Mở đầu

Trong tiến trình đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều địa phương đã trở thành những căn cứ cách mạng quan trọng, góp phần quyết định vào thắng lợi của phong trào đấu tranh giành chính quyền. Trong số đó, làng Bừng, nay thuộc xã Tân Thanh, tỉnh Bắc Giang, là một địa danh tiêu biểu, gắn liền với những hoạt động cách mạng sôi nổi trước và trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Làng Bừng không chỉ là một địa bàn hoạt động bí mật của cán bộ cách mạng mà còn là nơi hình thành và phát triển lực lượng tự vệ cách mạng, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ sở, tuyên truyền vận động quần chúng và trực tiếp tham gia giành chính quyền ở địa phương. Với những đóng góp quan trọng đó, làng Bừng được xem như một “địa chỉ đỏ” trong lịch sử cách mạng của tỉnh Bắc Giang nói riêng và vùng trung du Bắc Bộ nói chung.
Việc nghiên cứu về làng Bừng không chỉ giúp làm rõ vai trò của một cơ sở cách mạng điển hình ở cấp làng xã, mà còn góp phần bổ sung thêm những minh chứng sinh động cho quá trình vận động cách mạng ở cơ sở – yếu tố mang tính quyết định trong thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Điều kiện tự nhiên và xã hội – cơ sở hình thành căn cứ cách mạng

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, làng Bừng có tên là Chuyên Mỹ, thuộc tổng Mỹ Thái, tỉnh Bắc Giang (nay thuộc xã Tân Thanh). Vị trí địa lý của làng có ý nghĩa đặc biệt đối với hoạt động cách mạng. Làng nằm trong khu vực trung du, ba mặt giáp núi, đường vào làng chủ yếu là một lối độc đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quan sát và phòng thủ. Những rặng tre dày đặc bao quanh làng không chỉ là đặc trưng của làng quê Bắc Bộ mà còn trở thành “lũy thép” tự nhiên, giúp che chở cho các hoạt động bí mật của lực lượng cách mạng.
Điều kiện tự nhiên này đã tạo nên một không gian tương đối an toàn, thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở cách mạng và tổ chức lực lượng tự vệ. Bên cạnh đó, đặc điểm kinh tế – xã hội của làng Bừng cũng là yếu tố quan trọng góp phần hình thành truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh của người dân nơi đây.
Người dân làng Bừng chủ yếu sống bằng nghề nông, đời sống còn nhiều khó khăn dưới ách thống trị của thực dân và phong kiến. Chính sự áp bức bóc lột nặng nề đã làm nảy sinh tinh thần phản kháng mạnh mẽ trong quần chúng nhân dân. Khi phong trào cách mạng lan rộng, người dân làng Bừng đã nhanh chóng tiếp thu tư tưởng cách mạng và tích cực tham gia vào các hoạt động đấu tranh.
Đặc biệt, sự kiện đổi tên làng từ Chuyên Mỹ thành Bừng mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Tên gọi “Bừng” thể hiện khát vọng bừng lên của phong trào đấu tranh cách mạng, đồng thời phản ánh ý chí quyết tâm của nhân dân trong việc đứng lên chống lại ách áp bức của kẻ thù.

Sự hình thành và phát triển của phong trào cách mạng ở làng Bừng

Từ cuối những năm 1930, phong trào cách mạng ở tỉnh Bắc Giang nói chung và khu vực làng Bừng nói riêng bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Nhiều cán bộ cách mạng đã về đây xây dựng cơ sở, tuyên truyền tư tưởng yêu nước và vận động quần chúng tham gia các tổ chức cách mạng.
Trong quá trình này, vai trò của nhân dân làng Bừng là hết sức quan trọng. Các gia đình trong làng đã trở thành những cơ sở nuôi giấu cán bộ, cung cấp lương thực, bảo vệ bí mật cho tổ chức cách mạng. Những ngôi nhà tranh đơn sơ đã trở thành nơi diễn ra các cuộc họp bí mật, nơi trao đổi thông tin và xây dựng kế hoạch đấu tranh.
Cùng với sự phát triển của cơ sở cách mạng, lực lượng tự vệ cứu quốc tại làng Bừng cũng được hình thành. Ban đầu, lực lượng này chỉ gồm một số thanh niên yêu nước, nhưng sau đó đã nhanh chóng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Họ được tổ chức luyện tập võ thuật, học cách sử dụng vũ khí thô sơ và thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ cơ sở cách mạng.
Một trong những điểm nổi bật của phong trào cách mạng ở làng Bừng là sự kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động tuyên truyền và đấu tranh vũ trang. Nhân dân trong làng không chỉ tham gia các hoạt động chính trị mà còn tích cực tham gia các hoạt động quân sự, góp phần làm suy yếu bộ máy cai trị của kẻ thù.

Vai trò của làng Bừng trong cao trào Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Trong cao trào Cách mạng Tháng Tám năm 1945, làng Bừng đã trở thành một trung tâm hoạt động cách mạng quan trọng của địa phương. Lực lượng tự vệ và quần chúng nhân dân trong làng đã tích cực tham gia vào các hoạt động chuẩn bị khởi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của tổ chức Việt Minh, các đội tự vệ được tổ chức chặt chẽ và hoạt động hiệu quả. Họ đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng như bảo vệ cán bộ, canh gác các tuyến đường vào làng và sẵn sàng chiến đấu khi cần thiết.
Nửa cuối năm 1944, chàng thanh niên dân tộc Nùng tên Lê Bá Ước (tức Trung tướng Lư Giang), người con vùng đất Lục Nam, Bắc Giang đã được tổ chức Việt Minh phân về làng Bừng để huấn luyện dân sĩ, tổ chức đấu tranh vũ trang. Trung tướng Lư Giang khi còn trẻ đã học thông thạo môn võ cổ truyền và những bài võ bí truyền của đồng bào Nùng. Ông cũng cưỡi ngựa giỏi, sử dụng súng và mã tấu thuần thục.
Trung ướng Lư Giang và bà Hà Thị Quế nhanh chóng tập hợp được gần 50 người làng Bừng tham gia rèn luyện vũ trang tinh nhuệ, có thể sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào. Ông Nhượng kể: “Ban ngày mọi người vẫn đi làm đồng và các công việc nhà. Đến buổi tối, bà Quế và ông Giang tập trung mọi người lại, để huấn luyện võ thuật, tập cưỡi ngựa, bắn súng, sử dụng mã tấu”. 
Sau một thời gian tập luyện, đến tháng 2-1945, đội du kích vũ trang làng Bừng đã chính thức ra đời ở khu vực Nghè Vườn Hơm, dưới sự chứng kiến của bà Hà Thị Quế và ông Hồ Công Lạng (nguyên bí thư tỉnh Thái Nguyên). Chiến công đầu tiên của đội du kích vũ trang làng Bừng là vào ngày 6-3-1945, đội đã chặn và cướp lại được 3 thuyền chở thóc của phát xít Nhật đang chở trên sông Thương. Tiếp sau đó, vào cuối tháng 3-1945, đội tiêu diệt được tên Việt gian Nguyễn Văn Y cùng gã võ sĩ kiếm đạo người Nhật.
Tháng 4-1945, bà Hà Thị Quế dẫn theo một số anh em trong đội du kích vũ trang làng Bừng sang vùng rừng núi huyện Yên Thế tổ chức khởi nghĩa cướp chính quyền. Sau khi Nhật đảo chính Pháp, vào ngày 15-4-1945, bà Quế và ông Cát Lượng (sau này trở thành Thiếu tướng, Trưởng ban kiểm tra Quân khu 1) đã phối hợp đội du kích vũ trang làng Bừng cùng lực lượng cứu quốc quân đóng tại đây đánh chiếm đồn Yên Thế.
Trận đánh diễn ra chớp nhoáng và đã dành thắng lợi lớn, chúng ta thu được 17 súng, 2 máy đánh chữ, tiêu hủy toàn bộ sổ sách, giấy tờ. Ngày 18-7-1945, bà Hà Thị Quế chỉ huy đội quân du kích làng Bừng kết hợp với cứu quốc quân đã giải phóng hoàn toàn các đồn, phủ ở huyện Yên Thế, Tân Yên (Bắc Giang). Đến nay ở ngôi chùa Nam Thiên, Thị trấn Nhã Nam, Tân Yên có khắc 2 câu ca: “Yên Thế lừng danh Hà Thị Quế/ Nhã Nam bất khuất đất anh hùng”. 
Ngày 14-8-1945, phát xít Nhật buông súng đầu hàng quân Đồng minh. Nhận thấy đây là thời cơ ngàn năm có một, Đảng, Mặt trận Việt Minh đã quyết định tổng khởi nghĩa dành chính quyền trong cả nước. Bắc Giang chính là tỉnh lị tiên phong trong cuộc tổng khởi nghĩa ấy. Đêm ngày 17-8-1945, Chủ tịnh ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Bắc Giang khi đó là ông Nguyễn Thanh Bình đã huy động đội tự vệ vũ trang làng Bừng cùng một số chiến sĩ ở những nơi khác tiến về Phủ Lạng Thương để chiến đấu, bảo vệ tỉnh lị, giải giáp quân Nhật.
Do Nhật đã đầu hàng từ trước, cùng với khí thế cách mạng dâng lên mạnh mẽ, khiến tên quan tỉnh ở Phủ Lạng Thương Nguyễn Ngọc Đĩnh nhanh chóng phất cờ trắng đầu hàng. Do đó cuộc nổi dậy dành chính quyền ở Bắc Giang vào đêm 17-8-1945, chiến sĩ không phải đổ máu. Đến sáng 18-8-1945 chính quyền Phủ Lạng Thương đã chính thức về tay cách mạng, về tay nhân dân.
Đặc biệt, trong những ngày Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, lực lượng tự vệ làng Bừng đã phối hợp với các địa phương lân cận tiến hành các hoạt động giành chính quyền ở phủ, huyện. Nhiều thanh niên của làng đã tham gia vào các đội vũ trang tiến về trung tâm tỉnh, góp phần vào thắng lợi chung của phong trào cách mạng.
Sự tham gia tích cực của nhân dân làng Bừng trong Tổng khởi nghĩa không chỉ thể hiện tinh thần yêu nước mà còn chứng minh năng lực tổ chức và sức mạnh đoàn kết của quần chúng nhân dân. Đây chính là yếu tố quyết định giúp phong trào cách mạng giành được thắng lợi nhanh chóng và ít tổn thất.

Đóng góp của làng Bừng trong các cuộc kháng chiến sau Cách mạng Tháng Tám

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, làng Bừng tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Nhiều thanh niên của làng đã lên đường nhập ngũ, tham gia chiến đấu trên nhiều chiến trường khác nhau.
Không chỉ đóng góp về lực lượng chiến đấu, nhân dân làng Bừng còn tích cực tham gia các hoạt động hậu cần, cung cấp lương thực và hỗ trợ các lực lượng kháng chiến. Những đóng góp thầm lặng nhưng bền bỉ này đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến.
Trong suốt các giai đoạn lịch sử, làng Bừng luôn giữ vững vai trò là một địa bàn có truyền thống cách mạng vững mạnh. Tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường của người dân đã trở thành nền tảng quan trọng để vượt qua những khó khăn, thử thách trong chiến tranh.

Phát huy truyền thống cách mạng trong công cuộc xây dựng quê hương hiện nay

Bước vào thời kỳ hòa bình và đổi mới, làng Bừng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội. Những thành tựu đạt được trong xây dựng nông thôn mới đã góp phần làm thay đổi diện mạo của làng quê. Cơ sở hạ tầng ngày càng được cải thiện, hệ thống đường giao thông được nâng cấp, các công trình phúc lợi xã hội như trường học, trạm y tế được xây dựng khang trang. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao.
Đặc biệt, công tác giáo dục truyền thống cách mạng được địa phương chú trọng. Những di tích lịch sử gắn liền với phong trào cách mạng được bảo tồn và phát huy giá trị, trở thành nơi giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Việc giữ gìn và phát huy truyền thống cách mạng không chỉ là trách nhiệm của chính quyền địa phương mà còn là nghĩa vụ của mỗi người dân. Thông qua các hoạt động văn hóa – xã hội, tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc tiếp tục được nuôi dưỡng và lan tỏa trong cộng đồng.
Tuy nhiên, sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, năm 1976, một số lão thành cách mạng đã có chủ kiến lập hồ sơ để báo cáo với cấp trên công nhận Bừng là làng cách mạng, làng có công với nước. Suốt từ năm 1976 đến 1978 ông Hà Văn Trung (nguyên là Bí thư Đảng ủy huyện Lạng Giang) và ông Hoàn Văn Sử – công an huyện phối hợp 1 cựu chiến sĩ tự vệ làng Bừng là ông Hoàng Hoa Phẩm đã cất công tìm kiếm những tư liệu về làng Bừng để lập thành hồ sơ. Sau khi hồ sơ đã hoàn thiện các ông đã không quản đường sá nhiều lần đạp xe từ Lạng Giang xuống thị xã Bắc Giang để giao nộp cho Ty Văn hóa Hà Bắc (khi đó Bắc Giang – Bắc Ninh vẫn còn gọi là tỉnh Hà Bắc) hồ sơ yêu cầu công nhận Bừng là làng có công với nước.
Một ngôi làng nghèo bỗng thành chiến khu che chở cho bao chiến sĩ cách mạng hoạt động. Những người nông dân vốn chỉ quen chân lấm tay bùn đã vùng đứng lên thành những chiến sĩ tự vệ giải phóng quân quả cảm. Đặc biệt làng chiến khu Bừng còn thành lập hẳn được một đội mà nhiều người ví nó như Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân số 2 (sau đội 1 do Đại tướng Võ Nguyên Giáp thành lập ở Cao Bằng). Đội tự vệ giải phóng quân ấy không chỉ chiến đấu ở làng, xã mà đã tiến xuống giải phóng Phủ Lạng Thương rồi cùng nhau hành quân ra Hà Nội cướp chính quyền ngày 19/8. Rồi có chiến sĩ của đội quân đó như ông Cứ đã vào quân đội và trở thành chiến sĩ cách mạng trường kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954)… Tất cả những trang sử hào hùng ấy giờ đây bị vùi vào quên lãng, chưa bao giờ được nhắc đến trong sách giáo khoa lịch sử. Thậm chí những học sinh, thanh thiếu niên ở chính làng Bừng cũng không hề biết về lịch sử quê hương mình. Còn chứng nhân sống, họ đang dần dần mất đi theo thời gian mà chả được bất kỳ một lời nói, hoặc văn bản ghi nhận công lao nào. Quả thực việc đó cần rất cơ quan chức năng các cấp quan tâm và phải làm ngay, nếu vẫn còn để muộn thì quả thực chúng tôi thấy có lỗi với những bậc tiền nhân lắm thay.

Kết luận

Lịch sử hình thành và phát triển của làng Bừng (Tân Thanh) là minh chứng sinh động cho vai trò quan trọng của cơ sở cách mạng ở cấp làng xã trong tiến trình đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam. Với vị trí địa lý thuận lợi, truyền thống yêu nước sâu sắc và tinh thần đoàn kết bền chặt, làng Bừng đã trở thành một căn cứ cách mạng tiêu biểu, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cũng như các cuộc kháng chiến sau này.
Những đóng góp của làng Bừng không chỉ mang ý nghĩa lịch sử mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Truyền thống cách mạng của làng Bừng là nguồn động lực tinh thần to lớn, thúc đẩy các thế hệ hôm nay tiếp tục phấn đấu, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, việc nghiên cứu và phát huy giá trị lịch sử của những địa phương như làng Bừng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành lịch sử mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa – lịch sử dân tộc.