Minh triết với chả triết học: Một phê bình với tệ sùng bái minh triết vị Tàu
Bài này để phản biện lại một video của ... tuy cung cấp các dữ kiện về sự hình thành thuật ngữ minh triết và triết học nhưng lại xuyên tạc đưa ra những nhận định trái ngược với thái độ đương thời của các dữ kiện đó
Khi người Bồ Đào Nha đến Nhật Bản vào thế kỷ XVI, người Nhật gọi họ là nanban, nghĩa là “những kẻ man di từ phương Nam”. Tầng lớp samurai cấp tiến xem “người phương Tây” và “người man di” là cùng một nghĩa. Ở đâu đó phương Bắc, có một quốc gia khác cũng tự gọi mình là “Trung Quốc”, tự coi mình là nền văn hóa vượt trội hơn mọi nền văn hóa khác. Hoàng đế Càn Long từng viết cho vua George III một cách cay nghiệt vào năm 1792:
“Thiên triều của bọn ta sở hữu tất cả mọi thứ một cách dồi dào và không thiếu thứ gì trong biên giới cả. Do đó, không cần thiết phải nhập khẩu hàng hóa của đám man rợ (barbarians) ở ngoài để đổi lấy sản phẩm của nước ta. Hơn nữa, triều đại ta, đang thống trị vô số dân tộc trên thế giới, cũng mở rộng lòng nhân từ như nhau đối với tất cả. Nước Anh của ngài không phải là quốc gia duy nhất buôn bán ở Quảng Châu… Ta không bỏ qua sự thiếu hiểu biết [có thể bào chữa] của ngài về việc lợi dụng Thiên triều của bọn ta.”
Nhưng người Nhật đã sớm nhận ra tính thực dụng trong tri thức phương Tây. Họ cấm du nhập Ki-tô giáo, nhưng cho phép nhập khẩu mọi loại sách khác. Dù lệnh bế quan tỏa cảng vẫn còn nghiêm ngặt, lĩnh vực mà người Nhật tập trung nhất chính là y học. Watabena Kazan (1793–1841), một thành viên của nhóm học giả nghiên cứu phương Tây tự gọi mình là “Hội những kẻ mông muội” cho thấy sự khiêm tốn vốn có của người Nhật, thứ mà người Việt hễ nhìn vào lại cho rằng "tự ti" "tự nhục". Khi người Nhật nhìn thấy những con tàu của Thiếu tướng hải quân Matthew Perry, họ hỏi:
“Làm sao những kẻ man di có thể chế tạo tàu chạy bằng hơi nước và vũ khí vượt trội hơn nhiều so với tàu và vũ khí của người Nhật? Nền khoa học phương Tây đã làm thế nào có thể nắm bắt được những nguyên lý của tự nhiên vốn chưa từng được biết đến tại Trung Hoa?”
Sau khi Trung Hoa thất bại trong cuộc Chiến tranh Nha phiến, chính quyền Mạc phủ Tokugawa buộc phải từ bỏ chính sách bế quan tỏa cảng kéo dài hàng trăm năm. Các nho sĩ Nhật Bản tuy công nhận nền khoa học tiên tiến của phương Tây, nhưng vẫn cho rằng tri thức đích thực nằm ở đạo đức và triết học. Sakuma Shozan (1811–1864) tin rằng lời dạy của Nho giáo vẫn là ưu việt hơn cả. Phương Tây, trong mắt họ, tuy đã “ít man di hơn”, nhưng vẫn còn “man di” lắm — thể hiện rõ qua cách người Nhật mỉa mai chữ viết phương Tây:
“[Chữ cái của phương Tây] dễ bị nhầm lẫn và không đều đặn, uốn éo như những con rắn hay những con ấu trùng muỗi. Những chữ thẳng trông hệt răng chó, những chữ tròn trông như con giun. Những chữ cong queo như chân trước của bọ ngựa, những chữ cái như những đường nhớt do ốc sên để lại. Chúng trông giống như những chiếc xương khô, những hộp sọ đang phân hủy, hoặc như bụng thối của các con rắn chết, hay như những xác chết đã khô héo.”
Có vị học giả cho rằng: thời kỳ Khai sáng phương Tây — đặc biệt là ở Đức — cho thấy triết học phương Tây vốn rất thiên lệch: nó chấp nhận cái này, loại trừ cái khác. Tôi không nghĩ đây chỉ là quan điểm chủ quan của tiến sĩ mà lại một tự sự được dựng lên bởi nhiều học giả khác với quan niệm đậm tính chất mà tôi gọi là vị Trung, bởi ngay trong cuốn Minh triết dưới đây, triết học phương Tây cũng được mô tả là “chứa nhiều lệch lạc”.
Ban đầu, “philosophy” từng được dịch là “ái tri” — một chi tiết thú vị. Theo Gen Kida trong Phản triết học nhập môn, bản thân các triết gia Nhật Bản đã sai lầm trong cung cách hành triết. Họ đã hành triết với một thái độ khoa học. Đó mới thực sự là lí do tại sao họ Nhật Bản nói riêng và Trung Quốc nói chung không có nền triết học. Sau khi dịch philosophy là “ái tri” nghe có vẻ không thuận miệng lắm với ngôn ngữ đời thường. Nishi Amane dịch philosophy là “hy triết học/希 哲 學” bằng cách vay mượn thuyết “sĩ hy hiền/士 希 賢” trong tác phẩm Thông thư. Nhưng Nishi Amane sau khi từ Hà Lan về nước thì lại đổi thành “triết học”. Gen Kida cho rằng Nishi Amane chắc hẳn đã chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng của Hegel khi trong lời tựa cuốn Hiện tượng học tinh thần, ông viết:
“Cuối cùng, triết học có thể bỏ đi tên gọi “yêu thương trí tuệ”, và nhờ sự hỗ trợ của tên gọi này, nó tiếp cận được và trở thành tiêu chí của tri thức hiện thực.”
“Wissenschaft” là hệ thống tri thức mà Hegel ủng hộ thay vì “nhu cầu theo đuổi tri thức” của Hy Lạp nữa. Và Gen Kida cũng cho rằng, Nhật Bản vốn dĩ đã không có triết học và không hiểu triết học là gì cho nên đừng cố hiểu hay tỏ ra mình hiểu làm gì. Đây có thể chính là thái độ của Sakuma Shozan và Fukuzawa Yukichi. Trong suốt thời Duy tân Minh Trị, các khẩu hiệu như “đạo đức phương Đông, kỹ thuật phương Tây” hay “tâm hồn Nhật Bản, học thuật phương Tây” cho thấy họ xem đó là một sự dung hòa, cải cách từ nền học thuật Trung Hoa sang “linh hồn Nhật Bản”.
Công việc phiên dịch được coi trọng đặc biệt. Nhật Bản khi đó bị kẹt giữa hai áp lực: tầng lớp bảo thủ dân tộc của chính quyền Tokugawa và “đám quỷ da trắng phương Tây”. Fukuzawa gọi chính quyền Mạc phủ là hẹp hòi trong tư tưởng, khi bản dịch của ông về khái niệm “cạnh tranh” bị kiểm duyệt vì trái ngược với tinh thần “hài hòa” của phương Đông. Ngày nay, cạnh tranh trong kinh tế là điều hiển nhiên — một quy luật tự nhiên. Nhưng trước kia, nó bị xem là biểu hiện của “đạo đức con buôn”, đầy miệt thị.
Ở Việt Nam, không hiểu vì lý do gì, người ta lại tự phân biệt giữa “Minh triết phương Đông” và “Triết học phương Tây”. Có lẽ điều này phần nhiều chịu ảnh hưởng từ các nhà tư tưởng như Kim Định hay Nguyên Ngọc — những người, theo quan điểm cá nhân tôi, đã hiểu sai thời kỳ Khai minh của Nhật Bản cũng như Gen Kida bảo người Nhật hiểu sai bản chất của triết học, hoặc ít nhất thái độ của họ khi tiếp cận triết học đã không đúng ngay từ đầu.Lấy ví dụ, trong Minh triết, có đoạn trích tác giả Kim Định viết trong Những dị biệt giữa hai nền triết lý Đông Tây:
“Lấy cứu cánh con người làm trọng tâm suy nghĩ, lấy sự thực hiện đến rốt ráo cái tính bản nhiên con người làm mục tiêu (tận kỳ tính).”
Nhưng tác giả Kim Định có lẽ chưa bao giờ đọc Nicomachean Ethics của Aristotle, hay hiểu rõ quan điểm triết học Hy Lạp cổ về eudaimonia — một cuộc đời đức hạnh, được mong muốn “chỉ vì chính nó”. Ngay cả Kant cũng nhấn mạnh rằng con người là “mục đích tự thân”. Không có gì lạ khi các vị học giả xưa hiếm khi nhắc tới Aristotle hay Kant, bởi họ không tiếp cận được các bản dịch tiếng Nhật đương thời.Một điểm đáng chú ý mà vị học giả kia không nói đến là: người Nhật lúc ấy rất quan tâm đến kinh tế và chính trị. Fukuzawa, trong tác phẩm đầu tay, đã chọn dịch một cuốn kinh tế chính trị học của Anh, trong đó ông giới thiệu Locke, Rousseau, Montesquieu, Smith,… Nishi Amane — như tiến sĩ có nhắc — còn đặt tên cho một tác phẩm logic học phương Tây là Trí tri khải mông, tin rằng đây là nền tảng giúp người Nhật tiếp cận tri thức phương Tây. Lại bàn về Yuikichi Fukuzawa, nếu ai đã đọc về Khuyến học của ông, ông chịu ảnh hưởng bởi đạo đức học Aristotle nên đã có những bình luận sâu sắc về các điểm tương đồng giữa đạo đức phương Tây và phương Đông, và cũng chỉ trích rất sâu cay về các ví dụ cực đoan của đạo đức Nho giáo. Khi nói về lý tính/lý trí cũng cần phải biết rằng tại sao người Nhật lại có khái niệm khiêm tốn tự nhận mình là một kẻ mông muội nhưng lại có thể phát triển thần tốc như vậy. Bởi lẽ theo thuyết về các nền văn minh mà Fukuzawa tiếp thu từ Anh Quốc, tất cả các nền văn hóa đều phải trải qua ít nhất 3 giai đoạn: man di, bán khai, và văn minh-khai sáng. Ông lúc đó tự xếp Nhật Bản, Trung Quốc vào bán khai và lấy phương Tây làm chuẩn. Chuẩn ở đây chẳng phải vị Âu hay tự ti gì cả. Mà theo đó, Nhật Bản có thể phát triển thành văn minh khai sáng như phương Tây. Những đặc điểm của nền văn minh khai sáng có những giá trị nhân văn mà Fukuzawa rất ngưỡng mộ như: xem phụ nữ là bạn đồng hành, bình đẳng, tôn trọng các quyền tự do cá nhân, có nền thương mai khoa học tiên tiến,... Và điều này là không thể có dưới chế độ chuyên chế phương Đông nên Fukuzawa mới kêu gọi Tây phương hóa thông qua bài diễn thuyết nổi tiếng tên là Thoát Á luận.
Khái niệm “triết học không hề trung tính” mà vị học giả nêu ra, nếu hiểu rộng hơn, có thể bao gồm cả Nhật Bản lẫn Trung Hoa — hai quốc gia vốn theo chủ nghĩa biệt lệ, vị phương Đông (Sinocentrism). Đối lập với họ là các quốc gia phương Tây, theo quan niệm vị Âu (Eurocentrism). Tuy nhiên, cách diễn giải của tiến sĩ lại dường như chỉ nhắm vào “vị Âu”. Chẳng hạn, theo Nam Phong của Phạm Quỳnh, “ông tổ của triết học” là Descartes. Nhưng trong lịch sử triết học phương Tây, Descartes chỉ là ông tổ của triết học hiện đại, không phải của toàn bộ triết học.Hơn nữa, vị học giả đã bỏ qua sự khác biệt quan trọng: Nhật Bản chịu ảnh hưởng từ Hà Lan và Anh, còn Việt Nam chịu ảnh hưởng từ Pháp. Ngay cả trong cách tiếp cận tri thức, Anh và Pháp cũng không đại diện cho cùng một “tư tưởng vị Âu” như tiến sĩ ám chỉ.
Chưa kể, trong Minh triết, tác giả Phạm Việt Hưng cho rằng triết học phương Tây là nhị nguyên luận (dualism), còn triết học phương Đông là nhất nguyên luận (monism). Cách phân biệt này chịu ảnh hưởng nặng nề từ tư tưởng của triết gia Pháp François Jullien, và là một sự hiểu sai. Sai ở chỗ, “nhị nguyên luận” ở đây chỉ để nói về mối quan hệ chủ thể–khách thể mà bỏ qua vấn đề thân–tâm. Bỏ qua nhiều câu hỏi lớn trong triết học phương Tây, kể cả những câu hỏi chung mà Đông-Tây đều chia sẻ. Ngay cả trong triết học Hy Lạp cổ, quan điểm “nhất thể” đã xuất hiện: linh hồn mới là cái có thật, còn thân xác là cái giả. Hơn nữa, phương Tây có vô số góc nhìn khác nhau — và đúng là phần lớn đều có tính nhị nguyên — nhưng chính cách nhìn “nhị nguyên–nhất nguyên” đó cũng đã mang tính nhị nguyên rồi. Gen Kida cũng chỉ trích tự sự trên của Nhật Bản khi cho rằng phương Tây là đề cao lý tính, đề cao vấn đề chủ thể-khách thể, khoa học trong khi đó nếu tìm hiểu các triết gia khác như Nietzsche hay các triết gia theo phái Lãng mạn duy cảm thì rõ ràng các phe khác cũng chống “phong trào phê phán và lật đổ lý tính siêu nhiên” không khác gì Nhật Bản đang làm và hiện tại Việt Nam nối gót. Gen Kida cảm thấy xấu hổ khi nói lên sự thật rằng người Nhật đã lừa dối chính mình khi bản thân họ muốn tìm ra điểm khác biệt giữa triết học Đông-Tây. Vị học giả kia cũng như bao vị học giả trong quyển Minh triết thì có thái độ ngược lại với Gen Kida lại lần nữa nối gót Nhật Bản lừa dối bản thân khi tin rằng phương Tây truyền bá tri thức là để chinh phục, thuộc địa.
Vì thế vị học giả kết luận một cách “xanh rờn” từ việc Phạm Quỳnh xem Descartes là ông tổ triết học:
“Khi chúng ta nói về sự phát triển của lịch sử thực dân, ta thấy rõ rằng sự lan tỏa của triết học, từ Tây sang Đông, không hề trung tính. Nó đi kèm với việc truy tìm thuộc địa. Nó không còn đi tìm tri thức nữa mà mở rộng thuộc địa và phát triển mẫu quốc. Với tinh thần đó, người châu Âu mang triết học của họ đến những vùng đất thuộc địa để cho thấy tính ưu việt trong tư duy của họ.”
Nhưng điều này hoàn toàn chủ quan. Như đã nói, nếu xét trường hợp Nhật Bản, khi y học Hà Lan đối diện với y học Nhật Bản — Đông y đối đầu với Tây y — thì đó là hai hệ thống tri thức khác nhau, vốn hiếm khi liên quan đến đạo đức hay triết học, chứ đừng nói đến việc phương Tây “truyền bá” chúng. Người Nhật, trái lại, với tinh thần ham học hỏi, khi thấy nền văn minh vật chất của phương Tây vượt trội, đã cố gắng nắm bắt tinh thần khoa học của họ. Nhưng đó là họ nắm bắt khoa học, chứ triết học thì họ tiếp cận vẫn nặng tính vị Trung.
Phàm thứ gì hiện đại có, thời cổ đều đã có: bom nguyên tử có, tia bức xạ có, máy bay đại bác có, ô tô có, dân chủ có, chính trị cộng hòa có, chém giết có, tiêu chảy có, vệ tinh có, gà trống đẻ trứng có, tụt quần đánh rắm có,… cứ biết là cái gì cũng ‘cố dĩ hữu chi
Bàn thêm về từ “minh triết”, các học giả Việt Nam lí giải từ “minh triết” vốn xuất phát từ một câu trong Kinh thi “Ký minh thả triết, dĩ bảo kỳ thân”. Nhiều người chú giải bảo rằng đó là vừa sáng suốt vừa đúng đắn thì tự bảo vệ thân mình, dần dần câu đó được rút gọn thành “minh triết bảo thân”. Có học giả cho rằng hiểu “minh triết bảo thân” là cách hiểu nông cạn, hạn hẹp, phải hiểu với bối cảnh lịch sử, ngữ cảnh câu đó. Đối với học giả đó, minh triết bảo thân là một dạng thương dân, hiểu tình đạt lý, khôn ngoan, giữ gìn vận mệnh của chính mình. Trong khi ở Yến hội của Plato, ông định nghĩa yêu cái gì đó là không sở hữu thứ đó, nên ta mới ham muốn nó. Vậy philo-sophia, tức tình yêu minh triết vốn có nghĩa là người đó không sở hữu minh triết vậy thì họ là người vô tri, vậy nên họ mới yêu triết học. Ta còn có động từ philosophein nghĩa là tìm kiếm tri thức. Vậy đối người phương Đông, họ đã tin rằng mình đã sở hữu tri thức, minh triết nên chả cần tìm làm gì. Nói như trong Người Trung Quốc xấu lậu của Bách Dương: “Phàm thứ gì hiện đại có, thời cổ đều đã có: bom nguyên tử có, tia bức xạ có, máy bay đại bác có, ô tô có, dân chủ có, chính trị cộng hòa có, chém giết có, tiêu chảy có, vệ tinh có, gà trống đẻ trứng có, tụt quần đánh rắm có,… cứ biết là cái gì cũng ‘cố dĩ hữu chi”(đã có từ thời xưa). Còn phương Tây khiêm tốn hơn nói rằng: Tôi biết rằng tôi không biết hoặc với kiểu đá đểu Socratic thì có lẽ muốn nói rằng có nhiều người chẳng biết cái thá gì mà cứ rêu rao mình biết nhiều.
Đấy là chưa nói về việc các học giả Việt Nam dịch lương tri là pure raison, hoặc xem "self-preservation"(bảo thân) là cái gì đó quan hệ với quyền lực. Trong khi self-preservation được các triết gia phương Tây xem là một quyền tự nhiên bất khả chuyển nhượng của con người, là quyền được sống, là quyền của người vô tri hay trí tri. Vậy ai mới là người đem minh triết để bảo thân trước quyền lực chứ không phải như Socrates, thực hành quyền tự do ngôn luận của mình(Parrhesia) truy tìm minh triết kể cả thứ phải đánh đổi là mạng sống của mình. Can đảm để theo đuổi chân lý là một đức hạnh của Hy Lạp, một cách người Hy Lạp thực hành triết lý của họ chứ không phải cứ hễ hợp lòng dân, được mọi người yêu quý, thế là minh triết. Người Hy Lạp có từ chỉ hạng người dùng cung cách đó là Sophist.
Trớ trêu thay, ngày nay người Việt vẫn tin rằng “minh triết phương Đông” ưu việt hơn “triết học phương Tây”, và rằng cần phải “phục hưng” nó. Không khó để nhận ra, ở Việt Nam, phần lớn các nhà tư tưởng lại là thi sĩ hoặc nhà văn với ít nhiều đều có khuynh hướng lãng mạn. Mà lãng mạn thì lại bắt đầu trở về với cái mà phương Tây gọi là thời đại Vàng son, khi mà phương Tây chưa bị tha hóa bởi văn minh, khoa học và lý trí, trở về với cái tinh thần phản khai minh của Rousseau. Soloviev gọi thái độ này là sùng bái quá khứ, đậm đặc thuộc tính Tàu. Bách Dương trong Trung Quốc xấu lậu gọi đó là chứng "mê muội xác ma".
Cách đây hơn 200 năm, Fukuzawa đã sớm thấy rằng thi ca lãng mạn chỉ đóng vai trò thứ yếu trong phát triển tinh thần và Nhật Bản đã có rồi không cần tiếp thu từ phương Tây, khoa học và công nghệ mới là trọng yếu. Vì thế, khi dịch và giới thiệu các danh nhân thế giới, ông chỉ dịch các nhà khoa học, kỹ sư,… và lược bỏ toàn bộ các nhà văn phương Tây. Nếu ta thử áp dụng cách Fukuzawa quan niệm về “tri thức thực thụ”, đếm xem ở Việt Nam hiện nay có bao nhiêu đầu sách khoa học so với thi ca — có lẽ ta sẽ đánh giá được “nền minh triết” của dân tộc này và ngưng lừa dối mình nữa. Ta không cần sự phục hưng mà cần thời kỳ khai sáng. Khi nào người Việt mới dám biết và dám nói sự thật, đó mới là vấn đề.

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

