MỸ “XÃ HỘI CHỦ NGHĨA” HƠN VIỆT NAM? (CHƯƠNG I - II)
Hiện thực tột cùng của thế giới của chúng ta ngày nay là, một đoàn Hồng Quân hùng mạnh của xã hội cộng sản tương lai đang ngược dòng thời gian về thế giới của chúng ta và xâm chiếm lấy nó, báo hiệu cho chiến thắng cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản.

Hiện thực tột cùng của thế giới của chúng ta ngày nay là, một đoàn Hồng Quân hùng mạnh của xã hội cộng sản tương lai đang ngược dòng thời gian về thế giới của chúng ta và xâm chiếm lấy nó, báo hiệu cho chiến thắng cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản.
“Nền sản xuất không có kế hoạch cụ thể của xã hội tư bản chủ nghĩa sẽ bị khuất phục trước nền sản xuất có kế hoạch cụ thể của xã hội chủ nghĩa xâm lược.” - tức là sự xâm lược của chủ nghĩa cộng sản trong tương lai vào chủ nghĩa tư bản hiện tại.”- Friedrich Engels

CHƯƠNG I: NGHỊCH LÝ “MỸ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HƠN VIỆT NAM”?
1.1. Thế nào là “Chủ nghĩa xã hội”?
Nhận định “Mỹ xã hội chủ nghĩa hơn Việt Nam” có thể là một đòn đánh lớn đến trực giác chính trị của đa số mọi người. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu đây là một nhận định đúng?
Nhận định này, nếu đúng, sẽ phơi bày một lỗ hổng sâu sắc trong cách hiểu thông thường về chủ nghĩa xã hội. Thông thường, chủ nghĩa xã hội chỉ đơn giản được hiểu là một tập hợp các mệnh đề về (1) đạo đức về sự công bằng, tình thương giữa người và người, sự phản kháng đối với tư bản, hay (2) là một trạng thái đạt tới được qua chỉ số kỹ thuật và mức sống, đi kèm với các thủ tục và hình thái chính trị cố định (như chuyên chính vô sản). Nếu hiểu theo cách này, chúng ta sẽ khó nhận ra các đặc điểm đã mang tính chất xã hội chủ nghĩa trong các trường hợp mà lý luận xã hội chủ nghĩa cổ điển không trực tiếp dự đoán và nhắc đến. Đồng thời, chúng ta cũng sẽ khó nhìn nhận trực tiếp những hiện tượng này trong bối cảnh của tiến trình phát triển lịch sử. Do đó, ta sẽ không xác định được tiềm năng cũng như hạn chế của thứ chủ nghĩa xã hội đang tồn tại nội tại; điều này cản trở việc hiện thực hóa các phần còn lại của chủ nghĩa xã hội trong tương lai, cũng như làm phức tạp hóa khả năng định vị các hiện diện khác nhau của chủ nghĩa xã hội trên thực tế với nhau và trong tiến trình lịch sử.
Về bản chất, chủ nghĩa xã hội là:
1. Hệ quả của sự vận động khách quan của phương thức sản xuất qua lịch sử, được hiện thực hóa trong mối quan hệ và sự tương tác qua lại giữa (1) lực lượng sản xuất, (2) quan hệ sản xuất và (3) kiến trúc thượng tầng.
2. Chính sự vận động khách quan đó (chủ nghĩa xã hội như sự vận động thực tế - real movement). Như Marx và Engels đã xác lập: “Chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải thiết lập, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải tự điều chỉnh cho phù hợp. Chúng tôi gọi chủ nghĩa cộng sản là phong trào hiện thực, phong trào thủ tiêu trạng thái hiện tại.”[1]
3. Sản xuất với mục đích xã hội thay vì mục đích tích lũy tư bản. Tư tưởng này có nguồn gốc từ truyền thống tiền Marx, khi Aristotle đã phân biệt giữa “kinh tế” (oikonomia – sản xuất để đáp ứng nhu cầu cộng đồng) và “kiếm lợi” (chrematistics – tích lũy vô hạn vì tích lũy). Marx sau đó đã kế thừa và nâng lên thành quy luật lịch sử: “Mục đích trực tiếp của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là tạo ra hàng hóa, mà là tạo ra giá trị thặng dư.”[2]
Do vậy, việc đánh giá một hình thái xã hội có mang tính chất xã hội chủ nghĩa hay không không nên bị hạn chế ở những tiêu chuẩn đạo đức và yêu cầu thuần túy về thủ tục nhà nước, mà phải được xem xét qua hiện thực vật chất của tiềm năng sản xuất và trạng thái chính trị đang che đậy (làm chậm hoặc gia tăng) sự hiện thực hóa tiềm năng đó, qua đó xem xét được tiềm năng cũng như hạn chế của các hình thái xã hội hiện tại.
Vì thế, bài viết muốn đưa ra một luận điểm trung tâm rằng: nước Mỹ hiện tại đã mang trong mình những tiền đề khách quan về phương thức sản xuất và khả năng của cơ chế phân phối, sẵn sàng cho chủ nghĩa xã hội, tuy nhiên lại đang bị hạn chế trên hiện thực bởi một số yếu tố.
Để làm được điều này, chúng ta cần phân biệt và làm rõ các phạm trù then chốt, đó là tiềm năng vật chất khách quan, cơ chế điều phối sản xuất xã hội, cơ chế phân phối thành quả lao động xã hội, quyền lực chính trị và bản chất giai cấp.
1.2. Phân biệt các phạm trù: Tiềm năng vật chất khách quan, cơ chế điều phối sản xuất, bản chất giai cấp, sự phân phối thành quả lao động và quyền lực chính trị
Tiềm năng vật chất khách quan và cơ chế điều phối sản xuất xã hội bao trọn tổng thể những điều kiện kỹ thuật, tổ chức, và điều phối đã được tích lũy qua quá trình phát triển lịch sử của phương thức sản xuất [3]. Biểu hiện của nó được thể hiện qua tính xã hội hóa từ thấp đến cao của lao động, mức độ địa phương hóa hay toàn cầu hóa của chuỗi sản xuất, và mức độ kế hoạch hóa từ tự phát đến tập trung hóa của cơ chế phân bổ thành quả lao động. Lịch sử của chủ nghĩa xã hội bắt đầu từ tiền tư bản chủ nghĩa là quá trình đi từ thấp đến cao của những tiến trình này, khi logic chuyển từ phân tán cổ điển đến sự vận hành ở mức tập trung hóa và hệ thống hóa của cả nền sản xuất từ khâu sản xuất đến khâu phân phối.
Song song với sự vận động trong sản xuất này là sự chuyển hóa mang tính chính trị của cơ chế quản lý. Cơ chế điều hành quản lý chuyển từ không có nhiều vai trò ngoài đảm bảo các điều kiện cơ bản, sang trực tiếp tham gia vào quy trình sản xuất. Sản xuất từ đó chuyển sang sản xuất cho mục đích chiến lược và phải khớp với những mục tiêu quản lý vĩ mô. Cơ chế điều hành sản xuất vì thế mang mục đích mang tính xã hội và hệ thống hơn là lợi nhuận đơn lẻ thuần túy, và tính dân chủ hóa được tối đa qua việc sản xuất được tích hợp vào cơ quan đại diện xã hội là nhà nước, tức sự tham gia của chính lao động vào quá trình sản xuất lao động.
Nhưng đây chưa phải toàn bộ tổng thể. Như Trình Ân Phú, Giám đốc Học viện Triết học Mác-xít và giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế phương Tây thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Trung Hoa (CASS), đã chỉ ra [4], bản chất của một xã hội còn cần được phân tích qua:
(1) Chế độ sở hữu
(2) Cơ chế phân phối
(3) Cơ chế điều tiết.
“Bản chất kinh tế của một chế độ xã hội được xác định đồng thời bởi ba yếu tố cấu thành: hình thức sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định, nguyên tắc phân phối thành quả lao động phản ánh quan hệ giai cấp, và cơ chế điều tiết thể hiện trình độ kế hoạch hóa xã hội.”[5]
Nhưng còn chưa hết, những điều này còn phải được phân tích qua mối quan hệ của nó với kiến trúc thượng tầng, tức toàn bộ hệ thống quan điểm, tư tưởng (chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật...) cùng các thiết chế tương ứng (nhà nước, đảng phái, giáo hội...) được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định. Như nguyên lý nền tảng của Marx đã chỉ rõ:
“Tổng hợp những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cơ sở hiện thực, trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở đó.”[6]
Đến lúc này, hình dạng quyền lực chính trị và hình dạng của sự phân phối thành quả lao động lại mới là then chốt. Khác với tiềm năng vật chất và tiềm năng của cơ chế điều phối, cũng như phân phối thành quả lao động, vốn là các sự vật khách quan, thì hình thái của quyền lực chính trị và ảnh hưởng của nó đến sự phân phối thành quả lao động lại mang tính giai cấp chứ không trung lập. Hai thứ này được xác định qua câu hỏi: ai là người thực sự điều phối sản xuất, ai là người định hình logic quan hệ phân phối, tức kiến trúc thượng tầng. Qua điều này, ta nhận xét được bản chất của chế độ và tính dân chủ thực sự. Như Lenin đã nhấn mạnh:
“Nhà nước không bao giờ là trung lập; nó luôn là công cụ của giai cấp thống trị để củng cố quan hệ sản xuất và thiết lập phương thức phân phối phục vụ lợi ích giai cấp mình. Không có chế độ phân phối nào tồn tại độc lập với bản chất giai cấp của chính quyền.”[7]
1.3. Nghịch lý: Lực lượng sản xuất và cơ chế điều phối của Mỹ gần với Chủ nghĩa xã hội hơn Việt Nam
Nghịch lý trung tâm của thời đại ngày nay chính là tính không đồng đều và tính lệch pha trong sự vận động nghịch lý trong mối quan hệ giữa hạ tầng sản xuất và thượng tầng chính trị văn hóa tại các quốc gia khác nhau. Khi xem xét thực tế kinh tế Hoa Kỳ, chúng ta phải đối diện với một hiện tượng cấu trúc: Rằng cơ sở hạ tầng và phương thức điều phối tổ chức sản xuất ở đây đã đạt đến một mức nhất định, khớp với chủ nghĩa xã hội khi nó đã được tập trung hóa và xã hội hóa ở một mức độ cao, thể hiện rằng đó là một phương thức sản xuất mới hẳn về chất so với phương thức sản xuất cũ của chủ nghĩa tư bản. Nhưng ngược lại, ở Việt Nam, một nước tự cho là “định hướng xã hội chủ nghĩa”, lại sở hữu những yếu tố đặc trưng gần với chủ nghĩa tư bản cổ điển hơn nhiều so với “trung tâm của chủ nghĩa tư bản toàn cầu” là chính Hoa Kỳ, khi ở Việt Nam vẫn tồn tại cơ chế phân tán nhiều trong các mắt xích sản xuất, và vai trò của lợi nhuận thuần lợi nhuận vẫn chi phối nhịp độ vận hành thực tế.
Phải bắt đầu với nhận xét rằng, sự hình thành của điều kiện này ở Mỹ không đơn giản là xuất phát từ ý chí chủ quan hay sự thay đổi nhận thức về vận hành nhà nước, hay một sự chuyển đổi có chủ đích về ý thức hệ trong nội bộ hệ thống nước Mỹ. Mà sự hình thành đó là sản phẩm của một quá trình vận động khách quan, tạo điều kiện cho sự thích ứng tự nhiên của phương thức sản xuất trước những mâu thuẫn nội tại đã tích tụ qua hàng thế kỷ, trong đó chủ yếu với chế độ sở hữu cũ và bản chất giai cấp của nhà nước Hoa Kỳ. Như nguyên lý duy vật lịch sử đã khẳng định:
“Con người không bao giờ tự đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà họ không thể giải quyết... vì bản thân nhiệm vụ chỉ nảy sinh khi những điều kiện vật chất để giải quyết nó đã có sẵn, hoặc ít nhất đang trong quá trình hình thành.”[8]
Đối với những người Marxist, một tiền đề giả định có thể đặt ra là: Chính logic tích lũy và nhu cầu tái sản xuất ở quy mô rộng đã dần xóa bỏ tính phân tán cổ điển, nhưng chính điều kiện này cũng tạo ra tiền đề cho sự ‘đi một bước nữa’ của hình thái từ phân tán vô thức đến phối hợp vô thức, rồi đến sự kế hoạch hóa mang tính xã hội chủ nghĩa. Tiến trình và logic lịch sử cụ thể dẫn đến sự chuyển hóa này sẽ được truy nguyên chi tiết trong chương II và III tới đây, khi chúng ta có thể thấy rõ cách thức và quá trình chủ nghĩa tư bản cổ điển tự kiến tạo nên những tiền đề vật chất cho sự phủ định chính nó qua các khủng hoảng và các cơ chế thích ứng của hệ thống từ cũ đến mới.
Việc đi vào hoàn cảnh và tiến trình lịch sử cụ thể sẽ giúp chúng ta trả lời những câu hỏi cơ bản nhất được đặt ra trong chương I này, tức:
(1) Liệu một nền kinh tế đã đang vận hành dựa trên cơ chế điều phối tập trung và mục đích xã hội & mục đích hệ thống dài hạn có đang tự thai nghén hình thức chủ nghĩa xã hội về mặt tổ chức vĩ mô, hay đó chỉ là một sự biến tướng của một trật tự cũ đang cố gắng duy trì sự tồn tại của mình?
(2) Nếu tiềm năng vật chất đã chín muồi và cơ chế quản lý đã vượt quá logic cũ, điều gì đang ngăn cản những tiềm năng này trở thành một dự án giải phóng mang tính cách mạng thực sự?
(3) Nếu tính chất phi cách mạng của hệ thống bắt nguồn từ việc phục vụ cho sự tái sản xuất của một giai cấp nhất định, thay vì hướng đến sự giải phóng hoàn toàn, thì đó là giai cấp nào? Và bằng cách nào mà giai cấp này định hướng quan hệ sở hữu thực tế và cơ chế phân phối giá trị thực tế? Và bằng công cụ nào?
Những câu hỏi này sẽ được trả lời cụ thể trong các chương sau.
1.4. Luận đề xuyên suốt & lộ trình phân tích của bài viết
Tóm lại, bài viết này theo đuổi một hướng lý luận chủ đạo để trả lời các câu hỏi trên. Hướng đó là chỉ ra cụ thể cách thức chủ nghĩa xã hội đã được hiện thực hóa ngay trong lòng trung tâm tư bản qua sự chín muồi của hạ tầng và cơ chế quản lý, và sự biến mất dần dần của tiềm năng này do sự tồn tại của bóng ma các thể chế tư bản chủ nghĩa trong suốt quá trình lịch sử đến hiện tại. Từ đó, bài viết sẽ đề ra một mô hình đánh giá khoa học về các thang bậc phát triển của chủ nghĩa xã hội, sự phức tạp của quá trình xác lập chế độ mới, hướng tới đề ra lộ trình vận động cụ thể của chủ nghĩa xã hội và định vị một số quốc gia như ví dụ, để qua đó làm rõ sự thống nhất của các quy luật quá độ trong tính đa dạng của thực tiễn.
Phương pháp luận được áp dụng xuyên suốt bài viết là phép duy vật lịch sử, lấy sự biến đổi của quan hệ sản xuất làm tiêu chuẩn xác định tính chất trực tiếp, trong đó trình độ lực lượng sản xuất là dấu hiệu gián tiếp, và bản chất giai cấp và chính trị là những yếu tố tối thượng.
Lộ trình phân tích được thiết kế để triển khai hệ thống luận đề này qua sáu chương kế tiếp.
Chương II chỉ ra hiện thực nền tảng chủ nghĩa xã hội trong lòng nước Mỹ và nguyên lý vận động biện chứng dẫn tới nó thông qua việc: phân tích sự chuyển dịch logic kinh tế vượt khỏi khuôn khổ M-C-M’; trình bày mức độ xã hội hóa sản xuất cao độ thông qua chuỗi cung ứng xuyên lục địa, kế hoạch hóa nội bộ tập đoàn và hạ tầng số; giải mã sự trỗi dậy của “nền kinh tế tầm nhìn” khi ý thức hệ văn hóa và thương hiệu thay thế lợi nhuận làm động cơ điều phối vĩ mô; phân tích cơ chế trì hoãn khủng hoảng thông qua siêu độc quyền tài chính, quản lý tài sản phổ quát và kiến trúc kế hoạch hóa ngầm của hệ thống ngân hàng trung ương.
Chương III chuyển sang phân tích lịch sử - chính trị để giải mã sự tha hóa của tiềm năng vật chất đó thông qua việc: truy nguyên bước ngoặt 1929 khi kinh tế chính thức trở thành phạm trù chính trị và sự ra đời của chủ nghĩa Keynes; phân tích cơ chế hút giá trị toàn cầu thông qua sự sụp đổ của kim bản vị (1971) và sự hình thành chủ nghĩa đế quốc tiền tệ; đồng thời phơi bày chiến lược phi công nghiệp hóa có chủ đích đã rỗng hóa công nghiệp nội địa để biến Mỹ thành trung tâm dịch vụ - tài chính, qua đó làm rõ cơ chế phân phối bất bình đẳng cấu trúc khi giới chủ sở hữu và tập đoàn độc quyền tích lũy trên nền tảng suy tàn của giai cấp công nhân; chứng minh rằng lực lượng sản xuất tiên tiến sẽ bị định hướng sai thành công cụ ký sinh nếu tách rời khỏi quyền lực chính trị của giai cấp lao động.
Chương IV, kế thừa tiền đề vật chất đã chín muồi ở Mỹ (Chương II) và cơ chế tha hóa lịch sử của nó (Chương III), khẳng định việc kiểm soát hình thức nhà nước hay thay đổi ý thức hệ không tự động đảm bảo bản chất xã hội chủ nghĩa. Thông qua bài học Stalin, chia rẽ Trung-Xô và Cách mạng Văn hóa, chương này chứng minh mâu thuẫn giai cấp vẫn nội tại hóa và đòi hỏi một cuộc đấu tranh liên tục, nơi hình thái đấu tranh trực diện chuyển hóa thành quá trình tự phê phán và canh tân thể chế mang tính biện chứng. Qua đó, chương IV làm rõ rằng nếu thiếu quyền lực chính trị tự giác của giai cấp lao động, những tiền đề xã hội hóa cao độ ở Mỹ sẽ chỉ đẻ ra chủ nghĩa xã hội phản động hoặc mở đường cho phục hồi tư bản chủ nghĩa.
Chương V hệ thống hóa nguyên tắc điều chỉnh quan hệ sản xuất thông qua tư duy “lùi để tiến” và sự tương thích biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; khẳng định tiêu chí đánh giá khoa học thay thế cho giáo điều về hình thức sở hữu và tính bất khả thi của việc tuyên bố sớm xã hội chủ nghĩa.
Chương VI áp dụng khung phân kỳ ba giai đoạn dựa trên chất lượng quan hệ sản xuất để định vị tọa độ lịch sử của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Việt Nam và các mô hình nhà nước đương đại khác, qua đó làm rõ sự khác biệt về lộ trình không phủ nhận tính thống nhất của quy luật quá độ.
Chương VII tổng hợp toàn bộ mạch phân tích, đề xuất hàm ý chiến lược cho từng tọa độ phát triển, và khẳng định thời kỳ quá độ không phải là sự chậm trễ, mà là tiến trình lịch sử đang tự hoàn thiện thông qua tự phê bình, tôn trọng thực tiễn và kiên định định hướng giải phóng, cũng như tuyên bố về sự đã trông thấy của thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.
CHƯƠNG II: HIỆN THỰC CỦA NỀN TẢNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MỸ, VÀ NGUYÊN LÝ VẬN ĐỘNG BIỆN CHỨNG LỊCH SỬ DẪN TỚI NỀN TẢNG CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MỸ
2.1. Sự vận động biện chứng của logic kinh tế: Từ C-M-C đến M-C-M’ và sự “phủ định biện chứng” của lợi nhuận
Lịch sử vận động của phương thức sản xuất là một quá trình biện chứng, trong đó mỗi hình thái kinh tế đều mang trong mình những mâu thuẫn nội tại buộc nó phải tự vượt qua chính mình.
Cốt lõi thực tế trong lịch sử của tiến trình ấy là sự chuyển hóa của logic vận động tư bản, được khái quát hóa qua ba công thức kinh điển: C-M-C và M-C-M’, và sự phủ định biện chứng của chính M-C-M’ trong giai đoạn muộn của chủ nghĩa tư bản, tức giai đoạn hiện nay. Hiểu rõ sự vận động này phơi bày giới hạn lịch sử không thể khắc phục của chính chủ nghĩa tư bản.
Trong nền sản xuất hàng hóa sơ khai và các hình thái xã hội tiền chủ nghĩa tư bản, logic vận hành của hoạt động sản xuất nói chung tuân theo công thức C-M-C (Hàng - Tiền - Hàng). Ở đây, tiền chỉ đóng vai trò trung gian như một vật được dùng để trao đổi, còn mục đích chính của sự trao đổi lại nằm ở món hàng cuối cùng và giá trị sử dụng, Ví dụ: một thợ rèn bán thanh kiếm mà anh ta rèn ra để đổi lấy tiền, rồi số tiền đó được sử dụng để anh ta mua những vật phẩm khác, hoặc để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, hoặc để tái sản xuất ở quy mô hạn chế. Trong xã hội này, tích lũy có tồn tại, nhưng chỉ ở mức độ nhỏ lẻ bởi nó bị chi phối và giới hạn bởi nhu cầu thực tế, khả năng tiêu dùng của cộng đồng và trình độ phân công lao động thấp. Trong thời kỳ này, logic sản xuất phân tán, mang tính cá nhân, hộ gia đình hoặc các làng nghề, khi quan hệ trao đổi không bị chi phối bởi nhu cầu và khả năng tích lũy vô hạn. Tuy nhiên, sự mở rộng của thị trường, sự tích lũy của tư liệu sản xuất và sự tách rời của người lao động khỏi sở hữu tư liệu sản xuất đã tạo ra điều kiện cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản và sự đảo ngược của logic vận động kinh tế C-M-C.
Với thời kỳ chủ nghĩa tư bản, công thức vận động sản xuất chuyển từ C-M-C sang M-C-M’ (Tiền - Hàng - Nhiều tiền hơn). Trong thời kỳ này, tiền không còn chỉ là phương tiện trung gian, mà trở thành điểm xuất phát, cũng như là đích đến của phương trình. Tư bản, tức là mục đích của sản xuất, chuyển từ cho mục đích sử dụng sang cho mục đích tích lũy thặng dư, hay sự gia tăng và chiếm thế độc tôn của giá trị trao đổi. Lợi nhuận giờ đây trở thành động lực tối thượng và giá trị sử dụng không bị chấm dứt mà được phủ định biện chứng và bảo tồn dưới dạng một đơn vị của phương trình. Lúc này, công thức M-C-M’ không đơn giản chỉ là một công thức biểu hiện chu kỳ tuần hoàn của vốn, mà còn khái quát toàn bộ bản chất của chủ nghĩa tư bản: sức lao động trở thành hàng hóa bán được, toàn bộ quá trình sản xuất phụ thuộc vào logic tích lũy tư bản, cạnh tranh thị trường tự do ép các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất và hạ thấp chi phí… Đây là động lực giúp lực lượng sản xuất phát triển vượt bậc, dần dần mang tính xã hội nhiều hơn là tính địa phương và tự nhiên, chính những vectơ này (sự xã hội hóa ngày càng cao, năng lực sản xuất vô hạn so với sức tiêu dùng có giới hạn...) tạo mâu thuẫn cấu trúc giữa thực tế sản xuất và hình thức sở hữu tư nhân.
Điều này tạo tiền đề cho sự vận động tiếp theo của chủ nghĩa tư bản và của công thức M-C-M’. Khi chủ nghĩa tư bản đã đạt tới giai đoạn độc quyền qua sự tuyệt đối hóa của các vectơ kể đến ở đoạn trên, logic tích lũy tư bản đã phải đi đến điểm tận cùng giới hạn khả năng tương thích vật chất, chính trị và xã hội của chính nó, buộc nó phải thay đổi qua một quá trình cũng giống như với logic C-M-C của xã hội tiền tư bản, đây là quá trình phủ định biện chứng (Aufhebung). Tiếp tục, giống như giữa sự chuyển giao giữa xã hội tiền tư bản đến xã hội tư bản, lợi nhuận cũng không biến mất mà được bảo tồn thành một dạng chỉ báo hiệu quả, nhưng không còn vai trò tối thượng. Tức, lợi nhuận chỉ là một khoảnh khắc trong một logic điều phối rộng hơn, và có thể bị phủ định. Ví dụ, trong nền kinh tế hiện đại, nhiều tập đoàn chịu thua lỗ trường kỳ hoặc giữ lợi nhuận thấp trong thời gian dài nhằm mục đích đổi lấy thị phần, vị thế độc quyền, hay nổi bật và ngày càng rõ ràng nhất là một tầm nhìn dài hạn không có mục đích lợi nhuận (như chuyển đổi năng lượng, giấc mơ vũ trụ, trí tuệ nhân tạo...) với mục đích cuối cùng là tích hợp với nhà nước để thực thi những tầm nhìn này. Qua đó có thể thấy trong giai đoạn mới, lợi nhuận đã không còn là động cơ tự thân, mà trở thành dạng chỉ báo thông tin, đo lường tính bền vững và khả năng tái sản xuất của doanh nghiệp trong một chuỗi sản xuất đã được xã hội hóa.
Sự phủ định biện chứng này không xuất phát từ thiện chí đạo đức hay sự giác ngộ nào, mà, nó là hệ quả tất yếu của chính logic tích lũy đã đẩy chủ nghĩa tư bản tới giới hạn của mình. Nhà nước của giai cấp tư bản, do đó, không còn có thể đứng ngoài như một kẻ gác đêm trung lập, mà phải trực tiếp trở thành tác giả của sự can thiệp vĩ mô, bảo lãnh rủi ro, và kiến tạo nên các điều kiện cho sự tái sản xuất của một hình thái quyền lực mới với hình thù là các dự án mang tính chính trị hơn là lợi nhuận. Điểm dễ bị hiểu lầm là, khi nhắc đến những dự án này, đa số sẽ cho rằng đây là những lớp ngụy trang che giấu mục đích thực sự bên dưới là lợi nhuận. Nhưng điều thực sự đáng được phân tích là chức năng cấu trúc thay vì tính chân thành của chúng: khi chúng trở thành những kênh ý thức hệ mới và tái sản xuất một giai cấp thống trị mới, không còn là giai cấp tư sản cổ điển thế kỷ 19-20 sống dựa trên sở hữu tư liệu sản xuất thực chất, mà bằng tích hợp sở hữu nhà nước hay sở hữu tập đoàn, tạo ra tầng lớp kỹ trị tài chính nhà nước mới, tự định nghĩa qua sứ mệnh hay tầm nhìn, cũng như năng lực điều phối các hệ thống phức tạp. Giai cấp này không nói dối khi tuyên bố các mục tiêu của mình, nhưng chính sự chân thành đó mới là cơ chế ý thức hệ hiệu quả nhất, khi quyền lực được tổ chức xung quanh những sứ mệnh thực sự, thì ranh giới giữa lợi ích giai cấp và lợi ích nhân loại thoạt tiên và ở vẻ bề ngoài trở nên mờ đi một cách tự nhiên và càng khó trông thấy.
Tuy nhiên, trước khi phân tích đầy đủ hình thái ý thức hệ này, cần phải hiểu nền tảng vật chất đang chống đỡ nó. Vì sự chuyển hóa của giai cấp thống trị và hệ thống chính danh của nó không tồn tại lơ lửng mà được đặt vào một cấu trúc sản xuất cụ thể đã đạt tới trình độ xã hội hóa chưa từng có: các chuỗi cung ứng xuyên lục địa, cơ chế kế hoạch hóa nội bộ tập đoàn, và các nền tảng số có khả năng điều phối sản xuất và tiêu dùng ở quy mô toàn cầu. Chính trình độ xã hội hóa vật chất này mới là điều kiện sinh tồn cho cả hình thái quyền lực lẫn hệ thống ý thức hệ đang được xây dựng trên nó, và đó là nội dung của phần tiếp theo.
2.2. Xã hội hóa sản xuất ở trình độ cao, chuỗi cung ứng xuyên lục địa, kế hoạch hóa nội bộ tập đoàn, nền tảng số…
Trình độ xã hội hóa hiện nay của Mỹ không chỉ dừng lại ở mức tập trung tư bản truyền thống dự báo bởi Marx, hay như Lenin đã mô tả trong “Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn cao nhất của chủ nghĩa tư bản”, mà đã vượt quá mức này, vận hành thông qua cơ chế điều phối có ý thức thay thế hoàn toàn cơ chế cạnh tranh phân tán. Apple là minh họa rõ ràng cho mô hình này khi Apple thống trị không qua sở hữu nhà máy mà qua sự kiểm soát tuyệt đối với chu trình sản sinh giá trị. Công ty này điều phối hàng trăm nhà cung cấp ở các nước khác, trong đó có Việt Nam qua tích hợp hệ thống, tiêu chuẩn, giám sát thời gian thực (real - time). Tỷ lệ luân chuyển tồn kho được tối ưu hóa, trong khi dự báo nhu cầu và phân bổ linh kiện được tính toán bằng thuật toán thay vì số liệu và tín hiệu thị trường.
Amazon cũng tương tự, công ty này chuyển đổi logic kế hoạch thành hạ tầng logistics số. Hệ thống logistic của tập đoàn vận hành dựa trên thuật toán dự báo nhu cầu, robot điều phối kho bãi tự động, mạng lưới vận tải được điều khiển và tích hợp liên bang. Sự liệu cũng được thu thập trong thời gian thực, chuyển thành tín hiệu điều chỉnh sản xuất từ các nhà máy đối tác, tối ưu hóa sự phân phối và cân đối cung cầu một cách tự động, trước khi bất kỳ tín hiệu giá cả nào kịp xuất hiện. AWS - nền tảng web của Amazon cũng đóng vai trò then chốt khi cung cấp hạ tầng điện toán đám mây cho hàng triệu doanh nghiệp Mỹ, biến khả năng xử lý dữ liệu và mô hình hóa thành tư liệu sản xuất phổ quát.
Tương tự, Tesla kết hợp thiết kế phần mềm, sản xuất pin, đúc thân xe nguyên khối, lắp ráp, và mạng lưới trạm sạc vào một hệ sinh thái khép kín. Công ty này kiểm soát trực tiếp kênh phân phối, cập nhật phần mềm từ xa để điều chỉnh hiệu suất phương tiện khi đã bán ra, theo đó chuỗi cung ứng nguyên liệu cho thân xe và cho pin cũng được đồng bộ hóa từ mỏ lithium đến nhà máy lắp ráp.
Cạnh tranh không còn diễn ra trên thị trường mở, mà trở thành cuộc đối đầu giữa các hệ sinh thái tập trung, khép kín, và có khả năng kiểm soát toàn bộ chuỗi giá trị từ nghiên cứu, đến sản xuất, đến phân phối.
Các ví dụ này phơi bày một thực tại cấu trúc đặc thù của nền kinh tế Mỹ đương đại, chính là tính chất xã hội của lao động đã thể hiện rõ nét và sâu sắc trong chính cách mà các tập đoàn tư bản vận hành, mặc dù về mặt pháp lý chúng vẫn là những thể chế tư hữu. Cơ chế này tạo ra nền tảng vật chất cho sự tích hợp giữa tập đoàn độc quyền và bộ máy nhà nước, cho phép quản lý rủi ro hệ thống, điều phối đầu tư chiến lược thông qua các đạo luật như CHIPS and Science Act hay Inflation Reduction Act, và hợp thức hóa can thiệp vĩ mô dưới danh nghĩa an ninh quốc gia và ổn định chuỗi cung ứng, tất cả sẽ được phân tích tới đây.
Tuy nhiên, sự kế hoạch hóa thuần túy về mặt kỹ thuật và tổ chức vẫn chưa đủ để duy trì tốc độ huy động vốn, nhân lực và sự chấp thuận xã hội ở quy mô hiện tại. Khi lợi nhuận ngắn hạn bị đẩy lùi hoàn toàn hoặc chỉ còn đóng vai trò vectơ tín hiệu kiểm toán nội bộ, động cơ điều phối kinh tế Mỹ buộc phải sử dụng một dụng cụ cũ mà mới: cũ ở chỗ nó là ý thức hệ văn hóa, nhưng mới ở chỗ đó là tầm nhìn công nghệ, và thương hiệu vì sứ mệnh. Chính những yếu tố này mới có khả năng định hướng dòng vốn dài hạn, hợp pháp hóa sự phụ thuộc của người lao động vào nền tảng, và kiến tạo nhu cầu tiêu dùng từ trên xuống. Bước chuyển từ “kế hoạch hóa vật chất” sang “điều phối bằng tầm nhìn” không chỉ là sự thích ứng kỹ thuật, mà là sự tái cấu trúc động lực xã hội của chính phương thức sản xuất. Cơ chế mới này sẽ được giải mã cụ thể trong phần tiếp theo.
2.3. Sự trỗi dậy của nền kinh tế chạy bằng giấc mơ: thương hiệu, tầm nhìn & ý thức hệ văn hóa thay thế lợi nhuận làm động cơ điều phối, nhận xét về tuyên ngôn của OpenAI
Động cơ điều phối kinh tế Mỹ đã vận chuyển về mặt cấu trúc, trong đó lợi nhuận bị đánh bật khỏi vị thế trung tâm để nhường chỗ cho một đích đến mới ở bề nổi: mục đích xã hội (giống như chủ nghĩa xã hội), những mục đích này được biểu hiện như những tầm nhìn công nghệ, giá trị văn hóa và tóm lại là các dự án mang tính sứ mệnh và có tầm nhìn, vốn cũng là một yếu tố của chủ nghĩa xã hội. Những yếu tố này, trong thời đại mới, trở thành đích đến cho cơ chế điều phối và huy động vốn, định hướng phân bổ nhân lực, định hướng vận hành chuỗi cung ứng, và cuối cùng là kiến tạo cả nhu cầu tiêu dùng.
Điều này thể hiện tính tất yếu của việc phương thức sản xuất phải được giải thoát khỏi hình thái phân tán hay phối hợp vô thức, mà phải là một sự phối hợp có ý thức ở tầm vĩ mô, lý giải cho sự tích hợp ngày càng sâu rộng giữa những tập đoàn mang tính chiến lược với bộ máy nhà nước Hoa Kỳ. Chính “bản tuyên ngôn” của OpenAI mang tên “Chính sách Công nghiệp cho Thời đại Thông minh” công bố năm 2026[9] đã minh họa rõ ràng nhất cho sự chuyển dịch này, đồng thời cho chúng ta cái nhìn vào những giới hạn giai cấp đằng sau diễn ngôn của công ty này.
Văn bản này của OpenAI bắt đầu với sự thẳng thắn thừa nhận thất bại của cơ chế thị trường tự phát, cụ thể là trong việc phân bố nguồn lực cho các dự án trí tuệ nhân tạo tiên tiến vốn mang chu kỳ vốn dài, rủi ro hệ thống cao và sự đồng bộ của cơ sở hạ tầng giữa tất cả các ngành trong xã hội. Như chính tài liệu khẳng định:
“Trong những thời điểm bình thường, lập luận để thị trường tự vận hành là rất mạnh mẽ... Nhưng chính sách công nghiệp có thể đóng vai trò quan trọng khi các lực lượng thị trường đơn thuần không còn đủ khả năng - khi các công nghệ mới tạo ra cơ hội và rủi ro mà các thể chế hiện có không được trang bị để quản lý.”
Tuyên ngôn rõ ràng yêu cầu chính phủ Mỹ xây dựng chính sách công nghiệp chủ động, đầu tư vào hạ tầng dữ liệu quy mô quốc gia, thiết lập và bảo vệ chuỗi cung ứng bán dẫn cũng như hành lang pháp lý thống nhất, cộng thêm thúc đẩy các mối quan hệ đối tác giữa công và tư nhân, thay vì yêu cầu chính phủ ngừng can thiệp hay để các công ty này tối ưu hóa lợi nhuận cổ đông.Và cụ thể hóa cơ chế phối hợp:
“Chính sách công nghiệp mới nên sử dụng bộ công cụ hiện có của chính phủ... Nhưng chính phủ không nên hành động đơn độc. Các tổ chức phi chính phủ sẽ thí điểm các phương pháp mới... sau đó chính phủ sẽ củng cố những thành công bằng cách điều chỉnh các ưu đãi và mở rộng quy mô thông qua mua sắm, quy định và đầu tư.”
Thay vào đó, mô hình được đề xuất phụ thuộc phần lớn vào hợp đồng nhà nước và trợ cấp chiến lược cùng việc tạo ra môi trường thích hợp. Lợi nhuận trong trường hợp này cùng lắm đóng vai trò làm tín hiệu chỉ báo tính hiệu quả của sự vận hành doanh nghiệp, trong khi thực tế tồn vong của doanh nghiệp thực sự gắn liền với cách mà xã hội nói chung nhìn nhận khả năng hiện thực hóa tầm nhìn của nó:
“Lời hứa của AI tiên tiến không chỉ là tiến bộ công nghệ, mà là chất lượng sống cao hơn cho tất cả... Nếu AI cuối cùng bị kiểm soát bởi, và chỉ mang lại lợi ích cho một số ít, trong khi đa số thiếu quyền chủ động và cơ hội tiếp cận, chúng ta đã thất bại trong việc thực hiện lời hứa của nó.”
Những điểm này phần lớn trùng khớp với góc nhìn về giấc mơ của chủ nghĩa xã hội, tuy nhiên, tính chất xã hội hóa trong văn bản của OpenAI được lồng ghép cùng với những cấu trúc quyền lực mang tính tinh hoa rõ rệt, khi quyền kiểm soát trên diện cấu trúc nói chung đối với hạ tầng điện toán, dữ liệu, chế độ kiểm toán… vẫn được tập trung trong tay số ít các công ty, phòng thí nghiệm và nhà nước tư bản. Chính OpenAI cũng thừa nhận nguy cơ này:
“Cũng có rủi ro rằng các lợi ích kinh tế sẽ tập trung vào một số ít công ty như OpenAI, ngay cả khi bản thân công nghệ ngày càng mạnh mẽ và phổ biến.”
Và ghi nhận khoảng cách thực tế:
“Người lao động sử dụng AI rất có thể đồng ý rằng nó đang tăng năng suất của họ mà không tin rằng họ đang thấy được những lợi ích đó.”
Giai cấp công nhân và người dân nói chung sau đó được “mời” tham gia vào một tiến trình đã được định khung sẵn cả về mặt cấu trúc và ý thức hệ, trong đó kết quả cuối cùng về phân phối giá trị thặng dư vẫn nằm ngoài quyền kiểm soát của họ. Như đề xuất về “cơ chế đóng góp ý kiến” của họ:
“Tạo ra các cơ chế có cấu trúc để công chúng đóng góp ý kiến, sao cho sự căn chỉnh không chỉ được định nghĩa bởi các kỹ sư hay giám đốc điều hành sau những cánh cửa đóng kín.”
Hơn nữa, sự phối hợp hay đúng hơn là tích hợp của các tập đoàn công nghệ có tầm nhìn này với bộ máy nhà nước Mỹ không chỉ dừng lại ở các chính sách công nghiệp dân sự, mà còn mở rộng sang chính sách địa chính trị mà qua đó là lĩnh vực quốc phòng (hay phải gọi đúng là lĩnh vực chiến tranh!). OpenAI và các công ty công nghệ lõi đã luôn xây dựng mối quan hệ hợp tác toàn diện với Bộ Ngoại giao và Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ, và trong mối quan hệ này, trí tuệ nhân tạo sẽ được sử dụng với mục đích duy trì ưu thế công nghệ toàn cầu, kiểm soát chính sách và hiện thực xuất / nhập khẩu các vật liệu bán dẫn, các công ty sẽ giúp Bộ Chiến tranh Mỹ hiện đại hóa hệ thống chỉ huy tác chiến và hỗ trợ kế hoạch chiến dịch và thực thi chiến dịch như đã được làm ở Trung Đông mà cụ thể là Iran.
Palantir là minh chứng rõ ràng nhất cho điều này thông qua các hoạt đồng và cầu nối trực tiếp với các cơ quan tình báo và quân đội Hoa Kỳ, tích hợp phân tích dữ liệu lớn và thuật toán dự báo / giám sát, nhắm bắn mục tiêu và điều phối hỏa lực. Qua đó thấy rõ tầm nhìn công nghệ không tách rời mà đi đôi với chức năng chính trị và địa chính trị của nhà nước tư bản, ổn định nội địa và củng cố bá quyền toàn cầu thông qua hạ tầng kiểm soát quân sự và thượng tầng ứng dụng quân sự.
Logic điều phối dựa trên tầm nhìn này là nhìn thấy được trên toàn bộ hệ thống, không chỉ OpenAI hay Palantir mà có cả Amazon, Apple, v.v. Apple tạo ra một hệ sinh thái đóng - như một vũ trụ biểu tượng xoay quanh sự tích hợp phần cứng - phần mềm - dịch vụ, khóa người dùng và nhà phát triển vào một chuẩn kỹ thuật khép kín được duy trì bởi chuỗi cung ứng toàn cầu và quan hệ đối tác chiến lược với nhà nước. Amazon cũng vậy, khi nó đóng vai trò chuyển hóa hạ tầng logistics, điện toán đám mây và nền tảng thương mại, về cơ bản làm bản sao của cả nền kinh tế, trong đó thuật toán của nó dự báo nhu cầu, tối ưu hóa phân phối mà không cần đến cả tín hiệu giá cả. Nvidia, Tesla, SpaceX... vận hành với cơ chế tương tự. Các tổ chức này công khai thừa nhận sự phụ thuộc vào bộ máy nhà nước, và sử dụng tầm nhìn công nghệ làm công cụ cuối cùng để định hướng dòng vốn và cơ chế hợp tác công - tư ở quy mô lớn chưa từng có.
Sự trỗi dậy của cơ chế điều phối này xác nhận bước chuyển biến về chất trong logic vận động của tư bản đã được nêu ra ở phần trước, khi sản xuất chuyển sang mang tính tập thể và phụ thuộc ở trình độ cao, lợi nhuận sản xuất ngắn hạn bị bỏ lại, thậm chí lợi nhuận sản xuất biến mất hoàn toàn hoặc ít nhất là trở thành điểm chỉ báo tính hiệu quả thuần túy trong một số trường hợp, doanh nghiệp được chuyển sang định giá qua sự nắm bắt của doanh nghiệp với câu chuyện chủ đạo (narrative) và sức hút ý thức hệ của thương hiệu trên sàn chứng khoán. Logic M-C-M’ vì thế mà bị hấp thụ vào một hệ thống có mục đích lớn hơn. Giấc mơ thương hiệu và ý thức hệ công nghệ và văn hóa cũng vì thế mà trở thành phạm trù vật chất.
Sự đòi hỏi tính vĩ mô và phổ quát của hệ thống này chính là tiền đề thúc đẩy các tập đoàn công nghệ, giới sở hữu và quản lý tài sản, bộ máy ngân hàng trung ương - nhà nước vốn đã đang sở hữu bản chất tư bản lại với nhau. Điều này mở ra một khả năng mới trong xã hội xã hội chủ nghĩa - khi tính xã hội hóa và thành quả của nó lại không nằm trong tay giai cấp lao động mà ngược lại, chống lại giai cấp lao động, và xã hội chủ nghĩa này biến thành xã hội chủ nghĩa phản động.
Diễn ngôn về “dân chủ hóa công nghệ”, nếu điều này là đúng, vẫn chỉ là một cách để cho phép rủi ro luôn bị xã hội hóa thông qua thuế và nợ công, còn lợi nhuận chiến lược cùng quyền kiểm soát sẽ luôn được giữ làm tư nhân hóa, qua sự kiểm soát của nhà nước đến các tập đoàn công nghệ, của tập đoàn công nghệ đến nhà nước, và của tầng lớp tư bản đến cả hai. Điều này sẽ được giải thích và chứng minh ở những phần sau khi chúng ta phân tích siêu độc quyền tài chính qua các “siêu các-ten”, sự hợp nhất giữa quản lý tài sản phổ quát với cơ chế ngân hàng trung ương ở phần 2.4 và lý thuyết về tư bản tài chính của Michael Hudson đi cùng với lịch sử ở chương III.
2.4. Siêu độc quyền tài chính và cơ chế trì hoãn khủng hoảng, sự hợp nhất giữa quản lý tài sản phổ quát, ngân hàng trung ương và kiến trúc kế hoạch hóa ngầm - phân tích về các-ten thế hệ mới của Ed Berger
Nhà kinh tế học Marxist cổ điển Rudolf Hilferding từng hình dung trong cuốn “Tư bản tài chính” viết năm 1910[10] về một hình thức siêu độc quyền phổ quát, khi toàn bộ nền sản xuất của tư bản được điều tiết một cách có ý thức bởi một cơ quan thống nhất, tập hợp với ngân hàng trung ương để tạo ra quyền lực tập trung của tư bản tài chính. Hilferding chắc cũng không nghĩ rằng thực tế xảy ra còn phức tạp và trừu tượng hơn nhiều dự đoán của ông vào đầu thế kỷ 20, khi mọi ranh giới giữa sở hữu tư nhân, quản trị công lập và điều tiết tiền tệ đều bị xóa nhòa trong một kiến trúc độc quyền tài chính.
Điều khiến hình thái này đã đi xa hơn cả tưởng tượng của Hilferding, chính là việc hình thái tư bản hiện tại đã vượt quá cả khuôn khổ của một liên minh độc quyền công nghiệp truyền thống (hay cartel - các-ten), mà trở thành một cơ chế điều phối siêu tập trung, vận hành qua các thực thể pháp lý tách biệt, tích hợp với quyền lực nhà nước và quan trọng nhất là gần như là vô hình ở mức độ quan sát bề mặt. Thậm chí, nó còn đi xa hơn khuôn khổ của nền kinh tế giấc mơ được nhắc đến ở trên, khi nó không đơn giản chỉ là quyền kiểm soát ở mức độ các ngành sản xuất riêng lẻ (như Nvidia, Tesla, OpenAI,...), mà là sự thiết lập quyền kiểm soát thông qua các cơ chế phân bổ vốn ở mức vĩ mô, quản trị rủi ro hệ thống, cùng khả năng trì hoãn khủng hoảng để duy trì trạng thái ổn định. Trong cơ chế này, thị trường không bị xóa bỏ mà được sử dụng chỉ như một bề nổi để che dấu sự tập trung hóa quyền lực trong (1) cách định giá và (2) cách phân bổ nguồn lực ở tầng vĩ mô.
Hiện thực vật chất của cơ cấu này được nhận thấy rõ nhất ở các định chế quản lý tài sản mang tính phổ quát, mà nhà phân tích Ed Berger gọi là “siêu các-ten”[11], đó là những tổ chức rất thân quen như BlackRock hay Vanguard. Những tổ chức này chuyển thể từ những nhà đầu tư thông minh, thụ động, tập trung vào lợi nhuận ngắn hạn của các doanh nghiệp riêng lẻ, mà hiện giờ đã trở thành những tổ chức nắm giữ tỷ khả năng chi phối trải rộng khắp các ngành kinh tế then chốt. Vị thế chủ sở hữu xuyên suốt giữa các ngành cho phép sự phụ thuộc vào hiệu suất tổng thể thay vì biến động đơn lẻ của từng mã cổ phiếu, từ đó sinh ra nhu cầu né tránh rủi ro mang tính hệ thống và nhu cầu can thiệp trực tiếp vào quản trị kinh tế chính trị. Điều này khiến giới quản lý tài sản trở thành cơ quan điều phối chiến lược, định hướng vốn dài hạn qua sự phối hợp chặt chẽ với cơ quan hoạch định chính sách để duy trì sự ổn định cần thiết của chính các “dự án ước mơ” như ở phần trước.
Song song là sự chuyển hóa chức năng của ngân hàng trung ương. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã vượt khỏi vai trò lịch sử của nó là điều tiết chu kỳ kinh tế thông thường, và đã chuyển hóa thành bộ máy trì hoãn khủng hoảng thường trực, vận hành như một cơ chế trung tâm hóa kế hoạch tài chính ở quy mô vĩ mô.
Cụ thể, khi thị trường đối diện với một cú sốc thanh khoản hay nguy cơ vỡ nợ dây chuyền, chẳng hạn khi người gửi tiền rút vốn ồ ạt khỏi các hệ thống ngân hàng thương mại, khiến các định chế này thiếu tiền mặt để đáp ứng nghĩa vụ trả nợ, hoặc khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp bị đóng băng do nhà đầu tư từ chối đảo nợ (vay tiền mới để trả nợ cũ) cho các khoản đến hạn, ngân hàng trung ương chủ động vô hiệu hóa cơ chế phá sản tự phát vốn là hệ quả cổ điển. Fed làm điều này bằng cách, thay vì để các thực thể mất khả năng thanh toán dẫn đến tự giải thể, cơ quan này trực tiếp “bơm” thanh khoản thông qua nới lỏng định lượng, cụ thể là việc tạo ra dự trữ kỹ thuật số để tự nó mua vào trái phiếu chính phủ cùng chứng khoán được bảo đảm bằng tài sản từ bảng cân đối của các ngân hàng thương mại, bằng cách này mà hấp thụ tài sản rủi ro khỏi khu vực tư nhân và chuyển rủi ro sang khu vực công. Tiếp theo, Fed cũng triển khai các phương tiện đặc biệt, ví dụ như những thực thể tài chính được thiết lập tách biệt về mặt pháp lý để tiếp nhận các loại nợ như trái phiếu đô thị hay tín dụng doanh nghiệp, qua đó cách ly rủi ro khỏi bảng cân đối chính thức của ngân hàng trung ương.
Một ví dụ thực tiễn là vào năm 2020, khi Fed thiết lập ra cái gọi là “Primary and Secondary Market Corporate Credit Facility (PMCCF - SMCCF)” - hay Phương tiện Tín dụng Doanh nghiệp Thị trường Sơ và Thứ cấp, giao phó cho BlackRock vai trò quản lý danh mục để mua trực tiếp trái phiếu mới phát hành cùng chứng khoán quỹ hoán đổi danh mục đầu tư, bảo đảm dòng tín dụng cho các tập đoàn phi tài chính không bị đứt gãy giữa lúc thị trường đóng băng do thiếu thanh khoản. Cùng lúc với can thiệp trong nội địa, các đường hoán đổi thanh khoản xuyên biên giới cũng mở rộng sự vận động mới này ra toàn cầu, cho phép các ngân hàng trung ương châu Âu hay Nhật Bản đổi nội tệ lấy đô la Mỹ theo tỷ giá định trước, ngăn chặn tình trạng thiếu hụt đô la ngoài lãnh thổ Mỹ, tránh kích hoạt chuỗi vỡ nợ xuyên lục địa.
Như đã thấy kiến trúc tiền tệ này đòi hỏi sự cộng sinh của nhà nước với các định chế quản lý tài sản phổ quát. Những tổ chức như BlackRock hay Vanguard nắm giữ khả năng chi phối trải rộng qua các ngành công nghiệp then chốt, và ví thế cần tính ổn định hệ thống lâu dài. Trong điều kiện này, vị thế chủ sở hữu xuyên ngành sinh ra, với vai trò điều phối chiến lược, kỷ luật hóa đầu cơ ngắn hạn, và phối hợp với nhà nước để duy trì lãi suất thấp cùng nguồn thanh khoản dồi dào. Khi ngân hàng trung ương can thiệp lãi suất và thanh khoản, giới quản lý tài sản này được tự do bơm vốn vào các dự án dài hạn mà không đối diện với áp lực ngắn hạn của thị trường. Sự hội tụ của hai quyền lực này tạo ra một thể chế kế hoạch hóa tập trung dưới vỏ bọc kỹ trị. Tín hiệu thị trường dẫu vẫn tồn tại ở tầng bán lẻ và vận hành vi mô, nhưng ở mức vĩ mô, cách thức phân bổ, định giá rủi ro,... càng ngày càng được xác định thông qua mối quan hệ phản hồi liên tục giữa quyền bơm thanh khoản của ngân hàng trung ương và quyền lựa chọn danh mục của giới quản lý tài sản.
Dưới cơ chế mới này, khủng hoảng kinh tế không còn thực hiện được chức năng điều chỉnh tất yếu theo logic kinh tế cổ điển, nơi tư bản kém hiệu quả bị thanh lý, tài sản tích tụ thừa thãi mất giá, và lợi nhuận được khôi phục thông qua thanh lọc. Chức năng cổ điển này bị triệt tiêu bằng cách để khủng hoảng bị chặn đứng trước khi nó đi đến điểm kết thúc tự nhiên của nó, khi mỗi một cuộc khủng hoảng khả năng thanh toán trên thị trường được chuyển hóa thành một sự kiện cho phép nới rộng chênh lệch lãi suất, quản lý thông qua sự “mua sắm” của ngân hàng trung ương. Khủng hoảng không biến mất, nhưng bị đình hoãn trong trạng thái treo liên tục, đòi hỏi sự can thiệp thường trực để ngăn chặn những mâu thuẫn nền tảng có khả năng tạo ra sự sụp đổ hệ thống.
Bản chất giai cấp của kiến trúc này lộ diện rõ qua cơ chế phân phối bất đối xứng giữa rủi ro và lợi nhuận. Khi hệ thống tài chính đối diện với biến động cấu trúc, gánh nặng ổn định được chuyển dịch một cách có hệ thống sang khu vực công, trong khi thành quả tích lũy vẫn được giữ lại trong tay các định chế tư nhân.
Đầu tiên, Cơ chế xã hội hóa rủi ro này được vận hành qua kết hợp của một số kênh chủ đạo:
(1) Thuế khóa rút từ thu nhập tiền lương đóng vai trò nguồn thu ổn định để bù đắp ngân sách phát sinh từ các đợt can thiệp khủng hoảng - người lao động đóng vai trò tài trợ cho sự can thiệp cứu các định chế đã tạo ra rủi ro.
(2) Nghĩa vụ nợ công được phát hành để trả nợ cho chi phí đình chỉ khủng hoảng, khoản này được chuyển thành gánh nặng trả lãi dài hạn, tiếp tục - được thanh toán bằng năng suất lao động và thuế thu nhập của các thế hệ lao động trong tương lai, kéo dài chu kỳ trích xuất giá trị đến cả các thế hệ sau.
(3) Chương trình bảo lãnh nhà nước che chắn cho chủ nợ tư nhân tránh khỏi tổn thất vỡ nợ. Ví dụ, cơ quan bảo hiểm tiền gửi cam kết mở rộng bảo lãnh quá mức quy định thông thường để ngăn chặn tiền bị rút, hay chính phủ cam kết mua lại khoản nợ xấu của doanh nghiệp chiến lược để xóa bỏ rủi ro tổn thất vốn cho nhà đầu tư tư nhân, hay một tập đoàn công nghệ then chốt thiếu vốn đầu tư dài hạn, v.v. Trong tất cả các trường hợp này, ngân sách công trực tiếp hấp thụ tổn thất thông qua bơm vốn ưu đãi, bảo lãnh phát hành trái phiếu, hoặc nới lỏng yêu cầu vốn pháp định để thể chế tiếp tục vận hành mà không phải nhận kết cục thanh lý tài sản.
Tiếp theo, ngược lại với cơ chế xã hội hóa rủi ro, thì lợi nhuận chiến lược cùng quyền kiểm soát hạ tầng lại được tư nhân hóa và tập trung hóa. Quyền sở hữu các hạ tầng công nghệ và logistics, cùng thẩm quyền định hình tiêu chuẩn kỹ thuật lại không thuộc về cộng đồng hay nhà nước, mà thuộc về thiểu số điều hành các quỹ quản lý tài sản phổ quát, những nhà sáng lập tập đoàn công nghệ, thành viên hội đồng quản trị các định chế tài chính, v.v. Cổ tức, chương trình mua lại cổ phiếu (stock buyback) được tài trợ bằng tín dụng giá rẻ, và mức tăng giá tài sản được thúc đẩy bởi thanh khoản của ngân hàng trung ương, tất cả đều chảy trực tiếp vào cho cô đông tư nhân. Địa tô sở hữu trí tuệ, khoản phí trích xuất từ cấp phép sử dụng thuật toán, bản quyền phần mềm, tiêu chuẩn bán dẫn và cơ sở dữ liệu đào tạo, vận hành như kênh tích lũy độc quyền, cho phép tập đoàn công nghệ thu lợi nhuận siêu ngạch mà không cần mở rộng sản xuất vật chất tương ứng. Khu vực công, sau khi đã hấp thụ rủi ro giảm giá và bảo lãnh thanh khoản, phải giữ lại nghĩa vụ nợ trên bảng cân đối kế toán, cùng trách nhiệm duy trì ổn định vĩ mô để bảo vệ giá trị tài sản tư nhân. Diễn ngôn quản trị minh bạch, ổn định vĩ mô và phát triển bền vững vận hành như tầng ý thức hệ tinh vi, che khuất sự bất đối xứng phân phối này bằng cách định khung can thiệp nhà nước như biện pháp kỹ thuật trung lập, chuyển hóa bất an giai cấp thành sự phụ thuộc được quản lý vào mạng lưới an sinh do nhà nước và tập đoàn đồng thiết kế, nhằm ổn định tiêu dùng đại chúng và duy trì lực lượng lao động thích ứng, mà không chạm đến cấu trúc sở hữu hay phân phối quyền lực kinh tế.
Trong khuôn khổ này, giai cấp lao động chiếm vị trí phụ thuộc về mặt cấu trúc. Người lao động không nắm quyền quyết định đối với nhịp độ triển khai tự động hóa thuật toán, định hướng địa lý của dòng vốn đầu tư, hay cơ chế phân phối giá trị thặng dư do năng suất trí tuệ nhân tạo tạo ra. Vai trò của người lao động trong tiến trình này dừng lại ở việc thích ứng với những dịch chuyển trong công nghệ thông qua chương trình đào tạo lại kỹ năng được tài trợ bằng nợ công, di chuyển địa lý theo nhu cầu tuyển dụng của trung tâm dữ liệu, hoặc chấp nhận chuyển đổi sang việc làm dịch vụ linh hoạt, thay vì tham gia định hình ưu tiên phát triển của nền kinh tế hay phân phối thành quả năng suất. Lời hứa thịnh vượng chung, được trình bày thông qua đề xuất quỹ tài sản công, cổ tức hiệu quả hay an sinh thích ứng, vận hành như kỳ vọng ổn định hóa, dẫn dắt lo âu giai cấp vào sự phụ thuộc thể chế hóa, bảo đảm quá trình xã hội hóa sản xuất tiếp tục tiến triển dưới sự điều phối tập trung, mà không kéo theo xã hội hóa quyền sở hữu hay dân chủ hóa quyết định đầu tư.
Nghịch lý cấu trúc then chốt này, nơi tiềm năng xã hội hóa của lực lượng sản xuất bị khóa chặt trong quan hệ sở hữu tư nhân và định hướng theo mục tiêu tích lũy dài hạn, cấu thành mâu thuẫn trung tâm của nền kinh tế Mỹ đương đại. Cơ chế điều phối tập trung đã hiện hữu, năng lực kế hoạch hóa vĩ mô đã được thể chế hóa, và hạ tầng sản xuất đã đạt đến trình độ phụ thuộc lẫn nhau ở quy mô toàn cầu, nhưng toàn bộ kiến trúc ấy vẫn vận hành để bảo vệ địa vị của thiểu số nắm quyền kiểm soát vốn, công nghệ và tiêu chuẩn kỹ thuật. Phương thức mà qua đó chủ quyền tiền tệ tách rời khỏi nền tảng sản xuất vật chất, cho phép phát hành tín dụng fiat không bị ràng buộc bởi kỷ luật kim bản vị, cơ chế bá quyền đô la tạo điều kiện rỗng hóa công nghiệp nội địa có chủ đích, chuyển dịch trọng tâm tích lũy sang khu vực dịch vụ tài chính và địa tô tài sản, cùng kênh trích xuất giá trị thông qua lãi suất, phí giao dịch, định giá tài sản và sở hữu trí tuệ thay thế lợi nhuận công nghiệp làm trục tâm tích lũy, sẽ được truy nguyên chi tiết trong Phần III thông qua lăng kính kinh tế chính trị của Michael Hudson. Tại đó, nguồn gốc lịch sử của sự đứt gãy năm 1971, quỹ đạo ký sinh của chủ nghĩa đế quốc tiền tệ, và cách thức tiềm năng giải phóng bị chuyển hóa thành công cụ duy trì trật tự giai cấp cũ, sẽ được giải mã toàn diện, làm rõ tính tất yếu của việc giành lại quyền kiểm soát dân chủ đối với cơ chế điều phối đã chín muồi.
SOURCES:
C. Marx & F. Engels, Hệ tư tưởng Đức, 1845
Aristotle, Chính trị luận, Quyển I; K. Marx, Tư bản, Quyển I, Chương 4 & Quyển III. Marx ghi nhận rõ sự kế thừa tư tưởng “sản xuất vì nhu cầu” từ Aristotle và các nhà xã hội không tưởng Anh-Pháp, đồng thời chuyển hóa nó thành phân tích khoa học về mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi.
Phương thức sản xuất là cách thức con người tổ chức, thực hiện việc khai thác và tạo ra của cải vật chất trong các giai đoạn lịch sử nhất định. Theo triết học Mác - Lênin, đây là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất (trình độ kỹ thuật) và quan hệ sản xuất (cách thức sở hữu, quản lý) tương ứng.
Về ba giai đoạn trong sự phát triển của chủ nghĩa xã hội, Trình Ân Phú, 2022, liên kết: https://dn720006.ca.archive.org/0/items/on-the-three-stages-in-the-development-of-socialism/On%20the%20Three%20Stages%20in%20the%20Development%20of%20Socialism.pdf
Trình Ân Phú (chủ biên), Chính trị kinh tế học Mác-xít, NXB Khoa học Xã hội Trung Quốc, 2016
K. Marx, Lời nói đầu cho Góp phần phê phán Kinh tế chính trị, 1859
V.I. Lenin, Nhà nước và cách mạng
K. Marx, Lời nói đầu cho Góp phần phê phán Kinh tế chính trị, 1859
Chính sách Công nghiệp cho Thời đại Thông minh, OpenAI, 2026, liên kết: https://openai.com/index/industrial-policy-for-the-intelligence-age/
Tư bản tài chính, Rudolf Hilferding, 1910, Liên kết: http://gesd.free.fr/hilfe1910.pdf
Siêu các-ten (metacartels), Ed Berger, Reciprocal Contradiction 2.0, 2024, Liên kết: https://edberg.substack.com/p/metacartel

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

