(Trích chương kết của cuốn Lịch sử thế giới theo quan điểm cấp tiến)
Một em bé kêu khóc vì đói ở thảo nguyên Đông Phi. Bầu ngực của mẹ em bị khô kiệt vì bà đang chết đói. Gia súc chết vì không có mưa. Trong ngôi làng không có thức ăn. Mưa không rơi vì biển đang ấm lên, và những cơn gió mang mưa đến đang ngày càng yếu đi. Đứa bé đang kêu khóc vì sự biến đổi khí hậu.
Cách đó một thế giới, một người cha ở Bengali khóc cho những đứa con gái đã mất của mình – chúng bị nghiền nát dưới đống bê tông khi nhà máy sập đổ ở Dhaka, thủ đô Bangladesh như là công xưởng bóc lột công nhân tàn tệ của các tập đoàn. Mọi nhà máy đều được xây dựng bởi những nhà thầu bỏ giá thấp nhất. Giờ làm việc kéo dài, đồng lương rẻ mạt, sự ức hiếp là chuyện thường ngày. Những bức tường của toà nhà Rana Plaza cao tám tầng với những vết nứt có thể nhìn thấy rõ khi 5.000 công nhân được ra lệnh vào làm việc. Vụ sập đổ giết chết 1.138 người trong số họ. Các nhà máy an toàn có chi phí cao hơn. Các nhà máy an toàn có nghĩa là lợi nhuận thấp hơn – cho Primark và cho nửa tá các nhà bán lẻ thời trang khác nằm trên một đại lộ gần nơi bạn đứng.
Cách đại lộ ấy nửa dặm, một người đàn ông tàn tật treo cổ tự vẫn. Phúc lợi của ông đã bị cắt và ông không thể nuôi sống gia đình mình. Ông chết tại Burnley ở Anh – một đất nước giàu thứ 10 thế giới. Ông ấy không đơn độc: một triệu người Briton giờ đây đang sử dụng ngân hàng thực phẩm. Bởi vì những người nghèo nhất đang ngày càng nghèo hơn. Người ta gọi đó là ‘cắt giảm thâm hụt’.
Người giàu đã biến các ngân hàng thành những sòng bài đánh bạc. Rồi nợ biến thành nợ xấu và các ngân hàng gần như sụp đổ. Do vậy, họ đã cướp từ công quỹ để giải cứu các ngân hàng. Nhưng phải có ai đó trả giá. Họ quyết định rằng đó phải là người nghèo. Người ta gọi đó là ‘thắt lưng buộc bụng’.
Cách đó một thế giới khác, một người mẹ Yemen khóc thương những đứa trẻ của bà – chúng cũng bị nghiền nát dưới đống bê tông, lần này là do cuộc không kích của Ả Rập Xêút. Các tập đoàn ở Anh cung cấp vũ khí. Họ gọi đó là ‘Cuộc chiến chống khủng bố’. Một triệu người khác hoặc hơn đã chết khắp Trung Á và Trung Đông. Hàng chục triệu người mất nhà cửa. Nhưng chiến tranh tiếp diễn, và bọn buôn vũ khí thì ngày càng giàu thêm.
Ở Địa Trung Hải, một chiếc thuyền mục nát chở người quá tải bị lật úp rồi chìm. Một trăm người chết đuối trước khi cứu hộ có mặt. Tính tổng, khoảng một ngàn người chết khi vượt biển mỗi năm. Cả ngàn người trong số hàng triệu đang di chuyển trong một thế giới bị tàn phá bởi chủ nghĩa quân phiệt và quyền lực tập đoàn.
Những người thực hiện cuộc hành trình bị dồn vào các trại tập trung, bị giam cầm đằng sau dây thép gai, bị ức hiếp bởi bọn du côn mặc đồng phục, bị mắng nhiếc bởi những chính trị gia phân biệt chủng tộc. Họ là những con hủi của chủ nghĩa tư bản hiện đại – những kẻ không ai cần đến, những kẻ bị ruồng bỏ, những kẻ ‘không sạch sẽ’. Hơn 400 người tìm cách tự sát sau khi đặt chân đến riêng nước Đức. Hai mươi người đã thành công.
Sự biến đổi khí hậu, chiến tranh, và nghèo đói đang xé toang thế giới của chúng ta. Chúng không phải là những vấn đề riêng lẻ; chúng không phải là ‘những vấn đề đơn lẻ’. Chúng có liên hệ với nhau. Chúng là một phần của một hệ thống các quốc gia và các tập đoàn kình địch. Cái dẫn dắt hệ thống là cuộc cạnh tranh vì lợi nhuận.
Đã được nối cứng vào hệ thống ấy là sự làm giàu cho số ít, sự bần cùng hóa số đông, và sự hủy diệt hành tinh. Chỉ có lợi nhuận là quan trọng. Sự khốn khổ của nhân loại và sự tàn phá môi trường là ‘những thứ bên ngoài’ không tốn chi phí. Các xã hội bị đứt gãy và Thiên nhiên bị nhuốm đen là những phế phẩm của hệ thống.
Hệ thống lúc này đang đẩy chúng ta vào một vực thẳm – ô nhiễm hơn, chiến tranh nhiều hơn, nghèo đói hơn. Hành tinh đang nhanh chóng nóng lên. Trật tự quốc tế đang sụp đổ. Kết cấu xã hội bị xé toạc bởi tình trạng bất bình đẳng hết sức lố bịch.
Hệ thống này không thể cải tạo được. Các tập đoàn đã biến các nghị viện thành những rạp hát múa rối. Bọn chính khách triệu phú chống đỡ cho sân khấu, chẳng có tầm quan trọng gì hết. Nghị viện trở thành một căn phòng vang vọng những đoạn phát ngôn nghe có vẻ bắt tai của các tập đoàn.
Những kẻ chiếm 1% dân số sẽ không từ bỏ của cải và quyền lực của chúng. Không có giới tinh hoa nào ở trong lịch sử từng làm điều đó. Chúng sẽ không phá hủy cái hệ thống mà của cải và quyền lực của chúng lệ thuộc vào. Hoặc chúng ta chấm dứt sự cai trị của kẻ giàu, của các ngân hàng, và của các tập đoàn, hoặc cái hệ thống bị khủng hoảng giày vò sẽ kéo chúng ta vào chủ nghĩa man rợ và kéo hành tinh của chúng ta đến chỗ diệt vong.

Sự giàu có của thế giới

Trong 5.000 năm qua, kể từ khi cuộc Cách mạng Nông nghiệp lần đầu tiên làm khả thi những sự tích tụ của cải thặng dư rất lớn, nhân loại đã bước vào một triền dốc gồ ghề và bất trắc hướng đến sự thủ tiêu tình trạng thiếu thốn. Điều đó đã được thúc đẩy bởi ba động cơ lịch sử – sự tiến bộ về công nghệ, cuộc cạnh tranh của giai cấp thống trị, và cuộc đấu tranh giữa các giai cấp – và nó gồ ghề và bất trắc bởi vì hoạt động của các cơ cấu này, nhất là trong sự phối hợp, đã bị rối loạn.
Hơn 250 năm qua, kể từ khi bắt đầu cuộc Cách mạng Công nghiệp, nhịp độ thay đổi đã tăng tốc nhanh chóng. Một hệ thống tích lũy tư bản cạnh tranh năng động đã tạo ra một nền kinh tế toàn cầu không ngừng cách tân. Sự tài khéo và sự chăm chỉ của nhân loại đã đưa chúng ta đến ngưỡng cửa của sự sung túc về vật chất cho tất cả.
Song tiềm năng cho sự giải phóng khỏi tình trạng thiếu thốn cố hữu trong nền kinh tế vẫn chưa được thực hiện. Thay vào đó, có sự bóc lột và sự nghèo đói, chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh, nạn đói và bệnh dịch. Chúng ta đã tạo ra những nguồn kiến thức và của cải chưa từng có – thành quả của năm thiên niên kỷ lao động tập thể của nhân loại – thế nhưng chúng lại được tận dụng cho sự tham lam và bạo lực của một thiểu số nhỏ bé những kẻ không lao động sản xuất gì hết.
Mục đích của cuốn sách này là giải thích tại sao lịch sử lại diễn ra như vậy. Mục đích khác là chỉ ra rằng nó đã có thể khác đi. Điều đã trở thành trung tâm cho mạch tranh luận này là sự thật đơn giản rằng nhân loại làm ra lịch sử của chính mình. Họ không làm như vậy trong những điều kiện tự mình chọn lấy. Hành động của họ bị đóng khung bởi các cấu trúc kinh tế, xã hội, và chính trị của thời đại mình. Nhưng, khó tránh khỏi những sự câu thúc ấy – thật ra, vì những sự câu thúc ấy – con người phải đối mặt với một loạt lựa chọn. Đôi khi, họ chọn không hành động mà chọn mặc nhận. Khi ấy họ vẫn là những nạn nhân của lịch sử, bị lệ thuộc vào sự phán quyết của những kẻ khác, những kẻ cai trị họ, những kẻ tự mình phân xử vận mệnh của nhân loại. Lúc khác, có lẽ rất hiếm khi, họ chọn tổ chức và đấu tranh. Khi có đủ người đi theo lựa chọn ấy, họ trở thành một phong trào quần chúng và một lực lượng lịch sử. Thế rồi trái đất rung chuyển.
Chúng ta đã bước vào một thời cơ mà những lựa chọn trọng đại cần phải được thực hiện. Hoặc chúng ta bằng lòng với chính sách khắc khổ và cảnh nghèo đói, với bất công xã hội lố bịch đang gia tăng, rồi, hoàn toàn có thể, với sự suy đồi vào bóng đêm của chủ nghĩa phát-xít và chiến tranh. Hoặc chúng ta quyết định rằng cuộc khủng hoảng mới nhất này của chủ nghĩa tư bản phải là cuộc khủng hoảng cuối cùng của nó, và rằng chúng ta phải lật đổ sự thống trị của bọn chủ ngân hàng và bọn tướng lĩnh, rồi tạo ra một xã hội mới dựa trên dân chủ, bình đẳng, và sản xuất vì nhu cầu chứ không vì lợi nhuận.
Điều này là rõ ràng. Chủ nghĩa tư bản giờ đây phải đối diện với một cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống và sống còn. Cuộc khủng hoảng có những chiều kích kinh tế, xã hội, sinh thái, và chính trị. Một thập niên kể từ cuộc đổ vỡ năm 2008, chúng ta có vẻ như đã bước vào cuộc Đại Suy thoái mà có thể chứng tỏ là cuộc khủng hoảng khó chữa nhất trong lịch sử. Các vùng trung tâm đô thị lớn của hệ thống khổ sở vì mức sống sa sút, nghèo đói gia tăng, và hạ tầng cơ sở cùng các dịch vụ công mục nát. Toàn bộ các vùng của thế giới đang phát triển đã bị biến thành những công xưởng bóc lột khổng lồ của tập đoàn, và hàng chục triệu người phải ly hương bởi chiến tranh trong một vùng hỗn loạn rộng lớn trải dài từ Trung Á đến Tây Phi.
Bất chấp việc đầu tư quân sự khổng lồ, cường quốc bá chủ toàn cầu đang suy thoái, Hoa Kỳ, sau khi tỏ ra không có khả năng áp đặt ý chí của nó lên Iraq và Afghanistan, đã không thể thiết lập lại sự ổn định ở Trung Đông, không thể ngăn chặn thách thức đặt ra bởi sự tiến lên của các đối thủ đế quốc mới như Trung Quốc. Cách đối phó là nhiều vũ khí hơn nữa, quân sự hóa hơn nữa, và bạo lực hơn nữa.
Trong lúc ấy, màn đếm ngược tiếp tục hướng đến sự ấm lên toàn cầu không kiểm soát được cùng với một thảm họa khí hậu mà có thể hủy diệt nền văn minh công nghiệp.
Và từ những cống rãnh của hệ thống, như ở những năm 1930, con quái vật của chủ nghĩa phát-xít đang nổi lên.
Sự tha hóa của nhân loại chưa bao giờ lớn đến như vậy. Một mặt lao động tập thể đã tạo ra những lực lượng sản xuất với tiềm năng chưa từng có để loại bỏ tình trạng thiếu thốn. Mặt khác, vẫn những lực lượng ấy, hoạt động hoàn toàn vượt tầm kiểm soát của chúng ta, đã bị biến đổi thành những trung gian phá hoại gây hại đến sức khỏe của chúng ta, đến sự lành mạnh của chúng ta, thậm chí đến cả sự sinh tồn của chúng ta.
Phải làm gì?

Cách mạng ở Thế kỷ XXI?

Giới tinh hoa toàn cầu không thể tiếp tục cai trị theo phương cách cũ. Nhưng sự thay thế khả dĩ duy nhất đối với sự nghèo đói, chiến tranh, và sự ấm lên toàn cầu là phá hủy chính cái hệ thống mà sự giàu có và quyền lực của chúng dựa vào. Chúng không thể làm điều đó. Giai cấp thống trị chỉ có thể giải quyết cuộc khủng hoảng bằng một cuộc suy sụp vào chủ nghĩa man rợ. Đầu thế kỷ XXI, Vai trò của chúng như các chúa tư bản biến chúng thành một giai cấp xã hội ăn bám không có chức năng lịch sử.
Tiến bộ của nhân loại đã đi đến chỗ lệ thuộc vào việc lật đổ giai cấp thống trị tân tự do, việc nhân dân lao động nắm lấy quyền lực nhà nước, và việc tổ chức lại đời sống kinh tế cũng như xã hội dưới sự kiểm soát dân chủ.
Bài học của lịch sử thế kỷ XX chỉ ra rằng, để thành công, điều này phải được thực hiện trên phạm vi toàn cầu. Bài học 40 năm qua chỉ ra rằng ‘chủ nghĩa xã hội ở độc một nước’ là một sự ảo tưởng kỳ quặc hơn bao giờ hết. Nhưng liệu cách mạng thế giới có thực sự khả thi ở thế kỷ XXI?
Các cuộc cách mạng có đặc thù không dự kiến trước được, có tính lây lan cao, và là những cơ chế cực kỳ mạnh mẽ cho sự thay đổi. Cách mạng Pháp 1789 bùng nổ khi người dân Paris vũ trang cho mình, đổ xuống đường phố để ngăn chặn một cuộc đảo chính quân sự của phe bảo hoàng. Sau đó, giữa các năm 1789 và 1794, quần chúng liên tiếp can thiệp vào tiến trình chính trị để đẩy cuộc cách mạng tiến lên chống lại sự phản kháng của những kẻ ôn hòa thiếu can đảm, những kẻ phản cách mạng, và những đạo quân ngoại xâm.
Sau năm 1815, phong trào cách mạng lắng xuống, nhưng rồi bùng nổ, đầu tiên vào năm 1830 tại Pháp, sau đó vào năm 1848 với một làn sóng khởi nghĩa tại Paris, Berlin, Vienna, Budapest, Rome, và các thành phố châu Âu khác. Mặc dù các nhà cách mạng bị đánh bại, sự thúc đẩy mà họ đem lại cho cuộc cải cách là không thể nào ngăn chặn được. Những kẻ cai trị châu Âu biết chúng phải quản lý sự thay đổi từ bên trên hoặc có nguy cơ phải chịu thêm những cuộc bùng nổ từ bên dưới. Nước Pháp trở thành nền cộng hòa, nước Ý được thống nhất, và nước Đức được trui rèn thành một quốc gia-dân tộc hiện đại.
Tháng Hai năm 1917 chế độ độc tài cảnh sát của Nga hoàng đã bị lật đổ bởi cuộc nổi dậy của giai cấp công nhân. Tháng Mười năm 1917, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bolshevik và Soviet Petrograd, giai cấp công nhân Nga giành được chính quyền. Các nhà máy được vận hành bởi các ủy ban công nhân, ruộng đất được chia cho nông dân, và nước Nga rút khỏi Thế chiến thứ nhất. Trong vài năm ngắn ngủi, cho đến khi cuộc Cách mạng bị phá hoại bởi sự sụp đổ kinh tế, nội chiến, và ngoại xâm, nước Nga là một đất nước dân chủ nhất trên thế giới.
Cuộc Cách mạng Bolshevik đã khơi mào một phản ứng dây chuyền các cuộc cách mạng từ Đức tới Trung Quốc. Các cuộc cách mạng ở Đức và Áo-Hung đã chấm dứt Thế chiến thứ nhất. Giữa các năm 1917 đến 1923, phong trào cách mạng nói chung đã tiến sát đến việc lật đổ toàn bộ hệ thống tư bản thế giới.
Kể từ đó hệ thống đó vẫn chứa đầy cách mạng. Năm 1936, cách mạng ở Tây Ban Nha đã ngăn chặn cuộc đảo chính do phát-xít hậu thuẫn. Năm 1956, cách mạng nổ ra ở Hungary để đáp lại cuộc xâm lược của Liên Xô. Năm 1968, mười triệu công nhân tham gia một cuộc tổng bãi công ở Pháp, hàng trăm ngàn người chiếm giữ nhà máy, các sinh viên và các công nhân trẻ đã chiến đấu những trận đánh không cân sức với bọn cảnh sát chống bạo động tại trung tâm Paris.
Năm 1979, tại Iran cách mạng đã lật đổ một chế độ độc tài độc ác, được vũ trang tận răng, được Mỹ hậu thuẫn. Năm 1989, một làn sóng cách mạng khắp Đông Âu đã lật đổ một loạt những tên độc tài theo đường lối Stalin bất chấp những mạng lưới chỉ điểm, bọn cảnh sát mật, và những nhà tù chính trị của chúng.
Ngày 11 tháng Hai năm 2011, sau 18 ngày diễn ra những cuộc biểu tình quần chúng, chế độ độc tài quân sự tồn tại 30 năm của Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak đã sụp đổ trong chiến thắng ngoạn mục nhất của Mùa xuân Ả Rập.
Trước tất cả các cuộc cách mạng đó, những người phản đối đã nhìn vào những chế độ mà họ phải đương đầu và tuyệt vọng trước sức mạnh quân sự của chúng, sự kiểm soát xã hội bằng lực lượng cảnh sát độc đoán của chúng, sự thờ ơ rõ ràng của quần chúng. Mỗi lần, sự ngạo mạn của giai cấp thống trị tiếp tục không bị kiềm chế cho đến thời điểm nổi dậy. Điều mà Marx gọi là ‘chú chuột già’^1 của lịch sử thích những điều bất ngờ.
^1: Trong tác phẩm Ngày 18 tháng Sương mù của Louis Bonaparte Marx viết “Chú chuột già ơi, chú đào khá đấy!” (Mác & Ăng-ghen (1993), tr. 262.). Marx mượn hình ảnh này trong vở Hamlet (Hồi I, Cảnh V) của William Shakespear.
Năm 1924, nhà lý luận Marxist người Hungary là Georg Lukács, suy ngẫm về kỷ nguyên chiến tranh và cách mạng vĩ đại vừa mới trôi qua, đã viết về ‘tính hiện thực của cuộc cách mạng’. Trong bối cảnh của thời đại khủng hoảng của chính chúng ta, việc nhắc lại tư tưởng của Lukács là việc đáng làm. Ông giải thích,
Chủ nghĩa Marx tiền giả định tính hiện thực phổ biến của cuộc cách mạng vô sản. Theo nghĩa này, với tư cách vừa là cơ sở khách quan cho cả kỷ nguyên vừa là chìa khóa để hiểu thời đại đó, cuộc cách mạng vô sản tạo nên hạt nhân sống của chủ nghĩa Marx … Tính hiện thực của cuộc cách mạng đem lại đặc trưng chủ đạo cho cả một kỷ nguyên … Tính hiện thực của cuộc cách mạng do đó ám chỉ việc nghiên cứu từng vấn đề riêng lẻ hằng ngày … như những khoảnh khắc trong cuộc giải phóng giai cấp vô sản …
Đối với Lukács, cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế là một khả năng sống động và bao giờ cũng hiện diện theo đó mọi hành động chính trị phải được đánh giá. Cách mạng không chắc chắn xảy ra. Cách mạng có thể không bao giờ xảy ra. Cách mạng có thể xa vời. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ là trật tự cũ chứa đựng trong chính nó khả năng bao giờ cũng hiện diện cho cách mạng và điều đó là giải pháp duy nhất mà người ta có thể tưởng tượng ra được cho toàn bộ nỗi thống khổ ngày càng tăng của nhân loại.
Thất bại chung cục của làn sóng cách mạng 1917–1923 không bác bỏ giá trị căn bản của sự thấu suốt nơi Lukács. Trái lại, thất bại ấy đã xác nhận điều đó, bởi vì kết quả là sự man rợ ở Stalingrad, Auschwitz, và Hiroshima.

Những thành phố nổi loạn

Seattle năm 1999, Washington năm 2000, Genoa năm 2001 đã chứng kiến những cuộc phản đối chống-toàn cầu hóa hàng loạt phun trào thành những cuộc xung đột dữ dội với cảnh sát. Ngày 15 tháng Hai năm 2003, xuất hiện những cuộc biểu tình phản chiến có phối hợp ở 600 thành phố khắp thế giới, tổng cộng có 25 triệu người tham gia, với 3 triệu người tuần hành ở Rome, 2 triệu người ở London, và 1,5 triệu người ở Madrid.
Giữa các năm 2011 và 2015, ở Tunis, Cairo, Athens, Madrid, Santiago, Istanbul, và Rio, và ở hàng chục trung tâm đô thị lớn khác, hàng trăm ngàn người đã chiến đấu với các lực lượng của chính quyền trên đường phố để phản đối sự cai trị chuyên quyền và các nền kinh tế khắc khổ.
Quảng trường Tahrir ở Cairo, Quảng trường Syntagma ở Athens, Quảng trường Puerta del Sol ở Madrid, Quảng trường Taksim ở Istanbul đã trở thành các chiến trường trong một cuộc đấu tranh vì chính quyền nhân dân chống lại trật tự tân tự do. Các trận đánh để giành lấy các quảng trường liên tục tràn vào các con phố chung quanh, khi những người phản đối tạm thời bị đẩy lui và buộc phải tìm nơi trú ẩn trong các tòa nhà và ở phía sau các chiến lũy. Khi họ làm như vậy, người ta thấy hàng trăm ngàn người hoặc hơn đang cổ vũ họ từ các ngõ hẻm và các ban công. Hàng triệu người khác theo dõi trên các màn hình ti vi cảm thấy phấn chấn bởi những hình ảnh về người dân đang chiến đấu đáp trả.
Dân chủ của một phong trào quần chúng mới đang thách thức sự kiêu ngạo và sự hủ bại của một chế độ theo đường lối tân tự do được phòng thủ kiên cố. Và chế độ đó đang đối phó bằng phương thức duy nhất mà nó biết: bằng dùi cui, vòi rồng, hơi cay, và bom gây choáng.
Có những biến thể giữa các quốc gia, nhưng khắp toàn cầu một mẫu hình mới của cuộc đấu tranh quần chúng từ dưới lên là rõ ràng: sự kiểm soát các thành phố của chúng ta bởi tư bản tập đoàn và các nhà nước chuyên quyền đang bị thách thức bởi một đội tiên phong cấp tiến gồm những người phản đối trên đường phố vốn đang ở độ tuổi xuân xanh. Việc đục rỗng nền dân chủ nghị viện cùng với sự suy yếu của các công đoàn và các tổ chức quần chúng khác đã phá hủy những áp suất kế cùng những chiếc van an toàn của trật tự xã hội. Thay vào đó, nỗi cay đắng mưng mủ tại nền móng xã hội, tâm trạng ghét bỏ ‘hệ thống’ tăng lên, và rồi, khi nó bục vỡ, nó mang hình thức bùng nổ.
Thành phố hiện đại, với giai cấp công nhân hỗn tạp, bấp bênh, dễ thay đổi của nó, đã trở thành vũ đài đấu tranh chủ đạo. Các phương tiện truyền thông xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự sáng tạo ra những mạng lưới lỏng lẻo và những cuộc huy động nhanh chóng các cá thể mà nếu khác đi thì là những cá thể bị tán nhỏ. Thế rồi, khi họ đến với nhau, những người cấp tiến muôn hình vẻ của cuộc phản-văn hóa khám phá ra rằng họ là một phong trào quần chúng. Chủ nghĩa tư bản dường như đang đối mặt với một làn sóng nổi dậy ở thành thị tại những vùng trung tâm đô thị lớn của nó.
Thành phố là nơi tập trung những mâu thuẫn xã hội. Nó bao gồm những tượng đài uy thế khổng lồ của chính quyền, những tòa tháp bằng thép và kính của các tập đoàn, và những dinh thự xa hoa của giới tinh hoa. Thế nhưng trên những con phố mà thường chỉ cách một đoạn cuốc bộ ngắn là những dãy căn hộ cho thuê với giá cắt cổ nơi các công nhân trẻ tuổi sinh sống, những đại lộ tràn ngập các cửa hiệu từ thiện, các cửa hiệu cầm đồ, và các cửa hiệu bị bịt kín của một nền kinh kế đang suy thoái, rồi những bệnh viện dơ bẩn, những trường học đổ nát, và những con phố đầy rác rưởi do khu vực công đã bị vắt kiệt bởi những cắt giảm phục vụ chính sách thắt lưng buộc bụng. Cái khe hở đang ngày càng rộng ra giữa người giàu và người nghèo, giữa lợi nhuận của tập đoàn và sự nghèo khổ của dân chúng, là một đường đứt gãy về vật chất và xã hội rạch ngang không gian đô thị dùng chung.
Còn hơn thế, khi tổ chức công đoàn suy yếu ở mặt này và các hình thức bóc lột trong tiêu dùng được tài chính hóa lù lù hiện ra ở mặt khác, thì cộng đồng giai cấp công nhân thành thị nói chung (đối lập lại với những khu vực làm việc tách biệt) mang ý nghĩa xã hội lớn hơn. Những cuộc đấu tranh phản đối lương thấp và các quản đốc hay ức hiếp lấy trung tâm ở nơi làm việc. Những cuộc đấu tranh về vấn đề thuế, tiền thuê nhà, phúc lợi, dịch vụ công, và bảo vệ môi trường cần phải lấy trung tâm ở cộng đồng.
Nơi làm việc vốn đã mang tính chất cục bộ. Tổ chức vững mạnh ở nơi làm việc củng cố thêm chủ nghĩa địa phương ngay cả khi nó đem lại một diễn đàn vững chắc hơn cho sự liên hiệp và đoàn kết khắp toàn giai cấp. Thành phố hoạt động theo cách khác. Các cộng đồng và các đám đông thành thị có khuynh hướng đa dạng. Những cuộc biểu tình lớn nhóm họp các công nhân từ các ngành công nghiệp khác nhau, những người có tổ chức với những người vô tổ chức, những người có an sinh với những người sống bấp bênh, những người có việc làm với những người thất nghiệp, những sinh viên với những cộng đồng thiểu số. Một cách nhanh chóng, dễ dàng, tự nhiên, đám đông thành thị có thể liên hiệp với giai cấp công nhân thành thị thành một khối trong cuộc đấu tranh trên đường phố.
Cũng ở trên đường phố, có sự an toàn trong sự ẩn danh của quần chúng. Vấn đề không đơn giản ở chỗ là những người vô tổ chức, người sống bấp bênh, và những người thất nghiệp có thể chiến đấu trên đường phố. Vấn đề còn ở chỗ là những công nhân có tổ chức vốn phải đối mặt với sự hăm dọa của bọn quản lý ở nơi làm việc của họ có thể bộc lộ cơn giận dữ của họ trong cuộc phản đối ở trên đường phố một cách dễ dàng hơn so với ở trong cuộc đình công.
Thành phố hiện đại được tạo ra bởi lao động của công nhân. Thế nhưng quyền kiểm soát đối với các không gian công cộng bị các tập đoàn và nhà nước chiếm đoạt, và càng ngày càng có ít không gian thành phố thoát khỏi sự rào đóng, sự kiểm soát, sự giám sát, và sự biến thành hàng hóa. Một đặc trưng tái diễn của các cuộc nổi dậy mới ở thành thị là cuộc xung đột giữa hoạt động dân chủ ngoài đường phố và bạo lực của nhà nước.
Thành phố là một sản phẩm của lao động con người, một nguồn gốc của lợi nhuận tư bản, và một trung tâm của sức mạnh giai cấp. Cho nên, nó dễ tổn thương. Giống như hành động đình công có thể làm đóng cửa các nhà máy, các trụ sở, và toàn bộ các ngành công nghiệp, cuộc phản đối trên đường phố cũng có thể làm ngừng hoạt động cơ sở hạ tầng, các nơi làm việc, và toàn bộ thành phố. Đường phố có thể đóng cửa các nhà máy. Quần chúng thành thị, được huy động toàn bộ, có thể làm tê liệt kinh tế của thành phố.

Khải huyền của ai?

Một thần thoại trong kinh thánh cho rằng ngày tận thế được báo trước bằng sự xuất hiện của Tứ Kỵ sĩ Khải Huyền, tượng trưng cho sự Xâm lược, Chiến tranh, Nạn đói, và Cái chết.
Minh họa thêm từ wikipedia (public domain)
Minh họa thêm từ wikipedia (public domain)
Viễn cảnh trước nhân loại hôm nay có thể dường như là ngày tận thế thật sự. Chủ nghĩa tư bản tân tự do đã phát triển các lực lượng sản xuất của nền kinh tế toàn cầu đến một trình độ chưa từng thấy. Nhưng các lực lượng này không chịu sự kiểm soát dân chủ và sự lập kế hoạch có lý trí; chúng được thúc đẩy bởi những mệnh lệnh kinh tế và quân sự của cuộc tích lũy tư bản cạnh tranh. Hậu quả là, mặc cho tiềm năng giải phóng toàn bộ nhân loại khỏi sự thiếu thốn về vật chất, các lực lượng này bây giờ có nguy cơ làm điều trái ngược: phá hủy chính nền văn minh công nghiệp.
Sự ngu dốt, sự tham lam, và sự vô trách nhiệm của giới cai trị của chúng ta khi đối mặt với cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ tính phi lý của hệ thống. Thảm họa khí hậu, suy thoái kinh tế, và chiến tranh đế quốc có gốc rễ của chúng ở sự điên loạn của thị trường: cuộc cạnh tranh kinh tế và quân sự mù quáng thúc đẩy các quốc gia-dân tộc và các công ty khổng lồ của chủ nghĩa tư bản tân tự do. Hệ thống hết sức bệnh hoạn và có tính hủy diệt. Nó đã đưa chúng ta đến cái có lẽ là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất trong lịch sử nhân loại.
Một thần thoại khác trong kinh thánh đôi khi được đặt đối lại với thần thoại về Tứ Kỵ sĩ Khải Huyền. Trong phiên bản Khải Huyền này, cao trào là một lễ hội Jubilee^2 của nhân dân. Những kẻ trưng thu thuế và những tên địa chủ sẽ bị quét sạch. Nô lệ và nông nô được tự do. Ruộng đất được trả lại cho những người dân đã canh tác trên đó. Một Thời kỳ Hoàng kim mới cho sự tự do và sự sung túc sẽ bắt đầu.
^2: Đại lễ 50 năm diễn ra một lần
Để biến Khải Huyền thành lễ hội Jubilee vào đầu thế kỷ XXI, cần phải làm năm việc sau:
1. Chúng ta phải hiểu sự cần thiết của việc thay đổi toàn bộ hệ thống. Chỉ bằng cách liên kết các chiến dịch, các cuộc phản đối, và các cuộc đấu tranh tản mát thành một cuộc tổng tấn công vào hệ thống vốn là gốc rễ của những vấn đề của nhân loại thì chúng ta mới có thể hy vọng giải quyết được các vấn đề đó.
2. Chúng ta phải hiểu sự cần thiết của chủ nghĩa quốc tế. Điều đó có nghĩa là bác bỏ mọi hình thức của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc, và ‘chủ nghĩa xã hội trong độc một nước’, và xây dựng những mạng lưới đoàn kết và kháng cự toàn cầu có khả năng thách thức quyền lực của kẻ giàu trên toàn thế giới.
3. Chúng ta phải hiểu tính trung tâm của giai cấp công nhân – được xác định là những người chiếm 80% – đối với bất cứ chiến lược nghiêm túc nào nhằm thay đổi hệ thống. Chỉ bằng cách huy động đa số nhân dân lao động chúng ta mới có thể tìm thấy sức mạnh để đương đầu và đánh bại bọn tư bản tập đoàn và các quốc gia-dân tộc.
4. Chúng ta phải xây dựng một mạng lưới các phong trào xã hội quần chúng và các ủy ban có sự tham gia của dân chúng để tổ chức, lan tỏa, và duy trì những cuộc đấu tranh của giai cấp lao động chống lại hệ thống.
5. Chúng ta phải tổ chức các nhà cách mạng thành các mạng lưới những nhà hoạt động có năng lực lãnh đạo và tổ chức cuộc kháng cự của quần chúng từ bên dưới, chuyển sự giận dữ của dân chúng thành một làn sóng đấu tranh của giai cấp công nhân mà cuối cùng sẽ phình lên thành một phong trào cách mạng mới khắp toàn cầu chẳng những sánh ngang được mà còn vĩ đại hơn cả các phong trào cách mạng của những năm 1789, 1848, 1917, 1968, và 1989.
Một thế giới khác đã trở thành một tất yếu lịch sử tuyệt đối. Một thế giới khác đi là có thể. Trong ý nghĩa đó, cách mạng là một ‘thực tế tính’.
Nhưng cách mạng không phải là điều chắc chắn. Người ta phải chiến đấu cho nó. Việc đạt được nó còn tùy ở việc làm của tất cả chúng ta.
Những nguy cơ lịch sử là chưa bao giờ lớn hơn thế.
Nguồn: Đây là chương kết của cuốn sách Lịch sử thế giới theo quan điểm cấp tiến do tôi dịch :) . Bản online của cuốn sách này được phát hành dưới dạng truy cập mở miễn phí, theo giấy phép CC-BY-NC-ND. Các bạn đọc các chương còn lại tại đây: