Chào các đọc giả thân yêu của tôi, vẫn là tôi LucDuc, thích ngồi "bốc phét" linh tinh đây.
Hôm nay đổi gió tí nhé. Tây Tàu Phim ảnh riết cũng chán này mình nhìn qua "Chữ Nghĩa" một xí
Và về tại sao có bài này thì tôi được tặng một cuốn sách với tôi thì nó là bảo vật trên con đường viết lách và bốc phét, chính là cuốn sách nhỏ mang cái tên khá là ngộ  
"Chữ xưa còn một chút này"
Tác Giả: Nguyễn Thuỳ Dung - NXB THẾ GIỚI
của tác giả Nguyễn Thùy Dung (người đứng sau dự án Ngày ngày viết chữ mà tui có gắn link bên dưới cho anh em lướt thử)
Trước khi lôi chữ ra chơi, tui kể cho các ông các bà nghe cái hoàn cảnh ra đời của cuốn sách này, nghe xong đảm bảo phải chép miệng trầm trồ vì cái sự "ngược đời" tinh quái của nó.
Các ông các bà thử nghĩ xem, sống ở cái thời đại 4.0, khi mà người ta mở miệng ra là "mix and match", "enjoy cái moment này", thì một cái fanpage chỉ chuyên lôi mấy gốc chữ Hán Việt cổ ra giải nghĩa... đố ai thèm đọc?
 Thế mà "ảo ma" thay, Page Ngày ngày viết chữ lại lẳng lặng thu hút hơn 73k lượt theo dõi! Hóa ra, người trẻ không hề thờ ơ hay chà đạp tiếng mẹ đẻ như mấy bậc cha chú hay nói.
Chúng ta thèm được hiểu đúng và đủ cái ngôn ngữ mình đang xài, chỉ là trước giờ tiếp cận nó khô quá thôi!
Thế là từ hàng ngàn bài viết chắt lọc trên mạng, tác giả đã "cô đặc" lại 100 mục từ tinh túy nhất để đúc thành cuốn sách này vào đầu năm 2021.
Báo chí lúc đó (như tờ Sài Gòn Giải Phóng hay Znews) còn phải rần rần đưa tin vì một cảnh tượng dị biệt:
Một buổi ra mắt sách toàn bàn chuyện chữ nghĩa ngọn ngành mà khán giả trẻ vây kín chật ních cả Đường sách Nguyễn Văn Bình! Điều đó chứng tỏ cái "hồn cốt" của tiếng Việt nó vẫn có một sức hút mãnh liệt lắm.

Hôm nay, tui sẽ đóng vai người đãi cát tìm vàng, lọc ra trong cuốn này các từ mà chúng ta xài hàng ngày nhưng lại hay nhầm lẫn nhất.
Bài này tôi không viết gì nhiều đâu chỉ là tôi lấy nguyên bảng bê y chang trong sách ra cho các ông các bà đọc thôi .
Để các ông các bà thấy chữ nghĩa của Việt Nam mình nó thâm sâu nhường nào, và nghệ thuật chơi chữ của các Cụ ngày xưa thực sự "out trình" ra sao nhé!

Mình sẽ bắt đầu với 2 từ mà mọi người thấy nhiều nhất trong phim ảnh "Anh Hùng" Và một từ hay được đặt tên cho con gái là "Anh Thơ"

ANH HÙNG (Trang 15)
英雄
"Anh" là hoa của cây, tức là phần đẹp đẽ nhất của các loài cây.
"Hùng" là con trống, con đực của các loài chim thú, là biểu tượng của sức mạnh. "Anh hùng" vốn là tinh hoa của cây cỏ chim thú, hay là tinh hoa của vạn vật, cho nên dùng để chỉ người xuất chúng.
ANH THƯ (Trang 17) 英雌 "Thư" là con mái, con cái của các loài chim thú, "thư" là đối lại của "hùng".
"Anh thư" nghĩa bóng dùng để chỉ người con gái xinh đẹp dũng cảm. Ngày nay, chữ "anh thư" chỉ thường xuất hiện trong tên các bạn nữ, còn để khen một cô gái là "anh thư" ta hay dùng chữ "nữ anh hùng" Chính chữ "thư" này và chữ "hùng" trong "anh hùng" tạo thành từ "thư hùng" mang ý nghĩa trống và mái, đực và cái, đặc biệt còn dùng để chỉ sự so sánh hơn thua, mạnh yếu, ("hùng" là phái mạnh, "thư" là phái yếu), như "một trận thư hùng".
Từ "thư hùng" này diễn Nôm thành "sống mái", "sống" là con đực, con trống (vẫn còn dùng trong từ "gà sống" chỉ gà trống), ta vẫn quen dùng một trận sống mái, sống mái một phen.
Từ này hay xuất hiện trong mấy bộ phim Tàu mà các bạn hay xem

"Ấu Trĩ"

ẤU TRĨ (Trang 21)
幼稚
"Ấu" là trẻ em, trẻ con, còn bé, còn nhỏ tuổi. "Nam phụ lão ấu" là đàn ông, đàn bà, người già và trẻ nhỏ - dùng để chỉ tất cả mọi người trong xã hội. "Trĩ" cũng là trẻ con, đồng thời còn là tính từ chỉ sự non nớt. Do đó, người ta dùng "ấu trĩ" để chỉ người có suy nghĩ giản đơn, non kinh nghiệm, thiếu thực tế. Ngày trước, ta có dùng
từ "ấu trĩ viên" để chỉ "vườn trẻ" - nơi sinh hoạt vui chơi của trẻ con.

Rốt cuộc là "Cổ Xúy" hay "Cổ Suý"

Và theo một cuộc khảo sát tại Page "Ngày ngày Viết Chữ" thì có đến 54% người chọn là "Cổ Xuý"
(Ê suy nghĩ chút xem nào bạn sẽ chọn gì khoan lướt xuống dưới nhé)
Là "Cổ Xuý" nhé
CỔ XÚY (Trang 232)
鼓吹
"Cổ xúy" vốn có nghĩa là "đánh trống thổi sáo", xưa dùng để chỉ đội đánh trống thổi sáo, cử hành các nghi trượng của vua nhà Hán trong các yến tiệc, các sự kiện trọng thế.
Sau này "cổ xúy" dùng theo nghĩa là hô hào, vận động, cổ vũ và cho một việc gì đó. Hiện nay, "cổ xúy" thường dùng khi phê phán việc hó hào, vận động chuyện gì đó xấu, như cổ xuý lối sống hưởng thụ.
Các bạn hay nghe nói "Động phòng hoa chúc" vậy
"Động Phòng" nghĩa là gì ?
ĐỘNG PHÒNG (Trang 63)
洞房
Chũ "động" ở đây có nghĩa là hang sâu, ta quen dùng là "hang động", không phải chữ "động " trong "hành động".
Do đó,
"động phòng" vốn có nghĩa là "phòng sâu kín", chỉ phòng của vợ chồng mới cưới. Dần đàn, "động phòng" mới được dùng để chỉ việc vợ chồng lần đầu làm chuyện chăn gối.
Truyện Kiều' của Nguyễn Du có câu:
"Động phòng dìu dặt chén mời / Bâng khuâng duyên mới ngậm ngùi tình xưa".
Trong sách không nói đến từ "Hoa Chúc" nhưng theo tôi tra được thì Hoa chúc (花燭): Cây đuốc hoặc nến có trang trí đẹp, thắp sáng trong phòng tân hôn.
Có một từ khá lạ nữa là thông thường mình sẽ nói là "Ngu Muội" hay "đầu óc ngu muội" đúng chứ. Tuy nhiên có một từ khá lạ và ít gặp đó là

Mông Muội

MÔNG MUỘI (Trang 99)
蒙昧
"Mông" là tối, bị che lấp. Chỗ mặt trời lặn gọi là "đại mông"
"Muội" là mờ mờ, tối tăm.
"Mông muội" ban đầu dùng để chỉ giai đoạn đầu xã hội nguyên thủy, khi đời sống con người còn nhiều u mê, như thời kỳ mông muội.
Về sau, "mông muội" còn dùng để chỉ sự ngu ngơ, khờ dại, như đầu óc mông muội, con người mông muội.
"Thuỷ chung" thì nghe nhiều và cũng được sử dụng rất nhiều trong văn viết và văn nói nhưng nghĩa của nói thì đỉnh thật sự
THỦY CHUNG (TRANG 141)
始終
"Thủy" là mới, đầu, sơ khai, ban đầu, như "khởi thủy" là lúc bắt đầu, thoạt tiên, "thủy tổ" là người sáng lập, người bắt đầu một dòng họ, hoặc một nghề nghiệp. "Chung" là hết, kết thúc, cuối cùng, suốt cho tới hết, như "vòng chung kết" là vòng thi cuối cùng,
"chung thân" là suốt đời...
"Thủy chung" (cũng thường được đảo trật tự thành "chung thủy") là từ đầu tới cuối, một đời, cả đời đều như vậy không thay đổi, thường dùng để chỉ những người, những tình cảm trước sau như một.
Truyện Kiều có câu:
"Đã lòng quân tử đa mang / Một lời vâng tạc đá vàng thuỷ chung"
AH mà quên nói quyển sách này bao gồm 2 phần Phần 1 : sẽ tập trung vào nguồn gốc các từ hay dùng Phần 2: sẽ đi vào các từ mờ nghĩa hay hiểu sai bản chất của từ
này mình sẽ chơi các chữ ở phần 2 nhé
Nãy giờ đọc chán rồi thì mình chơi game chính tả xem hehe

"Bêu Rếu" hay " Bêu Riếu"?

gợi ý là có 81% người chọn "Bêu Rếu" theo khảo sát với 13.035 lượt bình chọn trên page "Ngày ngày viết chữ"
Thú thật là lúc đọc thì tôi cũng là 81% người trên kia
BÊU RIẾU (Trang 232)
"Bêu" là nêu lên, đưa ra, bày ra cho mọi người đều trông thấy.
"Riếu" là cười cợt, chế nhạo. Chũ "riếu" có một âm nữa là "riểu" âm "riểu" này lại có một âm quen thuộc với chúng ta hơn là "giẻu" trong từ "giễu cợt", "chế giếu". "Bêu riếu" nghĩa là đưa ra, bày ra chuyện gì đó cho mọi người cùng biết, cùng thấy và cười cợt, chế nhạo chuyện ấy. Từ này thường bị dùng nhầm thành "bêu rếu"
"ĐÃ CÁI NƯ" ghê thật ra câu này có từ lâu , thật bất ngờ lúc đầu tưởng câu này chỉ hot mấy năm gần đây thôi, ai nhè...

ĐÃ CÁI NƯ (trang 169)

Việt Nam Tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức giảng "nư" "giận", "nói chưa đã nư" là nói chưa đã giận.
Còn Đại Nam Quấc âm tự vị của Huình Tịnh Paulus Của giảng "nư" là cơn giận, sức giận,
"đã nư" là "đã giận", "làm nư" là làm lẫy, làm cho đã giận.
Từ điển Từ ngũ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín giảng từ "nư" khá cụ thể, rằng:1. Nư là cơn giận, một khoảnh khắc bực bội, nóng nảy.
Ví dụ:
"Kệ nó, cứ để cho nó làm đã nư nó thì thôi chớ gì."
2. Tình trạng gây khó dễ, khó khăn cho ai đó. Ví dụ: đâu.
Ví dụ:
"Ông mà gặp bà chủ, bả làm nư là còn mệt nữa kìa, hổng dễ gì mà rút sớm được"
Có thể thấy, nghĩa thứ hai trong từ điển của Huỳnh Công Tín có
đôi chứt khác biệt so với các từ điển trước đó, "nư", "làm nư" hay "để cái nư" dường như đã không còn gói gọn trong "giận" hay "cơn giận".
Trong Harry Potter và Hon đá phù thủy của J. K. Rowling, bản dịch của Lý Lan (NXB Trẻ), đoạn lần đầu tiên Harry Potter gặp Draco Malfoy, Malfoy có nói một câu là:
"Tát nữa tao kéo ba má tao đi coi chổi đua. Thật không hiểu tại sao người ta lại không cho phép học sinh năm thú nhất có chổi thần. Tao tính làm nu với ba má tao để họ mua cho tao một cây rồi tao lén đem vô trường"
Cách dùng "làm nư" này khóp với nét nghĩa thứ hai mà Huỳnh Công Tín giảng."
Nói chung, "nư" vốn có nghĩa là cơn giận.
Ví dụ:
"mắng một trận cho đã nư"
cũng giống như mắng một trận cho hả giận. Nhưng ngày nay, "đã cái nư" được dùng với nghĩa rộng hơn, giống như vừa lòng hả dạ, đắc Ý, thỏa mãn, chẳng hạn khi nói "ăn cho đã cái nư" có nghĩa là ăn cho đã cơn thèm vậy thôi, không liên quan gì đến cón giận nữa.
Đó là mấy từ bản thân tôi thấy hay và nghĩa cũng hay , nãy giờ chán rồi mình chơi 3 bài chính tả kết là đẹp ha?
Đầu tiên suy nghĩ rồi hãy lướt xuống dưới nha
Bài 1: Xớn xác hay Sớn sác? Gợi ý là chỉ có 9% ngừoi chọn "Sớn Sác" trong 15.370 bình luận
238
238
Bài 2: Xạo Xự hay Xạo Sự Gợi ý là 13% chọn "Xạo Xự" trong tổng 8.536 bình luận
Bài 3: "Yên Chí" hay "Yên Trí"? gợi là có 60% người chọn là "Yên Chí" trong 16.241 bình chọn nha

Đáp áp đây:

SỚN SÁC (Trang 240)
Đại Nam Quác âm tự vị của Huình Tịnh Paulus Của giảng "sớn" có nghĩa là "mích đi, khờn đi"
"sớn sác" là từ lấy, có nghĩa là "mắt văng mắt vượt, không coi trước xem sau".
Về hai chữ "mích" "khờn" thì "mích" (hay "mếch") là sai lệch, thường nói "mích lòng" (mếch lòng), "xích mích". Còn "khờn" là hao, mòn, mẻ đi.
Từ điển Từ ngữ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín giảng "sớn sác" có hai nghĩa, một là "nhón nhác", hai là "vô ý, không chú tâm, cần thận nên dẫn tới sai sót", ví dụ: "đi són sác không nhìn ngó cần thận, để đụng đổ bể đồ người ta...".
Theo Huỳnh Công Tín, nghĩa gốc của từ "són" là "vô ý, không chú tâm nên để ra sai sót trong hành động, việc làm".
Cách giải thích này tương đương với cách giải thích "mích đi" của Huình Tịnh Paulus Của. Còn cái nghĩa "khờn đi" của Paulus Của thì Huỳnh Công Tín cho rằng đó là một chữ "són" khác
Từ này thì nó đặc biết hơn xí nhớ đọc nha
Từ này thì nó đặc biết hơn xí nhớ đọc nha

Xạo Xự (Trang 246)

Đại Nam Quấc âm tự vị của Huình Tịnh Paulus Của giải thích:
- Xạo: rộn ràng (rộn ràng này không có nghĩa là vui vẻ náo nhiệt, mà có nghĩa là chộn rộn, làm cho lao nhao, cho quá lên sự gì).
+ Xạo xự: rộn ràng, làm rộn.
+ Đừng xạo xự: đừng rộn ràng.
+ Nói xạo: nói cho rộn bộ, nói cho qua việc; nói cho lớn lối, mà không làm sự gì.
Từ điển Từ ngũ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín giải thích từ "xạo xự" có ba nghĩa:
(1) "Bịa đặt không đúng với thực tế, không đúng với tính chất sự việc", ví dụ: "Nó nói xạo xự không thôi chó làm gì có chuyện đớ".
(2) "Hay tham gia vào chuyện của người khác", ví dụ: "Con nhỏ xạo xự, có phải chuyện của mầy đầu mà mầy cũng tham gia vô".
(3) "Mách lẻo, nói cho người này biết chuyện riêng của người khác mà không cần thiết", ví dụ: "Cái thằng xạo xự, mắc mớ gì mày mà mầy đi nói chuyện đó với chị tao chớ"
Có thể thấy là, nghĩa thứ hai và thứ ba của từ "xạo xự" trong Từ điển Huỳnh Công Tín gần với cách giải thích của Paulus Của, đồng thời cũng gần với nghĩa của từ này chiếu theo cách dùng của Gia Định báo (tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên của nước ta) vào năm 1869 mà nhà nghiên cứu Sơn Nam đã dẫn lại trong tác phẩm Đồng bằng sông Cửu Long - Nét sinh hoạt xua và Văn minh miệt vườn.
Đây có thể là những nét nghĩa đầu tiên của từ "xạo xự". Còn nét nghĩa thứ nhất của "xạo xự" trong Từ điển Huỳnh Công Tín có thể là nét nghĩa mới hơn, về sau mới có.
Lại nói, trong các từ điển đã xét ở trên, không từ điển nào giải thích nghĩa của từ "xự". Duy có Đại Nam Quấc âm tự vị có mục "xự" nhưng không giải thích từ này, chỉ cho biết đây là từ Nôm và chỉ đi cùng "xạo xự". Có thể tạm hiểu "xạo xự" là từ láy - "xự" là yếu tố láy - vốn mang nghĩa chộn rộn, làm cho rộn bộ và một nét nghĩa mới hơn (nay thường dùng) là bịa đặt, không đúng thực tế.
Hiện nay, từ "xạo xự" hay dùng thành "xạo sự" với cách hiểu "bịa đặt, nói dối (xạo) một việc, một chuyện gì (sự)". Đây là một cách dùng mới và trở nên phổ biến dù chưa được ghi nhận chính thức trong các từ điển.
Đây cũng là từ có 2 cách hiểu và cả hai cách điều được chấp nhận
Đây cũng là từ có 2 cách hiểu và cả hai cách điều được chấp nhận

YÊN TRÍ (Trang 249)

Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên giảng "yên trí" là "cảm thấy không có điều gì phải lo ngại, lo nghĩ cả".  
Ví dụ: Cứ yên trí, đâu sẽ vào đấy; Yên trí rằng việc ấy đã có người lo rồi; Thi xong, yên trí thế nào cũng đỗ.
Từ "yên trí" với nghĩa như trên đôi khi vẫn bị dùng nhầm thành "yên chí". Về sự nhập nhằng giữa "trí""chí", không chỉ có "yên trí" và "yên chí" mà còn có "trí mạng" và "chí mạng". Theo đó, từ đúng vốn là "trí mạng", nghĩa là nguy hiểm đến tính mạng (như "đòn trí mạng" là một cú đánh, một pha đánh nguy hiểm cho tính mạng), nhưng bị dùng thành "chí mạng". Và vì bản thân từ "chí " cũng có nghĩa đến, tới, cực kỳ (như "chí tình", "chí hiếu"), nên từ "chí mạng" đã được chấp nhận.
Trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, từ "trí mạng" được giải thích, còn từ "chí mạng" được ghi nhận nhưng bảo là "xem trí mạng".
Như vậy, đối với từ "trí mạng" hay "chí mạng", chúng ta có thể dùng từ nào cũng được, đều đã được chấp nhận. Riêng từ "yên trí" hay "yên chỉ" thì có lẽ "yên trí" vẫn được xem là chuẩn hơn. "Trí" ở đây là "đầu óc", đầu óc mà không có gì phải lo nghĩ thì gọi là "yên trí".
Nói thêm một chút về cách dùng "yên chí" với nghĩa giữ vũng Ý chí, cứ đúng theo ý chí đó mà làm hay tương tự vậy. Thật ra, cách dùng này dù chưa được ghi nhận vào từ điển, nhưng cũng không thể vội vàng kết luận "yên chí" là sai. Chỉ xin lưu ý là, nếu ta dùng từ với nghĩa là "an tâm đi, không có gì phải lo lắng đâu" thì nhớ viết là "yên trí". Còn nếu muốn dùng "yên chí" theo kiểu "yên chí lớn" thì cứ dùng thôi. Dùng từ đúng nghĩa là được.
Đấy!Đấy!Đấy!
Trên đây là tất cả những từ mà tui cất công "đãi cát tìm vàng" ra được để chém gió với anh em. Toàn là những từ thông dụng đến mức chúng ta xài hàng ngày như một thói quen vô thức, quen đến mức hay viết sai chính tả, và quên luôn cả việc nó ẩn chứa một lớp nghĩa gốc cực kỳ hay ho và đẹp đẽ như thế.
Bốc phét nãy giờ, cũng phải dành một tràng pháo tay tri ân team "Ngày ngày viết chữ" và tác giả Nguyễn Thùy Dung vì đã dày công cày cuốc, gom góp và biên soạn ra cuốn Chữ xưa còn một chút này. Không có sự "nặng lòng với chữ" của họ, chắc anh em mình vẫn còn lú lẫn dài dài.
Ông bà nào tò mò muốn xem cái "Behind the scenes" về hành trình của Dung và team, về cái cách bả nhặt nhạnh từng con chữ, tích cóp "lương khô" mỗi trưa để làm nên dự án cực kỳ kiên nhẫn này, thì tui có lụm được bài phỏng vấn siêu hay trên Vietcetera đây.
Click vào đọc để thấy người ta làm nội dung có tâm cỡ nào nhé:
Nói dài nói dai thì cũng đến lúc phải hết. Cám ơn các ông các bà đã rảnh rỗi và đủ kiên nhẫn ngồi nghe tui lải nhải đến tận dòng này nhé!
Tui xin mượn tạm một câu ngay trong sách để kết lại toàn bộ bài bốc phét ngày hôm nay:
"Tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp" nếu biết dùng đúng và dùng trúng.