Nhiều nhà sử học của Đế quốc Nga và Liên Xô cho rằng các dân tộc Ukraina, Belarus và Nga có chung nguồn gốc từ một “dân tộc Rusʹ cổ”, từng sở hữu một nền văn hóa thống nhất và sử dụng chung một ngôn ngữ được gọi là “tiếng Đông Slav cổ”. Theo cách tiếp cận này, cộng đồng đó được hình thành từ sự hợp nhất của các bộ tộc Đông Slav trong thời kỳ Kyivan Rusʹ, nhưng sau đó bị chia rẽ bởi những tác động bên ngoài, trong đó đáng chú ý là cuộc xâm lược của quân Mông Cổ.
Những người ủng hộ học thuyết trên lập luận rằng sự tan rã của cái gọi là “dân tộc Rusʹ cổ” là một bất công lịch sử, khi một cộng đồng được cho là thống nhất về văn hóa và ngôn ngữ lại bị chia cắt bởi sự can thiệp của các thế lực bên ngoài như Mông Cổ, Litva và Ba Lan. Từ đó, họ cho rằng người Nga mang trách nhiệm lịch sử trong việc “thống nhất” ba dân tộc anh em, coi đây là một sứ mệnh nhằm khôi phục “công lý lịch sử”.
Cách diễn giải này trở thành một trong những trụ cột quan trọng của chủ nghĩa dân tộc Nga. Theo đó, trong nhận thức của nhiều người Nga, Ukraina và Belarus thường được mặc định là những bộ phận cấu thành của một dân tộc “đại Rusʹ”, với Nga giữ vai trò trung tâm.
Đối với những ai chưa biết, Kyivan Rus' là một nhà nước trung cổ ở Đông Âu, bao gồm nhiều công quốc và thân công quốc được cai trị bởi gia tộc Rurik.
Nhà nước này được thành lập vào thế kỉ thứ IX thông qua quá trình thôn tính các bộ lạc Slav, Baltic và Finno bởi người Varangia, và được hợp nhất bởi công vương Oleh sau khi ông đánh chiếm thành Kyiv, thiết lập quan hệ ngoại giao-kinh tế với Constantinople và đẩy lui ảnh hưởng của người Khazar khỏi khu vực. Vào thời kỳ cực thịnh, lãnh thổ của Kyivan Rus' trải dài từ dãy Carpathia đến sông Volga, và từ biển Baltic đến biển Đen, bao gồm cả lãnh thổ của người Đông Slav, Turkic, Finno-Ugric và người Baltic. Năm 988, Đại công Volodymyr chính thức tiếp nhận Kitô giáo làm quốc giáo của Rus', qua đó mở ra quá trình tiếp thu sâu rộng các ảnh hưởng văn hóa và tri thức từ Đế chế Byzantine, củng cố sự thống nhất chính trị và gắn kết văn hóa (mà chủ yếu là về tôn giáo) của Rus.
Xét về mặt lãnh thổ, quả thực là nhà nước Rus cổ có một lãnh thổ tương đối rõ ràng, nhưng đó là lãnh thổ nhà nước, không phải lãnh thổ dân tộc. Từ góc độ dân tộc học, quốc gia Rus cổ không chỉ có người Slav, mà còn có cả Turkic, Baltic, Finno-Ugric. Lãnh thổ Rus cổ cũng không đồng đều về mặt dân cư, bởi từng phần của nó bị chia cắt bởi những khu rừng vào đầm lầy rộng lớn rất khó vượt qua. Để đi lại giữa các vùng lãnh thổ, người ta buộc phải di chuyển thành đoàn dọc theo những tuyến đường mòn và đường sông nguy hiểm. Vậy liệu người Đông Slav dưới những điều kiện như vậy có thể cảm nhận được sự thống nhất của lãnh thổ trải dài từ dãy Carpathia và Nadross đến tận Pskov và Rostov hay không? Có lẽ chỉ một số ít các quan chức chính quyền của triều đình Đại Công vương thường đi lại khắp các vùng để thu thuế hàng năm và thực hiện các chức năng nhà nước mới có thể cảm thấy điều đó. Nhưng làm sao phần lớn dân cư - thành phần chính tạo nên quốc gia - có thể nhận thức được bất kỳ sự thống nhất nào của toàn lãnh thổ, trong bối cảnh phương tiện đi lại và giao thông còn sơ khai, với những chướng ngại thiên nhiên khổng lồ ngăn giữa các vùng lãnh thổ bị Rus cai trị? Tất nhiên là không! Ở mỗi vùng tách biệt, người dân ở đó có sự "thống nhất lãnh thổ" trong "lãnh thổ" của riêng họ. Tại mỗi vùng lãnh thổ như vậy, họ hình thành và phát triển những tập quán, văn hóa vật chất và tinh thần khác nhau. Người Slav ở vùng Novgorod, Muron hay Rostov hầu như không có liên hệ gì với vùng Dnipro, và chắc chắn ít khi nghĩ vùng đất xa xôi đó là "của họ".
Do vậy, sự thống nhất của lãnh thổ Rus' cổ chỉ được nhận thức ở cấp độ nhà nước. Mà ngay cả thế, bởi Kyivan Rus là một liên minh bán liên bang, với Novgorod thường xuyên chống lại Kyiv còn Polotsk thì không chịu thần phục, khiến các công vương Kyiv liên tục phải trấn áp các công quốc nổi loạn ở ngoại vi, sự "thống nhất" này cũng chỉ mang một tính chất đặc thù tương đối. Chỉ có tầng lớp cầm quyền và tăng lữ cao nhất mới có thể hình thành được ý thức về "toàn Rus'".
Vậy còn về ngôn ngữ? Cũng giống như tiếng Latin được sử dụng làm ngôn ngữ cho ngoại giao, khoa học và tôn giáo tại nhiều nước châu Âu, thì kể từ thời Kyivan Rus, tại Đông Âu cũng đã có một ngôn ngữ chung được sử dụng trong các văn tự. Đó là tiếng Slav Nhà thờ cổ, được phát triển từ các phương ngữ Macedonia của tiếng Bulgaria cổ. Tuy nhiên, đây là một ngôn ngữ nhân tạo được phát triển bởi nhà thờ, xa lạ với hầu hết dân chúng.
Mặc dù vậy, trong những bản văn ít chính thức hoặc không chuyên, chữ khắc trên đá dưới chân các nhà thờ cổ và chữ khắc trên vỏ cây, người ta tìm được một lượng lớn dấu vết từ vựng, ngữ pháp và cấu trúc câu của ngôn ngữ địa phương. Bằng phương pháp so sánh giữa các mẫu văn bản thu được từ các vùng khác nhau, nhiều nhà sử học Ukraina và Nga đã phát hiện sự tồn tại của nhiều ngôn ngữ dân gian đông slav cổ trong Kyivan Rus. Những nhà thờ tiêu biểu tại Ukraina với chữ khắc từ thời Kyivan Rus bao gồm: nhà thờ thánh Sofia tại Kyiv, nhà thờ thánh Cyril và Athanasius tại Kyiv, nhà thờ Đấng cứu thế ở Berestov tại Kyiv
Những người ủng hộ thuyết dân tộc đại Rus' lập luận rằng sự tồn tại của những đặc trưng chung trong các ngôn ngữ đông Slav là bằng chứng cho sự hiện diện của ngôn ngữ dân gian đông Slav cổ thống nhất. Nhưng đây là một lập luận mong manh và thiếu sức thuyết phục. Bởi các cộng đồng người Slav trong Rus' phân bố không đồng đều, bị chia cắt bởi những vùng hoang dã không người và khó đi lại, nên việc tất cả những đặc trưng chung trong các ngôn ngữ Đông Slav đều được hình thành đồng thời trên toàn bộ lãnh thổ Đông Slav là bất khả thi. Khả năng cao hơn là từng đặc trưng chung của các ngôn ngữ đông Slav đã được phát triển bởi từng phương ngữ riêng lẻ ở từng vùng khác nhau, sau đó lan rộng ra các vùng khác thông qua quá trình tương tác liên tộc người dưới thời Kyivan Rus. Thực tế, các đặc trưng chung của bất kỳ nhóm ngôn ngữ có quan hệ nào không nhất thiết phải là di sản từ một ngôn ngữ mẹ duy nhất. Ví dụ, như đã biết, các ngôn ngữ Tây Slav hiện đại có một số đặc điểm chung về ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng, mặc dù chưa từng tồn tại một ngôn ngữ Tây Slav nguyên thủy duy nhất.
Như vậy, ngôn ngữ nói dân gian trong thời kỳ Kyivan Rus' thực chất là một tập hợp gồm nhiều phương ngữ có quan hệ gần gũi với nhau nhưng vẫn khác biệt rõ rệt, chứ không cấu thành một ngôn ngữ Đông Slav cổ thống nhất. Những khẳng định cho rằng tồn tại một "ngôn ngữ dân gian Rus' cổ" là ngôn ngữ chung của "dân tộc Rus' cổ" đều không có cơ sở khoa học và thực chứng vững chắc, mà là sản phẩm của tuyên truyền đế quốc.
Còn về văn hóa? Để ủng hộ quan điểm về một văn hóa Rus' cổ thống nhất, các nhà nghiên cứu có thể đưa ra nhiều luận cứ như: sự tồn tại của đức tin Chính thống giáo chung, của những đặc điểm tương đồng trong kiến trúc và hội họa trong văn tự cổ. Tuy nhiên, vì một lý do nào đó, họ lại bỏ qua một thực tế hiển nhiên và không thể phủ nhận. Đó là: trong Kyivan Rus' trên thực tế tồn tại hai nền văn hóa khác nhau:
Nền văn hóa thứ nhất là nền văn hóa chính thức, siêu dân tộc, được tạo ra bởi các cơ cấu nhà nước và được định hướng bởi hệ tư tưởng của Giáo hội Kitô giáo. Nền văn hóa Kitô giáo theo truyền thống Cyril và Methodius này, dù mang một số đặc điểm địa phương, không chỉ phổ biến ở Rus' mà còn hiện diện tại Bulgaria theo Kitô giáo, Moravia, Romania, Slovakia và cả Đế chế Byzantine. Rõ ràng, một nền văn hóa như vậy không thể dẫn tới sự hình thành của một sắc tộc thống nhất, cũng như không thể trở thành văn hóa của một "dân tộc Rus' cổ" theo nghĩa dân tộc học.
Bên cạnh đó, cần lưu ý đến một sự thật không thể chối cãi khác: văn hóa Kitô giáo Rus' cổ không phải là thành quả của những nỗ lực chung của toàn bộ các bộ tộc Đông Slav từ dãy Carpathia đến sông Volga và từ Biển Trắng đến Tmutarakan, mà chủ yếu được hình thành tại Kyiv và các đô thị khác ở Nam Rus', rồi được lan truyền từ trung tâm giáo hội Kyiv về phía bắc và đông bắc.
Nền văn hóa thứ hai của Kyivan Rus' là văn hóa của người dân thường, được thể hiện qua các phong tục dân gian, nghi lễ, đời sống sinh hoạt hằng ngày và văn học dân gian. Đây là một nền văn hóa hoàn toàn khác, đối lập rõ rệt với văn hóa chính thức, bởi nó vẫn chủ yếu dựa trên các truyền thống cổ giáo, chứ không phải Kitô giáo. Do đó, đây mới thực sự là một nền văn hóa dân gian, và nó chỉ có thể được xem là dấu hiệu của một "dân tộc Rus' cổ" nếu như nó mang tính chung cho toàn bộ các vùng đất của Kyivan Rus'.
Tuy nhiên, trên thực tế, ở mỗi khu vực, cư dân đều có những truyền thống văn hóa riêng, những phong tục và nghi lễ lâu đời của tổ tiên, hệ thống văn học dân gian riêng, cùng với thế giới tâm linh-tinh thần đặc thù. Ngay cả Kitô giáo cũng không trở thành một yếu tố san bằng và thống nhất: tôn giáo này chỉ thực sự được xác lập như đức tin thống trị trong các đô thị, còn tại nông thôn – vốn chiếm đa số dân cư – quá trình Kitô hóa trên diện rộng chỉ diễn ra sau cuộc xâm lược của người Mông Cổ–Tatar.
Tóm lại, gần như không thể chứng minh có một "dân tộc Rus cổ" từng tồn tại. Đồng thời, ta cũng không nên nói về xã hội Rus' cổ như một dân tộc thống nhất, mà đúng hơn là một cộng đồng tương đối lỏng lẻo gồm nhiều nhóm Đông Slav khác nhau về ngôn ngữ và tộc người, cùng tồn tại trong một nhà nước chung với một tư tưởng chính thức và một tôn giáo thống trị.
Nếu vậy thì các sắc tộc Ukraina, Nga và Belarus sơ khai đã được hình thành như thế nào? Chúng ta hãy cùng nghiên cứu điều này trong phần tiếp theo.
Các bằng chứng khảo cổ và di truyền học đã cho thấy, người Slav ở Đông Âu ban đầu chỉ cư trú trong phạm vi lãnh thổ tương ứng với vùng Polissya và khu vực rừng-thảo nguyên của Ukraina ngày nay. Đây chính là phần phía Đông của quê hương tổ tiên cổ xưa của toàn bộ người Slav. Sau sự sụp đổ của cộng đồng ngôn ngữ-tộc người tiền Slav cổ đại, khu vực này được cư trú bởi những nhóm bộ lạc Slav có quan hệ gần gũi nhưng không hoàn toàn đồng nhất, cụ thể là nhóm bộ tộc Sklavin và Antes, trong đó sắc tộc Ukraina bắt đầu hình thành từ khoảng giữa thiên niên kỉ thứ nhất sau Công nguyên.
Sắc tộc Ukraina sơ khai được phân chia khá rõ rệt thành hai khối khác biệt về mặt dân tộc học và có lẽ cả phương ngữ, đó là khối phía bắc và khối phía nam.
Khối phía bắc, bao gồm Polissya, Volhynia, Transnistria và vùng tiền Carpathia, về cơ bản tương ứng với khu vực cư trú của người Sklavin cổ đại, được sử gia người Goth là Jordanes nhắc đến vào thế kỷ VI. Hậu duệ của Sklavins là nhiều bộ lạc đông đảo, về sau hợp nhất thành các liên minh bộ lạc như Dulib, Volhynia, Derevlia, Dregovichi, Polya phương bắc và một phần Severia. Khối phương ngữ phía bắc này về sau đã trở thành nền tảng cho phương ngữ phía bắc của tiếng Ukraina.
Khối sắc tộc-ngôn ngữ Ukraina sơ khai phía nam được hình thành vào đầu thế kỷ VI sau Công nguyên tại vùng rừng-thảo nguyên Trung Dnipro, bao gồm trung lưu các sông Sula, Psel và Vorskla, cũng như tại Thượng Dnipro, dọc theo sông Dnipro giữa sông Tyasmin và sông Ros, và tại vùng hợp lưu giữa sông Prut và Dniester. Trong khảo cổ học, khối này thường được đồng nhất với văn hóa Penkiv, tồn tại từ thế kỷ VI đến nửa sau thế kỷ VII sau Công nguyên. Phạm vi phân bố của văn hóa Penkiv trùng khớp rõ rệt với lãnh thổ cư trú của người Antes. Phần lớn các đặc trưng ngữ âm chỉ có ở tiếng Ukraina đã được hình thành tại khu vực phương ngữ phía Nam này.
Đến cuối thế kỷ VII, hậu duệ của người Antes và Sklavins đã vươn tới trình độ tổ chức xã hội tiền nhà nước. Các liên minh bộ lạc ban đầu được hình thành chủ yếu là các liên minh chiến binh tạm thời trong chiến dịch quân sự. Tuy nhiên, theo thời gian, các liên minh ổn định hơn giữa các bộ lạc láng giềng dần được hình thành, và từng bước chuyển hóa thành các công quốc phong kiến. Khi các công quốc này trở thành một phần của Kyivan Rus', sự hợp nhất hoàn toàn các liên minh bộ lạc cũ thành một sắc tộc thống nhất đã không diễn ra, bởi cư dân ở mỗi khu vực vẫn gắn bó chặt chẽ với lãnh thổ của họ thông qua truyền thống tổ tiên và kiên trì bảo tồn các đặc trưng tộc người cũng như phương ngữ riêng. Các mối liên hệ và ảnh hưởng lẫn nhau vào thời kỳ đó chủ yếu diễn ra ở cấp độ khu vực, và trước hết chủ yếu là giữa các cộng đồng láng giềng.
Vì vậy, song song với quá trình củng cố nhà nước Kyivan Rus, quá trình thống nhất khu vực của từ bộ phận riêng lẻ thuộc Kyivan Rus' lại diễn ra mạnh mẽ hơn nhiều. Có thể kể đến như khu vực Transnistria, Polissya, Precarpathia và Volhynia; khu vực Polotsk–Smolensk, vùng Pskov–Novgorod và vùng Rostov–Suzdal.
Do đó, ta một lần nữa khẳng định sự hình thành các dân tộc Đông Slav riêng biệt, trong đó có dân tộc Ukraina, không phải là kết quả của sự "chia tách" cái gọi là dân tộc Rus' cổ thành ba phần, mà là hệ quả của quá trình hợp nhất dần dần các nhóm liên minh bộ lạc–lãnh thổ Đông Slav liền kề và có quan hệ gần gũi với nhau thành những khối văn hóa–dân tộc học liên kết chặt chẽ. Trong quá trình củng cố sau đó, các khối này dần phát triển thành các dân tộc Ukraina, Nga và Belarus.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng quá trình hợp nhất các liên minh bộ lạc-lãnh thổ Đông Slav không diễn ra đồng thời. Các bằng chứng khảo cổ đã cho thấy, sự khác biệt về văn hóa vật chất và tinh thần giữa các bộ lạc Ukraina sơ khai đã bắt đầu mờ nhạt dần ngay từ thời tiền nhà nước vào thể kỉ VIII-IX, và đến thế kỷ XI-XII, văn hóa của các bộ lạc này đã tạo thành một chỉnh thể tương đối thống nhất. Trái lại, các bộ lạc được ghi chép trong biên niên sử ở vùng rừng phía Bắc Đông Âu vẫn giữ được bản sắc bộ tộc và văn hóa riêng cho đến khi Kyivan Rus tan rã vào thế kỉ XII.
Như vậy, quá trình hình thành sắc tộc ở miền Nam Rus', vốn gần với trung tâm văn minh Byzantine nhất, đã diễn ra nhanh hơn so với phía Bắc. Chính vì thế, ta có thể kết luận rằng: sắc tộc Ukraina đã được hình thành sớm hơn so với sắc tộc Belarus và Nga.
Có một ngộ nhận tương đối phổ biến là Kyivan Rus' đã bị tan rã bởi cuộc xâm lược của quân Mông Cổ-Tatar vào thế kỉ XIII. Thực tế, chính quyền trung ương của toàn Kyivan Rus' tại Kyiv đã sụp đổ từ đầu thế kỉ thứ XII. Trên lãnh thổ của nó lần lượt xuất hiện các công quốc và nhà nước độc lập: Kyiv, Chernihiv, Pereyaslav, Halych, Volodymyr-Volyn, Turiv, Smolensk, Polotsk, Volodymyr–Suzdal và Cộng hòa phong kiến Novgorod. Trên lãnh thổ Ukraina vào giai đoạn này, quá trình hợp nhất các nhóm liên minh bộ lạc-lãnh thổ liền kề và có quan hệ gần gũi với nhau thành những khối văn hóa-dân tộc học tương đối chặt chẽ diễn ra theo hai hướng chính: tại vùng Trung Dnipro (tức Kyiv, Pereyaslav và Chernihiv) và tại Halicia và Volhynia (tức công quốc Halicia-Volhynia). Cuộc xâm lược của Mông Cổ thực chất chỉ là chiếc đinh cuối cùng đóng vào cỗ quan tài của Rus'.
Trong khi Kyiv bắt đầu suy tàn từ nửa sau thế kỉ XII, Halicia ngày càng trở nên quan trọng trong số các công quốc sắc tộc Ukraina. Dưới triều đại của Roman Mstyslavych (1199–1205), Danylo xứ Halicia (1202–1264) và Lev I của Halicia (1269–1301), Công quốc Halicia–Volhynia đạt tới đỉnh cao quyền lực, trở thành quốc gia hùng mạnh nhất của Đông Âu thời bấy giờ. Danylo xứ Halicia được phong tước hiệu "Vua của Rus'" bởi Giáo hoàng, không chịu khuất phục hoàn toàn trước Hãn quốc Kim trướng Mông Cổ-Tatar. Ngoại danh "Russia" hay "vương quốc Ruthenia" vốn được dùng để chỉ Công quốc Halicia-Volhynia, chứ không phải Sa Quốc Nga sau này. Halicia-Volhynia cũng có thể được coi là một trong những quốc gia độc lập đầu tiên của người Ukraina về mặt sắc tộc. Sau khi suy yếu, Halicia-Volhynia vấn tiếp tục là trung tâm chính trị chủ yếu của toàn Ukraina thêm một thế kỉ. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vương quốc này trong một video khác.
Vương quốc Halicia–Volhynia tiếp tục giữ tên gọi "Rus'" (lúc này đã khác với Rus' của Kyivan Rus), trong khi các công quốc ở nhánh Dnipro bắt đầu xuất hiện tên gọi "Ukraina". Người Ukraina tới tận thế kỉ 19 ngoài tên gọi "Ukraina" vẫn còn gọi lãnh thổ tương đối của Ukraina là Rus'. Đồng thời "Ukraina" cũng được dùng để chỉ chung các công quốc thuộc lãnh thổ sắc tộc Ukraina như Halicia, Volhynia, Chernihiv, Kyiv,... Điều này được thể hiện rõ trong Hypatia Codex: "Công vương Rostislav tới Halicia Ukraina, chiếm hai thị trấn Halicia, và từ đó đi đến Halicia", "Công vương Danylo cùng người anh em chiếm Brest, Uhrovsk, Vereshchyn, Stolpye, Komov và toàn Ukraina". Do vậy, các nhà sử học Ukraina đặt ra tên gọi chung: "Ukraina-Rus" để chỉ Ukraina. Tổng giáo phận chính thống giáo Ukraina vẫn mang tên "Tổng giám mục Kyiv, Halicia và toàn Rus'" cho đến khi bị giáo hội Nga sáp nhập sau thỏa thuận Pereiaslav vào thời Kozak.
Tiếp đến, chúng tôi sẽ nói về nguồn gốc của sắc tộc Belarus.
Một đặc điểm quan trọng của quá trình hình thành sắc tộc Belarus nằm ở chỗ: lãnh thổ dân tộc–ngôn ngữ Belarus hiện đại ban đầu không phải do người Slav cư trú, mà là bởi người Baltic. Tổ tiên trực tiếp của người Belarus là các bộ lạc Krivichi, Dregovichi và một phần bộ lạc Radimichi.
Trong thế kỷ thứ VIII và đầu thế kỷ IX, trên lãnh thổ Belarus ngày nay đã hình thành rõ rệt hai nhóm Đông Slav lớn và khác biệt về mặt dân tộc học. Nhóm thứ nhất là nhóm tây nam — chiếm vùng Polissya và các khu vực lân cận, chủ yếu gồm người Dregovichi, có quan hệ gần gũi với các bộ lạc Ukraina phía bắc (Volhynia, Derevlia, Polyani). Nhóm thứ hai — nhóm đông bắc — bao gồm liên minh bộ lạc Krivichi, vốn di cư tới phía Bắc Đông Âu từ vùng Baltic phía Nam.
Vậy, bộ lạc Krivichi, Dregovichi và bộ lạc Radimichi đến từ đâu? Và tại sao họ lại xuất hiện ở lãnh thổ vốn của người Baltic?
Người Dregovichi được hình thành do sự di cư của một bộ phận người Volhynia và Derevlia lên các vùng đất phía bắc bên kia sông Pripyat, vốn được cư trú bởi người Baltic. Trung tâm của bộ lạc Dregovichi nằm tại Turiv, với Pinsk đồng thời là trung tâm kinh tế-văn hóa quan trọng. Trong các thế kỷ VIII–IX, người Volhynia và Derevlia tiếp tục tiến sâu hơn vào các vùng đất của người Baltic, lên tới Thượng lưu sông Neman. Người Volhynia cũng định cư tại khu vực tỉnh Brest của Belarus ngày nay. Ảnh hưởng của người Baltic đối với các cộng đồng Slav di cư ngày càng tăng khi người Volhynia và Derevlia tiến sâu hơn vào lãnh thổ Baltic. Bằng chứng là tại khu vực Brest, ngôn ngữ và văn hóa của người Volhynia hầu như không thay đổi đáng kể. Tuy nhiên, ở các khu vực phía bắc hơn, ảnh hưởng của người Balt đối với người Slav mạnh đến mức làm thay đổi cả kiểu hình nhân chủng Slav: người Dregovichi đã thuộc về kiểu nhân chủng Valdai, vốn được xem là kiểu Baltic.
Người Krivichi vốn di cư lên đất của người Finno ở vùng Bắc Đông Âu từ phía Nam vào thế kỉ thứ VI. Vào khoảng giao điểm giữa các thế kỷ VI–VIII, những người Krivichi từ lưu vực sông Velikaya bắt đầu tiến hành quá trình định cư mạnh mẽ trên những vùng lãnh thổ rộng lớn thuộc khu vực Naddvina Vitebsk–Polotsk và vùng Naddnipro Smolensk (tức các công quốc Polotsk và Smolensk về sau), vốn do người Baltic cư trú. Trong các thế kỷ VIII–IX, thông qua quá trình đồng hóa dân cư Balt bản địa, một nhóm dân tộc học riêng biệt của người Krivichi đã hình thành, đó là nhóm Krivichi Polotsk–Smolensk. Một bộ phận người Krivichi định cư dọc theo sông Polota, theo ghi chép của biên niên sử, được gọi là người Polotsk.
Quá trình di cư mạnh mẽ của người Krivichi vào các vùng đất tổ tiên của người Baltic tiếp tục diễn ra trong các thế kỷ IX–X, và đến thế kỷ XI, họ đã định cư trên toàn bộ lãnh thổ Belarus ngày nay. Trong các thế kỷ IX–XIII, người Krivichi Pskov và người Krivichi Polotsk–Smolensk phát triển như những nhóm dân tộc riêng biệt, tuy nhiên sự khác biệt dân tộc học giữa người Krivichi Polotsk và Smolensk về sau đã không còn.
Polotsk và Smolensk giữ vai trò quan trọng trong hệ thống thương mại của Kyivan Rus': họ kiểm soát hoạt động vận chuyển đường thủy giữa Thượng lưu sông Dnipro, sông Dvina và sông Volkhov. Ngoài ra, vì Polotsk được nối với Biển Baltic thông qua sông Dvina, người Polotsk có thể thiết lập quan hệ thương mại độc lập với phương Tây. Tất cả những yếu tố này đã tạo điều kiện thuận lợi cho xu hướng độc lập tự chủ khỏi Kyiv trong giới cầm quyền tại Polotsk.
Vì vậy, ngay vào đầu triều đại của Volodymyr Đại đế (tức những năm 980), thân vương Polotsk là Rogvolod đã tìm cách thoát khỏi sự kiểm soát của Kyiv. Các thân vương Polotsk cũng tiến hành chiến tranh với Pskov và Novgorod, tìm cách sáp nhập các vùng này vào công quốc của họ. Đến cuối thế kỷ XI, Polotsk trở thành thành phố đầu tiên trong số các đô thị Rus' cổ giành được độc lập khỏi công vương Kyiv. Công quốc Polotsk tồn tại cho đến cuối thế kỷ XIII, cho tới khi nó bị sáp nhập vào Đại công quốc Lithuania vào năm 1307. Theo các sử gia Belarus, vùng Polotsk đã trở thành trung tâm của quá trình hình thành và phát triển sắc tộc Belarus.
Chúng ta sẽ tiếp tục với nguồn gốc của sắc tộc Nga.
Quá trình hình thành nhóm dân tộc Đông Slav trẻ nhất — người Nga — là một tiến trình hết sức phức tạp và gây nhiều tranh cãi.
Trước hết, chúng tôi sẽ nói về Novgorod.
Vào giữa thiên niên kỉ I sau Công nguyên, lãnh thổ Đông Âu của người Nga tương lai vẫn chủ yếu được sinh sống bởi các bộ lạc Finno-Ugric và một phần người Baltic. Những tộc Slav đầu tiên xuất hiện trên các vùng đất này là người Krivichi Pskov và người Slovene Ilmen. Tổ tiên của người Krivichi Pskov di cư từ vùng Nam Baltic tới bờ hồ Pskov và lưu vực sông Velikaya vào thế kỉ thứ VI, họ đã tiếp xúc và đồng hóa cư dân Tây Phần vốn có nhiều yếu tố Baltic tại đây. Sau đó, họ tiếp tục khai phá thượng nguồn sông Dvina Tây, lưu vực thượng và trung sông Lovata, cũng như vùng hồ Thượng Volga. Các phương ngữ bộ lạc của người Krivichi Pskov đã trở thành nền tảng cho các phương ngữ Pskov. Về sau, vùng đất Pskov trở thành một bộ phận của Cộng hòa Novgorod.
Tổ tiên của người Slovene cũng di cư từ vùng Nam Baltic vào thế kỷ VII và khai phá lãnh thổ của vùng mà sau này trở thành Novgorod. Họ tiếp xúc và đồng hóa các bộ tộc Phần Lan-Baltic bản địa tại đây như Vod, Ves, Izhora và hình thành lên nhóm dân tộc học Slovene. Thủ phủ của bộ lạc Slovene chính là Novgorod.
Trong các thế kỷ IX–X, người Slovene mở rộng địa bàn sinh sống về phía tây bắc và đông bắc, đến các vùng Volga Yaroslavl và Kostroma, đồng thời tiến xuống phía nam tới khu vực hợp lưu Volga–Oka. Cùng với người Krivichi và các bộ lạc Đông Slav khác, họ tham gia vào quá trình khai phá vùng Volga Yaroslavl–Kostroma và vùng hợp lưu Volga–Klyazma (tức lãnh thổ Rostov–Suzdal sau này), đồng hóa các bộ lạc Finno-Ugric bản địa.
Kể từ năm 882, Novgorod và khu vực lân cận trở thành một phần của Kyivan Rus, đồng thời cũng là trung tâm văn hóa-chính trị lớn thứ hai của Rus' sau Kyiv. Sau khi chính quyền trung ương của Kyivan Rus tan rã năm 1136, Cộng hòa phong kiến Novgorod độc lập ra đời. Nước Novgorod độc lập sau đó đã đánh bại các cuộc xâm lược của người Đức và Thụy Điển.
Người Mông Cổ không chiếm được Novgorod, nhưng nhà nước này vẫn chấp nhận làm chư hầu và nộp cống cho Kim Trướng Hãn quốc. Trong khoảng thế kỉ IX-XIV tại Novgorod đã diễn ra quá trình hình thành nên một dân tộc riêng biệt. Tuy nhiên, quá trình hình thành dân tộc Novgorod đã bị chặn đứng vào năm 1478, khi Novgorod bị Moskva xâm lược và sáp nhập. Sa Hoàng Ivan III sau đó đã cướp bóc và thảm sát người Novgorod hàng loạt, những người còn sống đều bị đồng hóa thành người Moskali, mặc dù phương ngữ nói của Novgorod vẫn sống sót cho đến sau này.
Dân tộc Nga được hình thành trong khoảng thế kỷ XII–XV tại một khu vực có vị trí chiến lược giữa trung lưu sông Oka và thượng lưu sông Volga, là nơi giao nhau của nhiều tuyến thương mại lớn. Vào giữa thiên niên kỷ I sau Công nguyên, khu vực này do các bộ lạc Finno Ugric bản địa cư trú như: Meria, Ves, Vod, Muroma; còn lưu vực thượng Oka và thượng Don là nơi sinh sống bộ lạc Baltic Golyad. Người Slav chỉ bắt đầu xuất hiện tại đây vào thế kỷ thứ VIII.
Vào thế kỷ VIII, các bộ lạc Slav do một thủ lĩnh tên Vyatka dẫn đầu đã tiến vào vùng đất của người Golyad nói tiếng Baltic tại lưu vực thượng Oka. Qua quá trình hòa trộn và đồng hóa với người Golyad, một cộng đồng dân tộc học mới đã hình thành, được gọi là người Vyatichi. Trong thế kỉ thứ X, hậu duệ của người Vyatichi thượng Oka bắt đầu di cư dọc theo sông Oka về phía Ryazan, đẩy lùi hoặc đồng hóa các cộng đồng Finno-Ugric bản địa, qua đó tạo nền tảng sắc tộc cho Công quốc Ryazan sau này.
Vùng đất sau này trở thành Rostov–Suzdal trong thế kỷ X được khai phá bởi người Slovene Ilmen, người Krivichi Pskov và các tộc Ves Belozero đã bị Slav hóa. Từ Rostov–Suzdal, người Krivichi tiếp tục mở rộng xuống phía nam, định cư tại vùng Murom lân cận. Ngoài ra, một bộ phận người Krivichi Smolensk di cư đến khu vực hợp lưu Volga–Klyazma và lưu vực thượng Oka. Một tổ hợp sắc tộc-ngôn ngữ sau đó đã được hình thành tại lưu vực thượng Volga và trung Oka, được thống nhất nhờ ảnh hưởng của nền văn hóa Finno-Ugric. Lãnh thổ của người Vyatichi và Rostov-Suzdal phụ thuộc rất lỏng lẻo vào Kyiv mặc dù bị sáp nhập và Kyivan Rus' trong các năm 981-982. Lãnh thổ miền Trung của Nga Châu Âu hiện nay, trong đó có cả Moskva và các thế kỉ X-XIII là một tỉnh biên cương xa xôi, hẻo lánh của đế chế Kyiv, bị ngăn cách với Rus' Dnipro bởi một khối rừng rậm khổng lồ gần như không thể đi qua, trong đó có vùng rừng Bryansk nổi tiếng vẫn còn đến ngày nay. Vì lý do đó, cho đến thế kỉ thứ XV, tại vùng Dnipro-Ukraina, lãnh thổ xa xôi này được gọi là Zaleska, Zalissia hay Zaleska Zemlya, tức "vùng đất nằm sau rừng". Các khu định cư tại Zaleska trong một thời gian dài vẫn giữ các đặc trưng dân tộc học của các bộ tộc Finno-Ugric bản địa như Muroma, Meria và Ves. Quá trình hợp nhất khu vực của nhiều bộ lạc tại đây thường diễn ra chậm chạp và kéo dài, do thành phần dân cư đa tạp.
Công quốc Rostov-Suzdal được hình thành tại khu vực hợp lưu giữa sông Oka và Volga trong thế kỉ thứ X. Trung tâm chính trị ban đầu của công quốc này ban đầu là Rostov, sau đó là Suzdal, nửa sau thế kỉ XII là tại Vladimir. Dân số của Rostov-Suzdal tăng nhanh với nhiều thành phố mới được lập nên, trong đó quan trọng nhất là Vladimir-na-Klyazma, được xây dựng dưới thời đại công vương Volodymyr Monomakh của Kyivan Rus. Khu vực Rostov-Suzdal có quan hệ thương mại trực tiếp với vùng Trung Á qua đường sông Volga và biển Caspi, để lại dấn ấn của Trung Á trong sự phát triển văn hóa-lịch sử sau này.
Dưới thời trị vì của Yuri Dolgoruky, con trai út của Vladimir Monomakh và chính là người sáng lập ra Moskva (năm 1147), ảnh hưởng chính trị của vùng Rostov-Suzdal tăng lên rõ rệt. Chính vùng Suzdal đã đứng đầu một liên minh gồm Novgorod, Polotsk và Smolensk có ý định li khai khỏi Kyiv. Tuy nhiên, Yuri Dolgoruky không có ý định đoạn tuyệt hoàn toàn với Kyiv, thậm chí còn muốn chiếm ngôi vị công vương Kyiv.
Quan hệ giữa vùng Suzdal với Kyiv thay đổi hoàn toàn sau khi Andrei Bogolyubsky, con trai của Yuri Dolgoruky với một người phụ nữ Cuman, lên nắm quyền. Ông lớn lên ở Suzdal và coi đây là quê hương thực sự của mình, Ukraina đối với ông là một vùng đất xa lạ. Do vậy, khi Andrei được Yuri Dolgoruky đưa lên làm công vương của Vyshhorod, ông đã bỏ trốn về Suzdal, mang theo nhiều báu vật, trong đó có cả bức thánh tượng nổi tiếng Đức Mẹ Vyshhorod-sau này trở thành thánh tượng quan trọng nhất của Chính thống giáo Nga. Đây chính là sự đoạn tuyệt công khai và mang tính biểu tượng với Ukraina, đánh dấu sự khởi đầu của nước "Nga" non trẻ.
Andrei Bogolyubsky không còn tham gia các chiến dịch chung của các công vương lại chống người Polovtsia, thậm chí còn tìm cách đoạn tuyệt với Kyiv ở cấp độ giáo hội bằng việc thiết lập một giáo khu riêng cho các vùng đất phía bắc. Ông dời thủ đô công quốc từ Suzdal sang Vladimir, và từ đó công quốc mang tên Vladimir–Suzdal. Andrei Bogolyubsky chính là người đã đặt nền móng cho nhà nước Nga sau này. Ông theo đuổi một chính sách thù địch với Kyiv. Nhà sử học Nga nổi tiếng Vasily Klyuchevsky đã viết rằng: "các thành phố Suzdal "khi ấy đã cấu thành một thế giới riêng biệt, với những quan hệ và quan niệm hoàn toàn xa lạ đối với các vùng Rus' cổ"".
Năm 1169, Andrei Bogolyubsky, lấy cớ coi Novgorod là của mình, đã đáp trả sự can thiệp của Kyiv vào Novgorod bằng vũ lực. Ông dẫn đầu một đại quân gồm mười một thân vương phương Bắc tiến đánh thành Kyiv, tàn phá nó một cách dã man. Biên niên sử ghi lại: "không có lòng thương xót đối với bất kỳ ai ở bất cứ đâu; nhà thờ bị thiêu rụi, người Kitô hữu bị giết hại hoặc bị bắt làm tù binh". Quân Suzdal cướp phá Nhà thờ Thập Phần và Thánh Sophia, mang đi các thánh tượng, sách vở và toàn bộ châu báu.Kyiv một lần nữa phải hứng chịu thảm họa tương tự vào năm 1203, khi thân vương Suzdal Vsevolod, liên minh với người Cuman, cướp phá và thiêu hủy kinh đô của Rus'.
Sự phẫn nộ và hằn thù mà người Suzdal trút xuống cư dân Kyiv, cũng như những hành động tàn bạo đáp trả của người Kyiv, cho thấy đây không còn là một cuộc xung đột nội bộ truyền thống giữa các thân vương, mà đã mang tính chất thù địch giữa các cộng đồng dân tộc khác nhau.
Đầu thế kỷ XIII, Công quốc Vladimir–Suzdal tan rã thành các công quốc riêng biệt: Rostov, Yaroslavl, Pereyaslavl, Moskva,... Năm 1238, quân Mông Cổ–Tatar tấn công vùng Vladimir–Suzdal và chinh phục Zalissya. Ách thống trị của Mông Cổ đã tách rời Zalissya hoàn toàn khỏi Rus'.
Từ giữa thế kỷ XIII, trên nền đất Vladimir–Suzdal, Đại công quốc Moskva - nhà nước Nga đúng nghĩa đầu tiên - nhanh chóng trở nên lớn mạnh và sáp nhập các vùng đất lân cận. Nhờ vị trí địa lý thuận lợi trên các tuyến thương mại quan trọng, kết hợp với vị trí địa lý dễ phòng thủ do nằm giữa rừng rậm và đầm lầy, Moskva dần trở thành trung tâm tự nhiên của các vùng đất Nga, hay Zalissya. Các thân vương Moskva, bắt đầu từ Ivan I Kalita (1325–1340), đã khéo léo lợi dụng quyền lực của các hãn Mông Cổ–Tatar cho mục tiêu chính trị của họ.
Trong nửa sau thế kỷ XIV, kinh tế của các vùng ngoại vi phía đông bắc của Kyivan Rus' đã phục hồi đáng kể. Điều này tạo ra cơ sở vật chất cho cuộc đấu tranh chống lại ách đô hộ Mông Cổ–Tatar. Chiến thắng của công vương Moskva Dmitry Donskoy trước quân Mông Cổ–Tatar trong trận Kulikovo (1380) đã củng cố vị thế lãnh đạo của Moskva trong số các công quốc Nga khác. Từ đây, Moskva bắt đầu đóng vai trò quyết định trong tiến trình thống nhất chính trị các vùng đất Nga và trong quá trình hình thành dân tộc Nga. Đến cuối thế kỷ XV, Công quốc Moskva đã sáp nhập các công quốc Yaroslavl và Rostov, Cộng hòa phong kiến Novgorod, Đại công quốc Tver, vùng Vyatka và một phần lãnh thổ Ryazan. Quá trình này dẫn đến sự hình thành của nhà nước Nga tập quyền. Năm 1480, Moskva thoát khỏi ách thống trị Mông Cổ–Tatar. Đại công tước Ivan III Vasilyevich trở thành người cai trị của một nhà nước Nga tập quyền thống nhất. Tuy nhiên, ách nô dịch Mông Cổ–Tatar đã để lại dấu ấn sâu sắc không chỉ trong ý thức con người, mà còn ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội–chính trị của nhà nước Nga non trẻ, và ở một mức độ nhất định còn phản ánh trong tâm thức của người Nga. Không phải ngẫu nhiên mà triết gia người Nga Nikolai Berdyaev đã gọi nước Nga là một "vương quốc Tatar được Kitô giáo hóa".
Sa Hoàng Moskva cũng là người đứng đầu Ulus Đông Bắc cũ của Kim Trướng hãn quốc trong bối cảnh đế chế của Thành Cát Tư Hãn sụp đổ, và đã được cả người Moskali lẫn người Tatar xem là người thừa kế hợp pháp của nhà nước Mông Cổ-Tatar. Theo nhà sử học người Nga Nikolai Trubetzkoy: "Nhà nước Moskva đã hình thành nhờ ách thống trị Tatar. Sa hoàng Nga là người kế vị của Hãn Mông Cổ. Việc lật đổ ách Tatar thực chất chỉ là thay thế Hãn Tatar bằng một Sa hoàng Chính thống giáo và chuyển bản doanh của Hãn về Moskva. Ngay cả một tỷ lệ đáng kể trong tầng lớp boyar và những người phục vụ Sa hoàng Moskva cũng là đại diện của giới quý tộc Tatar. Nhà nước Nga… có nguồn gốc từ nhà nước Tatar. Những sử gia nào nhắm mắt làm ngơ trước các điều kiện này, hoặc cố tình giảm nhẹ ý nghĩa của nó, thì khó có thể được coi là đúng.". Các công vương Moskva cùng tầng lớp quý tộc tại đây sẵn sàng kết hôn với giới quý tộc Tatar, coi đó là một vinh dự lớn.
Đồng thời, cần lưu ý rằng lãnh thổ của các Sa Hoàng Moskva dưới sự thống trị của Hãn quốc Kim Trướng vẫn duy trì Kitô giáo Chính Thống. Theo nhiều sử gia, chính trong thời kì Mông Cổ-Tatar cai trị, Kitô giáo mới thực sự trở thành tôn giáo của người Moskva. Ở phần lớn lãnh thổ của nhà nước Moskva, người dân thường không tự ý thức rằng học thuộc về một dân tộc cụ thể và cũng không có một tộc danh rõ ràng, mà chỉ gọi họ là "người Kitô hữu". Điều này lý giải cho một hiện tượng khá đặc biệt trong tiếng Nga: khác với người Ukraina và Belarus, tên gọi của nông dân Nga không xuất phát từ nơi cư trú ở nông thôn, mà chủ yếu có nguồn gốc tôn giáo.
Tên gọi của thủ đô nhà nước - Moskva - vốn có nguồn gốc từ tiếng Finno-Ugric, trở thành tên gọi của toàn bộ nhà nước. Thần dân của nhà nước Moskva được gọi là người Moskva, Moskovy hay Moskali. Tên gọi "Moskva", "Moskovia" trở thành tên quốc gia. Đó cũng là cách toàn bộ Châu Âu, người Thổ, người Ả Rập từng gọi nước Nga. Người Ukraina kể từ thế kỉ XV trở đi đều gọi người Nga là Moskali, và nước Nga là Moskovy.
Moskovy đổi tên thành Sa quốc Russkoye năm 1547, nhưng tên gọi Muskovy và Moskovia vẫn được dùng phổ biến cho đến tận thế kỉ thứ 18. Vào năm 1721, Sa Hoàng Peter đệ nhất đổi tên Sa quốc Russkoye thành Российская Империя, hay gọi ngắn là Rossiya - vốn là cách đọc từ "Russia" trong tiếng Hy Lạp, nhằm tuyên bố Nga là nước thừa kế cả Rus' cổ và đế chế Đông La Mã của người Hy Lạp. Phương tây từ đó dịch "Rossiya" thành tên Latin "Russia" - vốn trùng với tên ngoại danh trước kia của vương quốc Halicia-Volhynia của người sắc tộc Ukraina.
Một đặc điểm nổi bật của quá trình hình thành dân tộc Nga là sự tham gia với quy mô lớn của yếu tố huyết thống Finno-Ugric và một phần Baltic. Vai trò lịch sử của Finno-Ugric trong việc hình thành kiểu hình nhân chủng của người Nga, cũng như trong một số đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa dân tộc học của họ đã được chính các nhà nghiên cứu Nga thừa nhận.
Như vậy, mối liên hệ của người Nga với Kyivan Rus chỉ giới hạn ở chỗ: các vùng đất của họ từng trong một thời gian nào đó thuộc về nhà nước Rus' một cách bán chính thức, và những người Nga sau này đã tiếp thu văn hóa Kitô giáo của Kyivan Rus với nhiều ảnh hưởng Ukraina, bởi chính nhóm sắc tộc Ukraina là lực lượng kiến tạo nên nhà nước Kyiv, đồng thời họ cũng chủ động tiếp nhận tộc danh "Rus" trong lịch sử.
Nhà sử học Ukraina nổi tiếng Leonid Lvovych Zaliznyak hoàn toàn có lý khi nhận định rằng: "Quyền thừa kế của Moskva đối với di sản lịch sử và văn hóa của Kyiv thời công quốc không lớn hơn và cũng không nhỏ hơn quyền của Madrid, Lisboa, Paris hay Bucharest đối với lịch sử và văn hóa của Roma Latinh. Cũng như các dân tộc Rôman kế thừa một số thành tựu của văn hóa La Mã, người Belarus và người Nga đã tiếp nhận một số yếu tố của văn hóa Kyiv thời công quốc vào tổ hợp xác định bản sắc dân tộc của họ. Tuy nhiên, cũng giống như các dân tộc Rôman không phải là những người trực tiếp sáng tạo nên văn hóa Latinh của Roma, thì người Belarus và người Nga cũng chỉ có mối liên hệ gián tiếp với việc hình thành văn hóa Kyivan Rus. Xét cho cùng, phần lớn các yếu tố của nền văn hóa này đã xuất hiện trong phạm vi lãnh thổ Rus phương Nam, dù chịu ảnh hưởng từ bên ngoài của văn hóa Byzantine. Hơn nữa, điều đó diễn ra chủ yếu còn trước cả khi người Belarus và người Nga xuất hiện trên vũ đài lịch sử Đông Âu."
Vậy tại sao cái tên "Ukraina" lại có nghĩa là "vùng biên cương"? Một lần nữa, đây lại là một hiểu lầm phổ biến, nhất là với những người không biết tiếng Ukraina. Đây cũng là một luận điểm tuyên truyền rất phổ biến từ thời đế quốc Nga. Ví dụ, năm 1914, trong một bản báo cáo gửi Bộ trưởng Nội vụ Đế quốc Nga, Thống đốc tỉnh Poltava von Baggovut, bên cạnh nhiều biện pháp khác nhằm chống lại người Ukraina, đã đề xuất như sau: "Cần giải thích rằng 'Ukraina' có nghĩa là vùng biên viễn của Ba Lan và Nga, và rằng chưa từng tồn tại một dân tộc Ukraina.""
Sự hiểu lầm cực kì ngu ngốc về ý nghĩa của từ "Ukraina" xuất phát từ sự khác biệt giữa tiếng Ukraina và tiếng Nga. Trong tiếng Ukraina, "у" và "в" là giới từ chỉ vị trí; "країна" có nghĩa là đất nước, tổ quốc hoặc vùng đất mang sắc thái phân định. Từ "украй" vốn được dùng để chỉ lãnh thổ của từng bộ lạc bởi người đông Slav cổ. Trong tiếng Nga, từ có ý nghĩa tương tự với "країна" là "страна". Trong quá trình cố gắng hiểu nghĩa của từ "україна", người Nga đã gán ghép nó với một từ tiếng Nga khác nghĩa, đó là "окраина" - nghĩa là "vùng xa xôi hẻo lánh ở biên thùy". Kiểu diễn giải sai lệch này đã được tổng thống Nga Putin lặp lại rất nhiều lần khi phát biểu.