự được mặc toga picta - một loại toga màu tím. Ở La Mã, thuốc nhuộm rất đắt tiền vì hiếm và khó làm, đặc biệt là màu tím; nên được mặc trang phục tím là minh chứng cho tầm quan trọng của người mặc bộ đồ đó. Cũng vì lý do đó mà về sau, màu tím thường được coi là tượng trưng cho quyền lực và địa vị ở Đế chế La Mã.
Chính quyền La Mã nhìn chung luôn được vận hành qua thể chế Cộng hòa, đứng đầu là Viện Nguyên lão. Thường thì Viện Nguyên lão sẽ bầu ra hai vị trí coi như lãnh đạo, gọi là các Quan Chấp chính, đưa ra luật pháp, nắm giữ tòa án, quân đội và vị trí trưởng tế của quốc gia. Phục sức của họ giống với các vị vua trong quá khứ, áo choàng tía và ngồi trên ghế truyền thống dành riêng cho nhà vua. Tuy nhiên, quyền lực của họ đã bị hạn chế rất nhiều. Thứ nhất, họ tại vị chỉ có 1 năm, sau đó có thể được bầu lại hoặc trở về đời sống riêng. Thứ hai, có 2 Quan chấp chính, và vị này có thể ngăn cản bất cứ quyết định hay hành động nào của vị kia bằng quyền phủ quyết. Thứ ba, các quan chấp chính tiếp tục phải phục vụ ở Viện nguyên lão sau khi nhiệm kỳ chấm dứt. Đến năm 325 TCN, vị trí này được đổi thành quan thống đốc, là những quan chấp chính tại vị nhiều nhiệm kỳ do yêu cầu của các chiến dịch quân sự.
Trong những giai đoạn nguy cấp và cần đưa ra các quyết định nhanh chóng, Viện Nguyên lão thường chọn ra một người lãnh đạo có quyền lực lớn hơn, gọi là các Nhà độc tài. Nhiệm kỳ của một Nhà độc tài thường kéo dài khoảng 6 tháng; nhưng chính đây là tiền đề cho sự xuất hiện của các Hoàng đế La Mã. Tuy nhiên như đã nói, họ rất hạn chế tự xưng là nhà cai trị tối cao, mà luôn tìm cách duy trì vỏ bọc của một nền Cộng hòa - dù về sau thể chế chính trị của Đế chế La Mã ngày càng trở nên chuyên chế hơn.

Nền quân sự La Mã - Vinh Quang của Rome

Một cảnh trong tv series Rome (2004)
Một cảnh trong tv series Rome (2004)
Nền quân sự của La Mã có ảnh hưởng rất lớn đến thể chế xã hội của nó. Vì sự thành công về quân sự của Cộng hòa La Mã và Đế chế La Mã, nên các quân đoàn La Mã từ lâu đã được coi là mô hình ưu tú thời cổ đại về năng lực và hiệu quả quân sự.
Quân đội La Mã được cấu thành từ các quân đoàn. Quân số của một quân đoàn La Mã tiêu biểu biến đổi theo thời gian. Trong giai đoạn Cộng hòa thì mỗi quân đoàn có 4200 người chia thành 30 đến 35 tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn có từ 120 đến 140 người. Sang giai đoạn Đế chế thì mỗi quân đoàn tăng lên thành 5200 người, cộng thêm quân đồng minh hỗ trợ chia làm 10 đại đội. Vì các quân đoàn thường trực chỉ được tổ chức trong hệ thống quân đội La Mã sau cải cách của Marius năm 107 TCN, còn trước đó chỉ mang tính nhất thời (tức là được thành lập, sử dụng khi cần thiết và sau đó giải tán) nên hàng trăm quân đoàn đã được đặt tên và xếp số thứ tự trong lịch sử La Mã. Đến nay, chỉ có khoảng 50 quân đoàn có thể xác định được rõ ràng. Trong thời kỳ đầu của Đế chế, thường có 25 đến 35 quân đoàn thường trực cùng với quân đồng minh và sẽ được tăng thêm khi cần thiết. Ngoài quân đội thường trực, sau này vào thời kỳ Đế chế, các Hoàng đế còn có một đội cận vệ riêng gọi là các Praetoriani - tức Cận vệ của Hoàng đế. Đội quân này có khoảng từ 4000 - 5000 trong thời kỳ đầu và về sau nhiều Hoàng đế thậm chí có tới 12,000 đến 15,000 lính cận vệ. Điều thú vị nhất là trong giai đoạn khủng hoảng và suy yếu của Đế chế cuối thế kỷ 3 và đầu thế kỷ 4; chính các Praetoriani lại thường xuyên là những kẻ gây ra cái chết cho Hoàng đế, vì vô vàn lý do khác nhau.  
Đứng đầu quân đoàn là các chỉ huy được gọi là legatus legionis - tức là các Đại sứ của quân đoàn. Dưới cấp họ là các tribunus laticlavius - những giám quân, thường xuất thân từ các gia đình nguyên lão. Dưới nữa là tribunus angusticlavii - những giám quân đóng vai trò là tham mưu cấp cao, có xuất thân khiêm tốn hơn. Chỉ huy các tiểu đoàn sẽ là các Centurion và trên lý thuyết thì họ đều ngang hàng nhau, nhưng thường các Centurion của các tiểu đoàn xếp trên sẽ có vị thế cao hơn. Luật pháp trong quân đội La Mã thường có hình phạt rất nặng. Bất kỳ hành vi nổi loạn nào đều sẽ bị trừng phạt bằng xử phạt 1 trong 10 người, trong đó đơn vị vi phạm sẽ được chia thành các nhóm 10 người rút thăm, với người rút thăm ngắn nhất sẽ bị xử tử bằng cách đánh đến chết. Các sĩ quan cũng có thể bị xử tử riêng theo lệnh của hoàng đế nếu mắc sai lầm.
Sau các cuộc chiến tranh Punic với Carthage và các cuộc chiến với những bộ lạc Gallic ở phía bắc, người La Mã tiến hành một cuộc cải cách quân sự quy mô lớn để cải thiện quân đội từ nông dân tập trận sang quân đội thường trực.Quân lính được nhà nước và các chỉ huy trả lương và cung cấp lương thực, vũ khí và trang bị. 
Bên cạnh việc là một cỗ máy chiến tranh khổng lồ, quân đội La Mã còn là lực lượng xây dựng rất hiệu quả. Thực tế là hầu hết đường xá đều được quân đội xây dựng để phục vụ cho mục đích chinh chiến và giao thương, và cứ mỗi lần họ dừng lại để nghỉ đêm quân đội La Mã sẽ xây dựng lên hẳn một khu trại kiên cố.
Một bức ảnh về hậu cần thời xưa
Một bức ảnh về hậu cần thời xưa
Về trang bị, thì binh lính La Mã thường đeo giáp mũ để bảo vệ phần quan trọng nhất của họ trong trận chiến. Mặc dù cách thiết kế có sự thay đổi qua hàng thế kỉ, mũ của lính La Mã luôn tuân theo những khuôn mẫu như: phần chóp mũ hình bán cầu; có thể có hoặc không tấp bảo vệ má hoặc cổ; phần bên trong mũ chỉ được lót vải sơ sài. Giáp của binh lính La Mã có sự thay đổi theo thời gian. Một số kiểu giáp thường thấy của binh lính La Mã có thể kể đến là giáp lưới Lorica Hamata và giáp vảy Lorica Squamata, xuất hiện vào thời La Mã Cộng hòa; giáp tấm Lorica Segmentata, xuất hiện vào đầu thế kỷ 1 khi La Mã đã trở thành Đế chế. Binh lính La Mã thường sử dụng các loại vũ khí như kiếm gladius, giáo pila, dao găm, cung và nỏ, các loại khiên như khiên Scutum hình chữ nhật bản rộng; khiên Parma tròn và nhỏ hơn. 
Một trong những sự kiện quan trọng nhất từng diễn ra đối với quân đội La Mã có lẽ là cải cách Marius - được đặt tên theo một vị tướng quân La Mã nổi tiếng. Trước thời Marius, binh lính thường phải tự trang bị, dẫn đến việc số lượng và chất lượng quân đội bị hạn chế nhiều. Từ thời Marius đến Hoàng đế Augustus, chính quyền La Mã đã thay đổi điều đó bằng cách cho phép người nghèo có cơ hội để trở thành binh sĩ chuyên nghiệp và để nhà nước hỗ trợ về trang bị lẫn vũ khí. Thời hạn phục vụ trong quân đội cũng tăng từ 5-7 năm lên thành 16-25 năm. Quân đội tăng cả về số lượng và chất lượng, dẫn đến việc thế cân bằng trong chính trị La Mã dần biến mất. Quân đội liên tục phát động chiến tranh để mở rộng lãnh thổ, và binh lính không trung thành với nền Cộng hòa mà trung thành trực tiếp với các chỉ huy của họ. Đây là tiền đề dẫn tới tình trạng độc tài quân sự về sau, cũng như sự suy thoái của xã hội La Mã.

Một thay đổi quan trọng khác mà Marius thực hiện là thay đổi về mặt biểu tượng và hình ảnh quân đội. Năm 104 TCN, Marius đã loại bỏ sự đa dạng trong việc sử dụng biểu tượng cho quân đoàn, chỉ giữ lại hình ảnh con đại bàng đặc trưng như ta thường thấy về sau. Bên cạnh đó, Marius còn chú trọng xây dựng hệ thống hậu cần, ngoài ra còn yêu cầu binh lính tự mang vác trang bị và đồ đạc. Điều này một mặt giúp nâng cao thể chất của quân lính cũng như khả năng xây dựng nhanh nhạy của họ, mặt khác lại nâng cao tốc độ trong hành quân. Điểm yếu lớn nhất có lẽ là trang bị nặng dẫn đến quân lính nhanh mất sức hơn.
Quân đội La Mã chủ yếu là bộ binh, và điều này bắt đầu trở thành điểm yếu khi họ phải đối mặt với các lực lượng của các bộ tộc Germanic hay Gaul. Sau trận Zama với Carthage, người La Mã bắt đầu tập trung nhiều hơn vào kỵ binh, với các nhóm quân kỵ binh đến từ dân bản địa phục vụ trong quân La Mã. Nhà độc tài nổi tiếng Julius Caesar cũng đã sử dụng một đội kỵ binh gốc Gaul và Germanic để chinh phục được xứ Gaul. Người La Mã cũng có hải quân, vốn phát triển trong Chiến tranh Punic với Carthage. Vốn ban đầu, La Mã không hề có hải quân, nhưng khi đối diện với các thuyền chiến hùng mạnh của Carthage, quân đội La Mã đã xây dựng các hạm đội lớn, cải tiến thuyền chiến bằng việc lắp thêm một cây cầu đổ bộ gọi là corvus. Nhờ vậy, dù chiến đấu trên biển nhưng binh lính La Mã vẫn lợi dụng được ưu thế cận chiến của bộ binh, góp phần giúp họ đánh bại được Carthage trong các cuộc chiến tranh Punic.

Văn hóa La Mã

Bên cạnh quân sự, thì văn hóa La Mã cũng có rất nhiều thành tựu rực rỡ và có ảnh hưởng rất sâu rộng. Các bức tranh cổ của La Mã đều chịu ảnh hưởng mạnh từ hội họa của người Etruscan và về sau là người Hy Lạp. Một phong cách vẽ đặc biệt của dân La Mã là Incrustation - sơn các bức tường trong nhà sao cho giống đá cẩm thạch màu. Các bức họa được vẽ chi tiết với phong cảnh mở để tạo cảm giác chân thực và rộng lớn. Điêu khắc chân dung cũng rất phát triển, dung hòa giữa các trường phái chân thực và lý tưởng hóa.
Kiến trúc La Mã cũng đạt được nhiều thành tựu lớn, nhất là thành Rome vĩ đại - biểu tượng của quyền lực, trật tự, sự trường tồn và phồn vinh. Trong Rome, có những đấu trường, pháp đình cùng các trường đua, quảng trưởng lẫn các đền thờ, giáo khu để phục vụ mục đích tôn giáo. Dưới thời Augustus, Rome càng được mở rộng hơn nữa để biểu trưng cho quyền lực mới của đế chế. Thành tựu của kiến trúc La Mã có cả việc sáng tạo ra bê tông. Bê tông của La Mã được làm từ nước, vôi, tro núi lửa và những khối vụn gạch - đá. Nhờ vào kết cấu cứng và bền, người La Mã sử dụng bê tông làm ruột tường được áp bằng gạch và đá, hoặc nếu cao cấp hơn thì có thể sử dụng để làm mái vòm từ việc đổ bê tông vào khuôn gỗ.
Đặc trưng kiến trúc La Mã còn có thể kể đến là các cấu trúc cổng vòm. Các cổng vòm được sử dụng để làm cho toàn bộ phần tường nhẹ hơn bằng cách truyền tất cả sức nặng xuống thẳng dưới đất qua sức cong của nó, nhờ đó mà giúp các tòa nhà đồ sộ vững chãi hơn. Một công trình kiến trúc tiêu biểu như vậy có thể kể đến Domus Aurea - cung điện của hoàng đế Nero - với các khung vòm được dùng để chống cung điện, nhờ vậy nó có thể tồn tại lâu đến ngày hôm nay. Bên cạnh đó, các cổng vòm và khung vòm còn được sử dụng để xây dựng các trường đấu rộng lớn, tiêu biểu là Đại hý trường Colosseum. 
Theo truyền thuyết La Mã, người La Mã ban đầu nói tiếng thành Troy, một đô thành vùng Tiểu Á. Nhưng vì các vị thần muốn triệt tiêu văn hóa của thành Troy mà họ đã chấp nhận đổi sang tiếng nói khác là tiếng Latin của Địa Trung Hải. Từ đầu thời kỳ quân chủ đến giai đoạn đế quốc, tiếng Latin vẫn là thứ tiếng phổ biến nhất.
Tuy vậy, Đế chế La Mã chưa từng thực sự có một ngôn ngữ chính thức, mà tùy thời kỳ sẽ chuộng ngôn ngữ nào hơn giữa tiếng Latin và tiếng Hy Lạp. Trong đó, phía tây Đế chế thường chuộng tiếng Latin hơn, trong khi phía đông chuộng tiếng Hy Lạp, do ở gần với đất Hy Lạp cũ. Vào những năm đầu trong thời kỳ đế chế, những quý tộc đều được giáo dục để biết được tiếng Hy Lạp lẫn tiếng Latin, và trong thời kỳ Cơ đốc giáo trở thành tôn giáo chính thức, tiếng Hy Lạp được sử dụng cho mục đích tôn giáo lẫn thương mại.
Về mảng văn học và triết học thì từ giai đoạn cộng hòa ban đầu, nền văn minh La Mã đã xuất hiện nhiều mầm mống của thể loại văn học sử thi, văn xuôi. Văn học kịch La Mã cực kỳ phát triển. Cuối thế kỷ III, dưới ảnh hưởng của văn học Hy Lạp, nhất là với việc xuất hiện bản dịch hai trường ca Iliad và Odyssey mà đã có sự biến chuyển lớn. Nhà viết kịch Naevius đã sáng tác nhiều vở bi và hài kịch đa dạng, đồng thời sáng tạo ra một thể loại mới mang tên Praetexta, đề cập đến bi kịch của các nhân vật lịch sử La Mã thay vì các hình tượng anh hùng trong truyền thuyết. Phần lớn các vở kịch từ thời cộng hòa đều biến mất, và đến thời đế chế, chỉ có 1 vở kịch còn sót lại mang tên Octavia, miêu tả người vợ của hoàng đế Nero và số phận bi kịch của nàng.
Từ thế kỷ 2 TCN, nhà thơ Ennius đã sử dụng hệ thơ sáu âm tiết để viết nên tác phẩm “Annals” - “Sử biên niên”. Với người La Mã, thơ được sử dụng rộng rãi trong đời sống thường ngày, thậm chí người La Mã còn biết làm thơ trước khi biết viết. Tác phẩm nổi tiếng bậc nhất của văn minh La Mã có lẽ là tập sử thi Aeneid, được viết bởi nhà thơ Virgil. Aeneid được viết dựa trên những sự kiện đã xảy ra trong Iliad, xoay quanh hành trình của Aeneas sau khi thành Troy bị tận diệt và cách ông xây dựng thành Rome.
Một nhà thơ khác là Ovid, với tác phẩm metamorphoses, miêu tả truyền thuyết La Mã đi từ thời trái đất hình thành đến thời kỳ của ông. Một tác phẩm quan trọng khác của Ovid là Heroides - đề cập đến những nhân vật nữ trong thần thoại Hy Lạp - La Mã và miêu tả cuộc sống khó khăn của họ. Ngoài Virgil và Ovid, một người nổi danh nữa có thể kể đến là Horace. Là một sĩ quan trong quân đội La Mã, ông về phe Octavian trong cuộc nội chiến La Mã và trở thành nhà thơ đi đầu trong thời kỳ đầu tiên của Đế chế. Các tác phẩm của ông thường viết theo kiểu thơ sáu chữ theo lối trữ tình, cân bằng được giữa sự nghiêm túc và châm biếm; với chủ đề liên quan đến hạnh phúc và đam mê. Horace là người đầu tiên tự viết lên tự truyện về chính bản thân mình, xoay quanh những khó khăn, trắc trở mà bản thân ông trải nghiệm.
Polybius, sử gia La Mã
Polybius, sử gia La Mã
Sự phát triển của sử thi cũng dẫn đến sự phát triển của lối văn kể lại sử.  Bộ sử xuất hiện sớm nhất có lẽ là bộ sử của Fabius, được viết bằng tiếng Hy Lạp, theo sao đó là Cato. Bộ thông sử của Polibe được viết với 40 quyển miêu tả lịch sử La Mã từ năm 264 đến năm 146 TC, miêu tả cách La Mã chinh phục được Hy Lạp và trở thành thế lực thống trị quanh vùng. Sang đến thế kỷ 1 và 2 Công nguyên, các nhà sử học tiêu biểu nhấ là Tacitus, Plutarch và Appian. Các tài liệu do Tacitus viết đã trở thành tài liệu nghiên cứu quan trọng nhất đối với học giả khi nghiên cứu về triều đại của các hoàng đế La Mã thời kỳ đầu cũng như sự đàn áp các giáo dân Thiên Chúa giáo. Tác phẩm nổi tiếng nhất của Plutarch, Cuộc sống song hành, bao gồm 48 tiểu sử so sánh giữa các nhân vật La Mã và các nhân vật Hy Lạp, một số đến từ thần thoại và mang nhiều tính chất tôn giáo hơn. Appian dù ít tiếng tăm hơn hai người kia nhưng đã có đóng góp lớn bằng việc viết về lịch sử các vùng bị La Mã chinh phục cũng như các cuộc nội chiến La Mã diễn ra từ cuối thời kỳ cộng hòa đến thời ông sống.
Triết học La Mã chịu nhiều ảnh hưởng từ triết học Hy Lạp cổ, nổi bật có tác phẩm bàn về bản chất sự vật của Lucretius đã trình bày quan điểm duy vật vô thần của ông và chứng minh tính vĩnh cửu và bảo toàn của vật chất. Một số tư tưởng nổi bật khác có thể kể đến chủ nghĩa hoài nghi - cho rằng thế giới không nhận thức được của triết gia Agrippa cũng như chủ nghĩa khắc kỷ, tin rằng các đức hạnh là điều cần thiết để có một cuộc sống hạnh phúc. Chủ nghĩa khắc kỷ phát triển rất mạnh ở La Mã với các triết gia như Seneca Trẻ - thầy dạy của hoàng đế la mã Nero và hoàng đế Marcus Aurelius, vị hoàng đế cuối cùng trong Ngũ Hiền Đế của La Mã. Tác phẩm của ông - một tập sách được viết với tên gọi Suy Tưởng có lẽ là tác phẩm nổi tiếng nhất khi đề cập đến chủ nghĩa khắc kỷ và đã đề cập đến hình tượng Thượng Đế - nguồn gốc đầu tiên của tất cả những cái gì đang tồn tại, và quan điểm của Aurelius về sau đã ảnh hưởng đến những tín đồ Thiên Chúa giáo.
Về các lĩnh vực khoa học thì La Mã cũng có nhiều thành tựu đáng kể. Plinius, nhà bác học của La Mã cổ đại là người đã viết ra cuốn lịch sử tự nhiên - một cuốn bách khoa toàn thư đã tổng hợp hầu hết kiến thức của nhân loại và trở thành hình mẫu về sau cho các bách khoa thư khác. Tác phẩm của ông trình bày một cách chi tiết về lịch sử tự nhiên, các kiến thức về khoáng vật, luyện kim, vàng, muối, oxy cùng các khoáng chất. 
Về thiên văn học và địa lý, La Mã có đại diện tiêu biểu nhất là Claudius Ptolemy, người đã viết lên nhiều bài luận khoa học mà sau này đã trở thành nền tảng cho khoa học. Theo Ptolemy, trái đất là trung tâm vũ trụ và ông đã vẽ lên bản đổ với cực đông là trung quốc, cực tây là tây ban nha và cực bắc đi từ bán đảo Scandinavia đến cực nam là sông Nile.
Y học của La Mã cũng rất phát triển khi người La Mã cũng đã biết đến giải phẫu học. Họ biết rõ giá trị của dinh dưỡng lành mạnh cùng rèn luyện thể dục cũng như tiên lương bệnh, đồng thời biết cả phương pháp chích máu.
Một cống hiến quan trọng của văn minh La Mã chính là các loại lịch. Họ có nhiều loại lịch từ thời kỳ mới thành lập như Lịch Romulus, Lịch Numa; rồi đến Lịch Cộng hòa - sau này được Julius Caesar cải tiến và là nền tảng của hệ thống Dương lịch ngày nay.
Truyền thuyết và thần thoại La Mã chịu ảnh hưởng lớn từ nền văn minh Hy Lạp cổ. Nhà thơ Horace từng có câu nói nổi tiếng “Graecia capta ferum victorem cepit” - “Kẻ bị bắt là Hy Lạp lại biến những kẻ bắt cóc nàng ta thành những kẻ bị bắt”. Câu nói này là lời châm biếm mỉa mai đến văn hóa La Mã chịu ảnh hưởng rất nặng từ văn hóa Hy Lạp. Người La Mã cũng có thói quen chuyên đi nhập khẩu và đồng hóa các vị thần khác vào trong thần thoại của họ. Rất nhiều các vị thần La Mã được nhập khẩu từ các vùng đất khác như Ba Tư và Ai Cập; được thay đổi sao cho phù hợp với văn hóa của họ. Tuy nhiên, ảnh hưởng lớn nhất với hệ truyền thuyết La Mã thời kỳ trước khi biến thành một đế chế theo Cơ đốc giáo chính là hệ thần thoại Hy Lạp - khi rất nhiều vị thần La Mã có nguyên gốc là các thần Hy Lạp.

Khái quát lịch sử

Thành Rome và Vương quốc La Mã vẫn thường được xem là thành lập vào năm 753 TCN bởi Romulus. Nhưng từ thiên niên kỷ 2 TCN, khu vực này đã có cư dân sinh sống, gồm các nhóm người Etruscan ở bắc và trung Italia, cùng một nhóm dân Hy Lạp ở Sicily. 
Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những khu định cư quanh thành Rome từ những năm 1000 TCN. Cộng thêm tư liệu có được, chúng ta có thể khẳng định rằng đã có dân định cư ở đây từ trước, nhưng theo thời gian, cư dân thành Rome dần lất át các thu vực lân cận. Tuy vậy, không có nhiều thông tin chi tiết về thời kỳ Vương quốc La Mã. Theo truyền thuyết, Vương quốc La Mã có tổng cộng bảy vị vua. Vị vua thứ 7 và cũng là vị vua cuối cùng - Lucius Tarquinius Superbus - là một bạo chúa đã làm mất lòng cả dân chúng lẫn quý tộc. Các quý tộc ở Rome đã tổ chức đảo chính và lật đổ Tarquinius năm 509 TCN, chấm dứt thời kỳ quân chủ. Hai người chủ chốt trong cuộc lật đổ là Lucius Junius Brutus và Lucius Tarquinius Collaties đã trở thành hai Quan chấp chính đầu tiên, mở ra thời kỳ Cộng hòa La Mã. Cũng sau sự sụp đổ của nền quân chủ, La Mã chưa bao giờ có vua (vì như đã nói ở trên, ngay cả các Hoàng đế dù có nắm quyền lực tuyệt đối đến đâu, cũng không bao giờ xưng là vua).
Sau khi chế độ quân chủ sụp đổ, La Mã chuyển sang thời kỳ Cộng hòa. Chính trong thời kỳ này, La Mã bắt đầu phát triển từ một thành bang nhỏ sang một cường quốc lớn trong khu vực. Về bản chất, chế độ Cộng hòa của La Mã mang yếu tố của nền quân chủ lẫn quý tộc và dân chủ hiện đại. Sự giao hòa giữa cả ba chế độ cùng tính thích ứng nhanh của nó đã trở thành nền tảng quan trọng nhất để Rome có thể phát triển. Các phong trào đấu tranh vì quyền lợi của người dân diễn ra trong suốt thời kỳ này trong khi thành Rome đối đầu với các thành quốc láng giềng và mở rộng lãnh địa đến Naples. Nguyên tắc chủ đạo của Rome giai đoạn này là “phòng thủ mở rộng”. Tức là về cơ bản, Rome sẽ không bao giờ chủ động tấn công mà sẽ tập trung tự phòng thủ và khi nghi ngờ ai đó đang tấn công họ, họ sẽ đáp trả lại. Lý do là vì họ cho rằng chỉ một cuộc chiến chính nghĩa mới có thể được các vị thần ủng hộ.
Trong giai đoạn Cộng hòa La Mã, cuộc chiến nổi tiếng nhất mà Rome tham gia vào, chắc chắn là hai cuộc chiến Punic với Carthage, mà kết quả cuối cùng là Rome giành được thắng lợi và mở rộng tầm ảnh hưởng, còn Carthage rơi vào suy yếu và cuối cùng tàn lụi.
Cuộc chiến Punic lần đầu nổ ra năm 264 TCN, kéo dài đến tận năm 241 TCN mới kết thúc. Cuộc chiến này nổ ra là vì cả Rome lẫn Carthage đều muốn áp đặt tầm ảnh hưởng lên Sicily. Trước khi cuộc chiến xảy ra, Carthage là thế lực chi phối miền Tây Địa Trung Hải. Nhưng sau cuộc chiến dai dẳng, Rome là bên chiến thắng và đã bắt Carthage phải tuân theo một hiệp ước với những điều khoản bồi thường nặng nề. Đồng thời, sau cuộc chiến này, Rome cũng kiểm soát được Sicily, đúng với mục đích ban đầu đề ra khi xung đột với Carthage.
Tuy nhiên xung đột giữa Rome và Carthage chưa dừng lại ở đây, khi vào năm 218 TCN, cuộc chiến Punic lần thứ hai nổ ra. Cuộc chiến này trở nên nổi tiếng trong lịch sử vì sự xuất hiện của vị tướng Hannibal Barca - người được mệnh danh là kẻ thù nguy hiểm nhất của La Mã. Cuộc chiến này được ghi dấu bằng cuộc hành trình đầy bất ngờ bằng đường bộ của Hannibal và tổn thất của ông khi vượt qua dãy núi Alps tiếp theo đó đoàn quân của ông được bổ sung thêm nhờ sự gia nhập của những đồng minh người Gaul và đánh cho quân đội La Mã thua liểng xiểng trong trận Trebia và một trận phục kích phi thường tại Trasimene. Nhằm đối phó với Hannibal, người La Mã đã triển khai chiến lược Fabius - tránh đối đầu trực diện mà tổ chức cuộc chiến tiêu hao. Tuy nhiên, bởi vì sự mất lòng dân ngày càng tăng của phương pháp này, người La Mã buộc phải tiến hành một trận chiến lớn khác nữa. Kết quả của là một thảm bại nữa của người La Mã tại Cannae năm 216 TCN. Thất bại này khiến cho nhiều đồng minh La Mã chạy sang phía Carthage, làm cuộc chiến bị kéo dài.

Mặc dù chịu nhiều thất bại, quân La Mã có khả năng tổ chức lại nhanh hơn người Carthage và tất cả các thành phố lớn đứng về phía đối phương đã bị chiếm lại, cũng như đánh bại một nỗ lực của người Carthage nhằm củng cố lại quân đội của Hannibal ở trận Metaurus. Trong khi đó, ở bán đảo Iberia, vốn là nguồn cung cấp nhân lực chính cho quân đội Carthage, một đoàn quân viễn chinh La Mã thứ hai đã chiếm được thành Tân Carthage và sau đó kết thúc sự cai trị của Carthage trên bán đảo này. Thử thách cuối cùng cho người La Mã là trận Zama diễn ra ở châu Phi giữa đội quân của Scipio Africanus và Hannibal, kết quả là một thất bại dành cho Hannibal và tiếp đó là việc áp đặt các điều kiện hòa bình khắc nghiệt đối với Carthage. Cuộc chiến Punic lần thứ 2 kết thúc năm 201 TCN với chiến thắng của Rome và tạo tiền đề cho việc bành trướng thế lực ra ngoài khu vực bán đảo Italia về sau. Rome và Carthage còn xảy ra chiến tranh một lần nữa năm 149 TCN, nhưng lúc này Carthage đã quá suy yếu, không phải đối thủ của một La Mã hùng mạnh. Cuộc chiến kết thúc sau 3 năm, với việc Carthage hoàn toàn bị xóa sổ và trở thành một thuộc địa của La Mã.
Ngoài các cuộc chiến Punic, giai đoạn này La Mã cũng mở những chiến dịch chinh phục Hy Lạp. Những cuộc chiến giữa thành Rome và các thành bang Hy Lạp kéo dài từ năm 200 TCN đến năm 133 TCN. Rome không chỉ thành công tiêu diệt những kẻ thù ở phía đông mà còn bước đầu lấn sang Tây Ban Nha và Gaul, dần dần chiếm được lãnh thổ trước đây từng thuộc về Carthage. Đến năm 146 TCN, người La Mã chia lãnh thổ Hy Lạp thành hai vùng Achaea và Madedonia, dựa trên lãnh thổ của đế chế Macedonia cũ và các thành bang Hy Lạp cổ đại.
Đến thế kỷ 1 TCN, Rome đã trở thành thế lực đứng đầu vùng Địa Trung Hải. Đây cũng là giai đoạn xuất hiện nhiều nhân vật quan trọng trong lịch sử La Mã, mà nổi tiếng nhất chính là nhà độc tài trứ danh Julius Caesar. Caesar sinh ra vào thời điểm những chính trị gia La Mã ngày càng trở nên quyền lực với quân đội riêng. Bản thân Caesar cũng trưởng thành trong Chiến Tranh Nô Lệ Lần Thứ Ba khi Spartacus, một võ sĩ giác đấu tổ chức nổi loạn tại bán đảo Italia. Mặc dù kêu gọi được đến 7 vạn nô lệ theo mình, đội quân của Spartacus vẫn bị đội quân của Crassus đánh bại tan tác, Spartacus thì bỏ trốn và không rõ tung tích.
Sau khi dẹp yên loạn Spartacus, Crassus và Caesar thành lập liên minh tam đầu chế với một vị tướng khác tên là Pompey. Tuy nhiên, liên minh này tan rã khi Crassus bị giết ở Ba Tư còn Pompey và Caesar quay ra đối đầu nhau, đẩy Cộng hòa La Mã vào cảnh nội chiến. Pompey cuối cùng bại trận và bị người Ai Cập giết chết. Giành được chiến thắng, Caesar trở thành nhà độc tài của La Mã. Nhưng lo lắng trước việc Caesar có nhiều quyền lực, Viện Nguyên lão đã bày mưu mai phục và giết chết Caesar ngày 15 tháng 3 năm 44 TCN.
Những người thân cận với Caesar, bao gồm người thừa kế Octavian, chính trị gia Lepidus và tướng quân Marcus Antonius đã thành lập nên tam đầu chế thứ hai để thanh trừng những kẻ đã giết ông. Dẫu vậy, tương tự như những người tiền nhiệm, họ vẫn lâm vào cảnh nội chiến với nhau, dẫn đến kết cục cuối cùng là Octavian, người thừa kế của Caesar đánh bại cả hai đối thủ, trở thành Hoàng đế La Mã đầu tiên - Hoàng đế Augustus. Tất nhiên, Octavian không tự nhận là vua, mà chỉ tự xưng là Imperator, tức là người cai trị. Octavian cũng tự coi bản thân là người đã khôi phục nền cộng hòa, dù trên thực tế La Mã đã chuyển sang thời kỳ mới - thời kỳ Đế chế La Mã của các Hoàng đế. Tất nhiên, bề ngoài họ vẫn tự xưng là nền Cộng hòa, và các Hoàng đế luôn tuyên bố bản thân là một công dân và là người phục vụ của nền Cộng hòa.
Augustus - Hoàng đế vĩ đại nhất La Mã
Augustus - Hoàng đế vĩ đại nhất La Mã
Kể từ khi Augustus trở thành Hoàng đế đầu tiên vào năm 27 TCN, thì khoảng 200 năm tiếp theo là thời kỳ Đế chế La Mã phát triển cực thịnh. Về sau thời kỳ này còn được gọi là giai đoạn Pax Romana, tức Thái bình La Mã. Dù trong giai đoạn này có một số thời điểm xảy ra bạo loạn hoặc có những Hoàng đế kém cỏi và tàn bạo (ví dụ như Caligula hay Nero), nhưng nhìn chung đều không để lại hậu quả dài lâu. Đế chế dần bành trướng, tuy không quá nhiều và lãnh thổ đạt đến diện tích cực đại vào đầu thế kỷ 2.
Đa số các Hoàng đế sau thời Augustus đều giữ vững nguyên tắc hạn chế mở rộng lãnh thổ đế chế mà tập trung giữ yên ổn bên trong biên giới và đáp trả những thế lực muốn xâm lấn. Dù trong giai đoạn này, Đế chế cũng mở những chiến dịch chiếm đảo Anh, một số khu vực quanh Biển Đen và vùng Balkan, thậm chí là chiếm cả vùng Lưỡng Hà dưới thời Hoàng đế Trajan; nhưng xu thế chung vẫn là hạn chế bành trướng quá nhiều. Nguyên nhân quan trọng nhất đến từ sự thiếu thốn tài nguyên và các giá trị của các vùng đất chiếm được. Ví dụ như ở khu vực các bộ tộc Germanic, Đế chế La Mã đã chịu tổn thất lớn khi 3 quân đoàn bị tiêu diệt trong trận rừng Teutoburg; dù sau đó họ lập tức phản công và giành được nhiều thắng lợi lớn, nhưng cuối cùng vẫn từ bỏ vùng đất này vì không thu được nhiều lợi ích.
Giai đoạn Pax Romana còn đem đến một thời kỳ hoàng kim về giao thương. Từ lục địa Âu sang Á, các tuyến đường giao thương chạm đến các vùng đất xa xôi ở phương Đông, đem về cho Đế chế những khoản lợi nhuận khổng lồ.
Tuy nhiên, sau cái chết của Hoàng đế Marcus Aurelius năm 180, Đế chế bắt đầu suy yếu dần. Sau khi Marcus Aurelius qua đời, con trai ông là Commodus kế vị. Là một Hoàng đế kém cỏi, Commodus nhanh chóng đẩy La Mã vào cảnh rối loạn; cuối cùng dẫn đến việc Commodus bị ám sát trong bồn tắm vào năm 192. Ngay sau cái chết của Commodus là một giai đoạn nội chiến ngắn, khi có đến 5 người lần lượt xưng làm Hoàng đế. Cuối cùng, người chiến thắng là Septimius Severus, đem lại một giai đoạn ổn định ngắn ngủi, trước khi Đế chế rơi vào một quãng thời gian suy yếu dài, về sau được gọi là “Cuộc khủng hoảng thế kỷ thứ 3”.
Bệnh tật, ngoại xâm, nội chiến và các cuộc đảo chính hoành hành khắp đế chế trong giai đoạn này. Mối đe dọa thường trực của các bộ tộc du mục phương bắc cũng là bài toán nan giải với một Đế chế La Mã đang trên đà suy yếu. Ở phía đông, những thế lực mới nổi là các Đế chế Sassanid và Đế chế Parthia cũng đe dọa biên giới của La Mã. Thậm chí vào năm 260, Hoàng đế Valerianus thua trận còn bị Đế chế Sassanid bắt sống - một thất bại nhục nhã chưa từng thấy của La Mã.
Sau khi Valerianus bị bắt, người kế vị ông là Hoàng đế Gallienus đã tìm mọi cách để ngăn đế chế sụp đổ. Ông giao trách nhiệm phòng tuyến vùng sông Rhine lại cho Postumus, Thống đốc vùng Gaul. Nhưng lợi dụng cơ hội này, Postumus ly khai và tuyên bố thành lập Đế chế Gallia, tự xưng Hoàng đế. Chưa hết, tại phương đông, Odaenathus xứ Palmyra tiến hành phản công lại dân Sassanid và bắt đầu biến lãnh địa của ông thành 1 vùng riêng biệt. Sau cái chết của ông, vợ ông là Zenobia đã trở thành người cai trị thực tế của vùng đất quanh Palmyra thay con trai nhỏ tuổi. Cũng tương tự Postumus, Zenobia thành lập Đế chế Palmyra, cũng ly khai khỏi Đế chế La Mã và tiến chiếm nhiều vùng đất như Ai Cập, Syria, một vùng Tiểu Á và Antioch ở phía bắc.
Mọi chuyện có khởi sắc hơn khi Hoàng đế Aurelian lên ngôi năm 270. Ông đánh bại và chinh phạt Đế chế Palmyra năm 273, tái chiếm các tỉnh phía đông và cứu Đế chế khỏi cảnh cát cứ. Đến năm 275, ông tiếp tục đánh bại Đế chế Gallia và thống nhất toàn bộ lãnh thổ cũ của Đế chế La Mã. Nhưng ngay trong năm đó, Aurelian bị ám sát.
Hoàng đế Diocletian
Hoàng đế Diocletian
Phải đến năm 284, Đế chế La Mã mới thực sự có dấu hiệu hồi phục sau khi Hoàng đế Diocletian lên ngôi. Ông nhận thấy rằng Đế chế La Mã quá lớn và có quá nhiều áp lực từ bên trong lẫn các mối đe dọa từ bên ngoài, chỉ một vị hoàng đế thì khó lòng cai trị được. Do đó, ông chia Đế chế ra làm hai nửa Đông và Tây (với ranh giới ở vùng Đông Italia). Hai bên sẽ có hai vị hoàng đế ngang quyền nhau cùng mang Đế hiệu. Sự phân chia này là tiền thân của Đế chế Tây La Mã và Đế chế Đông La Mã về sau. Đến năm 293, quyền lực tiếp tục được phân nhỏ hơn nữa với sự ra đời của chế độ “Tứ đầu chế”.
Tuy nhiên, chế độ này chỉ hoạt động trơn tru nếu các Hoàng đế thân thiết và tin tưởng lẫn nhau. “Tứ đầu chế” sụp đổ khi Hoàng đế Constantine lên ngôi năm 305. Ông là Hoàng đế đầu tiên cải đạo sang Cơ đốc giáo và chấm dứt việc thảm sát các tín đồ Cơ đốc giáo trong Đế chế. Constantine cũng là người cho xây dựng một thành phố mới làm kinh đô của Đế chế là Nova Roma (nghĩa là Tân La Mã). Sau khi Constantine qua đời, thành phố được đổi tên lại thành Constantinople để vinh danh ông.
Hoàng đế Constantine - người đã đảm bảo cho phần đông của đế chế có thể duy trì thêm được cả ngàn năm nữa
Hoàng đế Constantine - người đã đảm bảo cho phần đông của đế chế có thể duy trì thêm được cả ngàn năm nữa
Bước ngoặt xảy đến năm 395, khi Hoàng đế Theodosius qua đời. Ông là người đã biến Cơ đốc giáo thành tôn giáo chính thức của Đế chế, đồng thời cũng là người đã quyết định chia nửa Đế chế cho hai con trai mình. Sau cái chết của Theodosius, Đế chế La Mã chính thức tách hẳn thành hai thực thể chính trị riêng biệt, với hai Hoàng đế có triều đình riêng và không còn ảnh hưởng thực tế đến nhau nữa.
Đế chế Tây La Mã liên tục bị các bộ tộc du mục quấy rối, mà tai họa và đáng sợ nhất chính là những cuộc tấn công liên tục của Attila Rợ Hung, kéo dài mãi đến tận năm 453 khi Attila chết. Thế kỷ 5 cũng đánh dấu việc các tộc người German dần di cư vào Đế chế Tây La Mã và từng bước kiểm soát quyền lực, biến các Hoàng đế thành bù nhìn. Cuối cùng, Đế chế Tây La Mã chính thức sụp đổ năm 476, khi thủ lĩnh người German là Odoacer ép Hoàng đế Romulus Augustulus thoái vị, chính thức mở ra thời đại mới của Châu Âu - thời đại mông cổ.
Đế chế Đông La Mã vào năm 555 AD
Đế chế Đông La Mã vào năm 555 AD
Đế chế Đông La Mã vẫn còn kéo dài được thêm hơn 1000 năm nữa, từng có nhiều thời điểm hùng mạnh trở lại, nhưng không kéo dài được quá lâu và chưa bao giờ có đủ khả năng chiếm lại toàn bộ các vùng lãnh thổ cũ ở phía Tây. Với việc liên tục phải đối phó với các Đế chế Hồi giáo hùng mạnh, Đông La Mã cũng dần dần suy yếu và cuối cùng sụp đổ hoàn toàn khi kinh đô Constantinople bị Đế chế Ottoman chiếm được ngày 29 tháng 5 năm 1453. Hoàng đế cuối cùng của Đế chế Đông La Mã là Constantine XI mất tích và được cho là chết trong loạn quân, chính thức cáo chung lịch sử kéo dài hơn 2000 năm của La Mã từ khi còn là một vương quốc nhỏ bé trên bán đảo Italia đến đế chế hùng mạnh nhất Địa Trung Hải, và cuối cùng biến mất hoàn toàn.
Tuy đã sụp đổ, nhưng ảnh hưởng của Đế chế La Mã vẫn còn rất sâu rộng, và không thiếu những thực thể chính trị luôn tự xưng là hậu duệ của Đế chế La Mã, mà nổi bật nhất chính là Thánh chế La Mã, hoặc chính bản thân Đế chế Ottoman. Tuy nhiên, Đế chế La Mã nguyên gốc, đã chính thức sụp đổ. Một thời kỳ mới đã bắt đầu, với tinh thần La Mã bao trùm khắp thời đại đấy.
<i>Người La Mã trong sự suy đồi của họ </i>
Người La Mã trong sự suy đồi của họ