Liệu việc "thờ cúng ông bà tổ tiên" có phù hợp với lời Chúa dạy trong Kinh Thánh không?
Kinh Thánh đã nêu lên điều răn của Thiên Chúa: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa ban cho người…” ...

Kinh Thánh đã nêu lên điều răn của Thiên Chúa: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa ban cho người…” (Xh 20,12). Điều răn này được ghi lại trong Luật của ông Môsê, thời Cựu ước. Mãi đến thời Tân ước, Chúa Giêsu đã nhắc lại điều răn ấy và trách các kinh sư Do Thái giáo là đã không tuân giữ hẳn hoi (x. Mt 15,3-9).
“Thờ cha, kính mẹ”, trong tiếng Do Thái (kabad) có nghĩa là “tôn
vinh cha mẹ”, vì cha mẹ là hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng mà Kinh Thánh đã từng trình bày như là người cha (Hs 11,1-4; Is 1,2) và cũng như là người mẹ (Is 49,15; Hs 11,8).
Tất nhiên trong nhiều dân tộc khác nhau, ở mỗi nơi người ta có những cách thức riêng để biểu lộ lòng tôn kính cha mẹ của mình,
tùy theo phong tục. Ví dụ: người châu Âu sẽ ôm hôn cha mẹ; người châu Á thì thẹn thùng hơn nên chỉ khoanh tay hoặc chắp tay vái lạy để biểu lộ lòng cung kính, chứ không bao giờ ôm hôn cha mẹ tại nơi công khai (ý này tôi muốn nói về truyền thống, chứ ngày nay văn hóa Âu Mỹ dần được đón nhận trong nếp sống Á rồi). Thánh Phaolô khi đi truyền giáo cũng phải “nhập gia tùy tục” như thế. Chẳng hạn việc khi tiếp xúc truyền giáo cho dân ngoại, ngài đã đổi tên Saun (tên gốc Do Thái) thành Phaolô (tên Hi Lạp). Đặc biệt hơn nữa, ngài đã từng nói: “Với người Do Thái, tôi đã trở nên Do Thái, để chinh phục người Do Thái. Với những ai sống theo Lề Luật, tôi đã nên người sống theo Lề Luật, dù không phải sống theo Lề Luật nữa, để chinh phục người sống theo Lề Luật.” (1 Cr 9,20) Đây hẳn là một hình mẫu cho nếp sống hội nhập văn hóa trong công cuộc truyền giáo của người Công giáo.
Nguyên tắc sống mà thánh Phaolô đã tiên phong, ngày nay người ta gọi là “hội nhập văn hóa”, người truyền giáo phải đồng hóa cách sống của chính mình mới môi trường sống chung quanh (tất nhiên tôi chỉ đang nói về văn hóa thôi). Mục đích chính yếu và tối hậu là truyền tải Tin mừng của Chúa Giêsu Kitô đến với mọi người.
Việc “thờ cha kính mẹ” rất được coi trọng nơi người châu Á, trong đó có Việt Nam ta. Điều đó cũng rất hợp với đạo lý của
Kitô giáo. Chúng ta cần lưu ý vài điểm sau:
1. Người châu Á nói chung biểu lộ lòng hiếu thảo với cha mẹ không những khi các ngài còn sống, mà cả khi các ngài đã qua đời. Khác với người ngoại giáo cho rằng những người quá cố hoặc là bị tiêu diệt hoàn toàn hoặc là linh hồn họ lai vãng chỗ này chỗ kia, người Công giáo tin rằng: ông bà tổ tiên của mình đã qua đời nhưng một cách nào đó vẫn tồn tại trong Chúa, chứ không bị hủy diệt hoàn toàn thành hư vô, hồn bay phách tán hay luân hồi chuyển kiếp…Vì thế tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên là một khía cạnh mầu nhiệm các thánh thông công trong Nhiệm thể Chúa Kitô.
2. Người Việt Nam gọi lòng hiếu thảo với cha mẹ là “đạo hiếu”: tuy gọi là “đạo” nhưng đây không phải là một tôn giáo hay là tín ngưỡng, vì ông bà cha mẹ qua đời không có nghĩa là hóa thành những vị thần để mọi người thờ phượng. Tiếng “đạo” ở đây chỉ là những bổn phận (kiểu như “đạo làm người”, “đạo làm vua”, “đạo làm tôi”…trong triết lý của Trung Hoa thời Khổng Tử) mà con cháu phải thi hành để tưởng nhớ.
Thế nên, việc lập bàn thờ gia tiên trong gia đình (miễn là đặt dưới bàn thờ Chúa), dâng hoa, dâng trái, dâng hương không có
nghĩa là dâng lễ vật, nhưng mang nghĩa “tôn vinh” theo kiểu nói của Kinh Thánh: nói cách khác, các cử chỉ ấy chỉ có mục đích nhắc nhở con cháu về sự tồn tại của các ngài trong tương quan tình yêu với Thiên Chúa và nhắc nhớ về công ơn của các ngài trong việc cộng tác với Thiên Chúa mà sinh thành và dưỡng dục con cháu.
3. Việc chắp tay vái lạy có nghĩa là bái chào một cách kính cẩn như nhiều dân tộc châu Á vẫn hiểu và thực hiện trong giao tế dân sự, ví dụ Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan…, chứ không nhất thiết cứ chắp tay là tôn thờ.
4. Ngày giỗ hay kỵ nhật là ngày kỉ niệm ngày chết: đó cũng chỉ là ngày để con cháu họp nhau để kính nhớ tổ tiên, cầu nguyện cho các ngài chứ cũng không phải tụ họp để thờ phượng và tế tự.
Cảm ơn các nhện đã đọc bài viết của tôi. Nếu
có gì cần bình luận thì cứ viết nhé. Tôi thích đọc bình luận. =))
*Bài viết tiếp theo sẽ trình bày về lời phúc đáp của Tòa Thánh vào năm 1939, đối với Giáo hội tại Trung Hoa, kể từ cuộc tranh luận vào thế kỉ 17.

Lịch sử
/lich-su
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất