Tương truyền, trước ngày Lạc Long Quân và Âu Cơ chia đàn con ra hai ngả, năm mươi người theo cha xuống biển, năm mươi người theo mẹ lên núi, họ không chỉ chia con.
Họ còn chia thư.
Trong lời kể dân gian còn truyền lại, người ta chỉ nhớ chuyện trăm trứng, chuyện cha Rồng mẹ Tiên, chuyện con xuống biển, con lên núi, chuyện khi có việc thì gọi nhau về.
Nhưng trong một số truyền thừa kín của các gia tộc từng đứng đầu đất cũ, bản chép lại nói khác.
Bản ấy ghi rằng: trước lúc chia tay, Lạc Long Quân đặt trước mặt Âu Cơ một chiếc tráp cổ. Tráp không lớn. Không vàng ngọc. Không chạm rồng phượng. Chỉ là gỗ sẫm màu, viền bằng thứ kim loại đã ngả xanh, bên trong có những mảnh thẻ mỏng, có mảnh như tre, có mảnh như xương, có mảnh như mai rùa, có mảnh chỉ còn lại vết khắc gần như không đọc được.
Âu Cơ nhìn tráp, hỏi:
“Đây là gì?”
Lạc Long Quân nói:
“Đây là phần trí nhớ không nên để một dòng giữ hết.”
Không ai biết những thẻ ấy từ đâu mà có.
Có truyền bản nói chúng được khắc từ thời rất xa, khi người còn học trời bằng dấu chim, học nước bằng vết cá, học núi bằng đường thú chạy. Có truyền bản nói chúng không phải sách của một người viết ra, mà là những câu được nhiều đời giữ lại, mỗi đời thêm một dấu, bớt một tiếng, sửa một chữ để con cháu dễ nhớ.
Cũng có bản chép rằng cổ thư ấy vốn không gọi là sách.
Nó được gọi là Di Thư.
Thứ còn sót lại.
Thứ không thuộc riêng ai.
Thứ nếu giữ nguyên thì chết, nếu truyền đi thì biến dạng, nhưng nếu không truyền thì giống nòi sẽ quên mất câu hỏi đầu tiên của mình.
Đêm ấy, khi biển ở xa nổi gió, núi phía sau có mây trườn xuống thấp, Lạc Long Quân và Âu Cơ chia cổ thư làm hai phần.
Một phần theo cha xuống biển.
Một phần theo mẹ lên núi.
Không phải vì họ muốn giấu nhau.
Mà vì họ biết từ hôm đó, con cháu sẽ không còn sống trong cùng một địa thế.
Người xuống biển sẽ học sóng, thủy triều, muối, cá, thuyền, bão, giao thương, bờ bãi, cửa sông, đêm trăng và những ngày nước dữ.
Người lên núi sẽ học rừng, đá, thú, cây thuốc, lửa, sương, đường mòn, hang sâu, đất dốc, tiếng chim báo mưa và hơi lạnh trước mùa lũ.
Đất khác thì nỗi sợ khác.
Nỗi sợ khác thì cách sống khác.
Cách sống khác thì cách dạy trẻ cũng khác.
Bởi vậy, cổ thư phải chia.
Một nửa đi cùng biển để học cách sống với cái rộng.
Một nửa đi cùng núi để học cách sống với cái cao.
Lời truyền miệng không nói chuyện đó. Truyền miệng chỉ giữ phần cần cho dân nhớ: chúng ta cùng một bọc, tuy chia hai ngả nhưng không mất nhau.
Nhưng các bản chép trong một số gia tộc đứng đầu lại giữ thêm phần thứ hai: chúng ta không chỉ chia máu, mà còn chia cách hiểu về con người.
Từ đó, Âu Lạc Di Thư không còn là một bộ nguyên vẹn.
Nó bắt đầu vỡ.
Một phần thành lời ru.
Một phần thành câu dạy trẻ.
Một phần thành gia pháp.
Một phần thành thuật trị nước.
Một phần thành bài khấn trước rừng.
Một phần thành lời thề trước biển.
Một phần đi vào trí nhớ của những người giữ đất.
Một phần trôi qua tay kẻ chép lại, đổi chữ, đổi nghĩa, đổi cả cái nền mà nó từng đứng trên đó.
Không ai biết Âu Lạc Di Thư có bao nhiêu quyển.
Có dòng nói ba.
Có dòng nói sáu.
Có dòng nói chín.
Có dòng lại nói không thể đếm, vì một khi sách đã thành truyền thừa, thì mỗi đời đọc nó lại sinh thêm một nhánh.
Đến nay, những tên còn được nhắc nhiều nhất chỉ có vài thiên.
Đế Vương Thuật.
Dân Mệnh Thuật.
Lưu Ảnh Hóa Thần Quyết.
Ba cái tên ấy được truyền nhiều vì chúng chạm vào những thứ lớn: quyền lực, dân mệnh, ký ức, hình ảnh, thần hóa, cách một cộng đồng tự dựng mình lên rồi lại bị chính hình ảnh của mình dẫn ngược.
Nhưng trong các bản chép cũ của một số gia tộc, còn có một thiên nhỏ hơn.
Nhỏ đến mức nhiều đời sau tưởng nó chỉ là bài vỡ lòng cho trẻ con.
Thiên ấy gọi là:
Sơ Nhân Kinh.
Sách về con người lúc ban đầu.
Người giữ bản chép nói rằng Sơ Nhân Kinh không được đặt ở cuối, cũng không đặt sau Đế Vương Thuật hay Dân Mệnh Thuật. Nó được đặt ở đầu.
Vì trước khi nói cách trị nước, phải biết con người là gì.
Trước khi nói dân mệnh, phải biết một đứa trẻ học đời bằng cách nào.
Trước khi nói lưu ảnh hóa thần, phải biết hình ảnh đầu tiên đi vào trí người ra sao.
Và câu đầu tiên của Sơ Nhân Kinh không phải là câu mà đời sau học thuộc.
Không phải:
Nhân chi sơ, tính bản thiện.
Mà là:
Nhân chi sơ, tính hiếu kỳ.
Người lúc ban đầu, tính là ham biết cái lạ.
Chưa thiện.
Chưa ác.
Chưa tội.
Chưa công.
Chưa đạo.
Chưa luật.
Chưa cộng đồng khen chê.
Chưa có tên gọi nào đặt lên nó để bảo nó là người tốt hay kẻ xấu.
Nó chỉ mở mắt.
Nó nghe tiếng động thì quay đầu.
Thấy ánh sáng thì nhìn.
Gặp hơi ấm thì yên.
Bị bỏ xa thì khóc.
Chạm nóng thì rụt tay.
Ngửi mùi quen thì dịu lại.
Gặp mặt lạ thì ngẩn ra.
Đứa trẻ không hỏi bằng lời.
Nó hỏi bằng thân.
Nó hỏi bằng mắt.
Nó hỏi bằng tiếng khóc.
Nó hỏi bằng bàn tay đưa ra chạm vào thế giới.
Và thế giới trả lời nó.
Bằng nóng.
Bằng lạnh.
Bằng đau.
Bằng êm.
Bằng gần.
Bằng xa.
Bằng tiếng mẹ.
Bằng bóng người lạ.
Bằng cái ôm.
Bằng sự bỏ mặc.
Bằng luật của lửa.
Bằng luật của nước.
Bằng mặt người cười.
Bằng mặt người cau lại.
Đó là phản hồi đầu tiên.
Từ phản hồi ấy, trí bắt đầu có đường.
Không phải đạo đức sinh trước.
Phản hồi sinh trước.
Không phải thiện ác sinh trước.
An nguy sinh trước.
Không phải lời dạy sinh trước.
Cảm nhận về thế giới sinh trước.
Trong các truyền bản của Kha tộc, câu chuyện này được ghi rất ngắn. Rằng nhiều đời sau, khi chữ viết phương Bắc đã đi vào đất Việt, khi những sách vỡ lòng ba chữ được truyền tụng rộng, có người trong tộc đọc đến câu:
Nhân chi sơ, tính bản thiện.
Người ấy dừng lại rất lâu.
Không phải vì câu ấy sai.
Mà vì nó quá quen.
Quen đến mức đáng ngờ.
Nhịp ba chữ.
Câu mở đầu bằng nhân chi sơ.
Nói về tính người.
Nói về giáo dục.
Nói về tập nhiễm.
Nói về việc nếu không dạy thì tính đổi.
Tất cả đều gần với một mạch cổ đã được giữ trong gia tộc.
Nhưng chữ then chốt đã khác.
Trong bản phương Bắc, con người lúc ban đầu được đưa ngay vào thiện.
Trong bản Sơ Nhân, con người lúc ban đầu được nhìn như một sinh thể hiếu kỳ.
Một bên hỏi: nó có thiện không?
Một bên hỏi: nó học thế giới bằng gì?
Người giữ bản chép không kết luận rằng bản này lấy của bản kia.
Ông chỉ ghi một câu bên lề:
“Hai dòng cùng một cửa, nhưng rẽ ở chữ đầu.”
Về sau, câu ghi bên lề ấy được nhiều đời nhắc lại.
Có người hiểu là tranh nguồn gốc.
Có người hiểu là tranh văn bản.
Có người hiểu là chuyện phương Nam phương Bắc.
Nhưng người giữ truyền thừa cũ nói: không phải.
Vấn đề không nằm ở việc ai có trước.
Vấn đề nằm ở việc câu đầu tiên đặt con người vào hệ nào.
Nếu nói nhân chi sơ, tính bản thiện, thì giáo dục sẽ đi theo đường giữ thiện, sửa lệch, quy phạm hóa, đưa đứa trẻ vào trật tự đạo đức.
Nếu nói nhân chi sơ, tính bản ác, thì giáo dục sẽ đi theo đường kiểm soát, răn phạt, kỷ luật hóa bản năng.
Nhưng nếu nói nhân chi sơ, tính hiếu kỳ, thì giáo dục phải bắt đầu ở nơi khác.
Không phải ở phán xét.
Mà ở phản hồi.
Không phải hỏi đứa trẻ tốt hay xấu.
Mà hỏi nó đang học thế giới bằng tín hiệu nào.
Nó thấy gì?
Nó sợ gì?
Nó chạm vào đâu?
Nó được đáp lại ra sao?
Nó học giới hạn bằng cách nào?
Nó biết người khác cũng đau từ đâu?
Nó biết hành vi của mình tạo hậu quả từ lúc nào?
Nó biết cái gì được đến gần, cái gì phải tránh xa bằng phản hồi nào?
Từ đó, giáo dục không còn là nhồi đạo đức từ trên xuống.
Giáo dục là dẫn cái hiếu kỳ đi qua giới hạn.
Cho nó thấy lửa nóng nhưng không để nó chết vì lửa.
Cho nó thấy nước sâu nhưng không để nó bị nước nuốt.
Cho nó hỏi nhưng không để câu hỏi biến thành phá hoại.
Cho nó thử nhưng để nó biết hậu quả.
Cho nó biết mình, biết người, biết đau, biết hại, biết dừng, biết chứng, biết hệ.
Bản Sơ Nhân Kinh còn lại trong truyền thừa được chép như sau.
Sơ Nhân Kinh
Hán tự
人之初,性好奇。
未善惡,先求知。
見異物,心生問。
聞異聲,意欲追。
手觸物,身求應。
目觀象,智始明。
遇安境,心乃定。
逢危機,身自驚。
痛可避,安可依。
利可近,害可離。
反覆驗,知所止。
往來應,識所宜。
善與惡,非天成。
由群立,因俗名。
一處善,他處疑。
一時正,異時移。
名可立,義可遷。
系不同,判不連。
不察系,妄言斷。
不明義,徒爭辯。
人之性,本相近。
習相遠,由回應。
境所教,身所記。
群所賞,心所行。
苟不教,性乃遷。
苟不導,智乃偏。
好奇心,若無界。
可為學,亦為災。
教之道,貴反饋。
明其界,示其害。
不塞問,不斷思。
導其疑,使成知。
知危安,知彼此。
知己身,知人理。
欲求知,先求證。
欲判斷,先明系。
故人初,未善惡。
先有問,後有覺。
善惡名,群所約。
行為界,法所作。
人之初,性好奇。
性相近,應相離。
同生問,異成途。
反饋遠,人乃殊。
Phiên âm
Nhân chi sơ, tính hiếu kỳ.
Vị thiện ác, tiên cầu tri.
Kiến dị vật, tâm sinh vấn.
Văn dị thanh, ý dục truy.
Thủ xúc vật, thân cầu ứng.
Mục quan tượng, trí thủy minh.
Ngộ an cảnh, tâm nãi định.
Phùng nguy cơ, thân tự kinh.
Thống khả tị, an khả y.
Lợi khả cận, hại khả ly.
Phản phúc nghiệm, tri sở chỉ.
Vãng lai ứng, thức sở nghi.
Thiện dữ ác, phi thiên thành.
Do quần lập, nhân tục danh.
Nhất xứ thiện, tha xứ nghi.
Nhất thời chính, dị thời di.
Danh khả lập, nghĩa khả thiên.
Hệ bất đồng, phán bất liên.
Bất sát hệ, vọng ngôn đoạn.
Bất minh nghĩa, đồ tranh biện.
Nhân chi tính, bản tương cận.
Tập tương viễn, do hồi ứng.
Cảnh sở giáo, thân sở ký.
Quần sở thưởng, tâm sở hành.
Cẩu bất giáo, tính nãi thiên.
Cẩu bất đạo, trí nãi thiên.
Hiếu kỳ tâm, nhược vô giới.
Khả vi học, diệc vi tai.
Giáo chi đạo, quý phản hồi.
Minh kỳ giới, thị kỳ hại.
Bất tắc vấn, bất đoạn tư.
Đạo kỳ nghi, sử thành tri.
Tri nguy an, tri bỉ thử.
Tri kỷ thân, tri nhân lý.
Dục cầu tri, tiên cầu chứng.
Dục phán đoán, tiên minh hệ.
Cố nhân sơ, vị thiện ác.
Tiên hữu vấn, hậu hữu giác.
Thiện ác danh, quần sở ước.
Hành vi giới, pháp sở tác.
Nhân chi sơ, tính hiếu kỳ.
Tính tương cận, ứng tương ly.
Đồng sinh vấn, dị thành đồ.
Phản hồi viễn, nhân nãi thù.
Dịch nghĩa
Người lúc ban đầu, tính là hiếu kỳ.
Chưa có thiện ác, trước hết là muốn biết.
Thấy vật khác lạ thì trong lòng sinh câu hỏi.
Nghe âm thanh khác lạ thì ý muốn lần theo.
Tay chạm vào vật để tìm phản ứng.
Mắt nhìn hiện tượng để trí bắt đầu sáng rõ.
Gặp cảnh an toàn thì tâm dần ổn định.
Gặp nguy cơ thì thân tự biết giật mình.
Đau thì có thể tránh.
An thì có thể nương vào.
Lợi thì có thể đến gần.
Hại thì có thể rời xa.
Qua lặp lại và thử nghiệm, con người biết đâu là điểm dừng.
Qua qua lại với phản hồi, con người biết điều gì là thích hợp.
Thiện và ác không phải thứ trời sinh sẵn.
Chúng do cộng đồng đặt ra, do phong tục gọi tên.
Một nơi xem là thiện, nơi khác có thể nghi ngờ.
Một thời xem là đúng, thời khác có thể đổi thay.
Danh có thể được lập ra.
Nghĩa có thể dịch chuyển.
Hệ khác nhau thì phán đoán không thể nối thẳng với nhau.
Không xét hệ mà vội kết luận thì là phán bừa.
Không làm rõ nghĩa mà tranh cãi thì chỉ là tranh biện rỗng.
Tính người ban đầu vốn gần nhau.
Tập nhiễm về sau khiến người ta xa nhau.
Môi trường dạy gì, thân ghi lại điều ấy.
Cộng đồng thưởng điều gì, tâm dần đi theo điều ấy.
Nếu không giáo dục, tính sẽ đổi lệch.
Nếu không dẫn dắt, trí sẽ nghiêng sai.
Lòng hiếu kỳ nếu không có giới hạn, có thể thành học hỏi, cũng có thể thành tai họa.
Đạo của giáo dục quý ở phản hồi.
Làm rõ giới hạn của việc làm.
Cho thấy cái hại của hành vi.
Không bịt câu hỏi.
Không cắt đứt suy nghĩ.
Mà dẫn cái nghi để nó thành cái biết.
Biết nguy và an.
Biết người và ta.
Biết thân mình.
Biết lẽ sống cùng người khác.
Muốn biết thì trước hết phải tìm chứng.
Muốn phán đoán thì trước hết phải làm rõ hệ.
Cho nên, người lúc ban đầu chưa thiện cũng chưa ác.
Trước hết có câu hỏi, sau đó mới có nhận biết.
Thiện ác là danh do cộng đồng ước định.
Giới hạn hành vi là thứ luật lệ và trật tự xã hội tạo ra.
Người lúc ban đầu, tính là hiếu kỳ.
Tính ban đầu gần nhau, nhưng phản hồi nhận được thì xa nhau.
Cùng sinh ra với một mầm muốn hỏi.
Nhưng đi thành những đường khác nhau.
Phản hồi càng khác, con người càng khác.
Khi bản Sơ Nhân Kinh được đặt cạnh Tam Tự Kinh, người ta mới thấy cùng một câu mở đầu “nhân chi sơ” có thể kéo con người đi về hai thực tại khác nhau.
Một câu đặt đạo đức lên trước.
Một câu đặt nhận thức lên trước.
Một câu muốn giữ cái thiện.
Một câu muốn hiểu cái biết.
Một câu nhìn đứa trẻ như mầm đạo đức cần giáo hóa.
Một câu nhìn đứa trẻ như sinh thể hiếu kỳ cần phản hồi đúng.
Từ đó, trong truyền thừa Kha tộc có một lời dặn:
“Đừng vội hỏi trẻ thiện hay ác. Hãy xem đời đã trả lời nó bằng gì.”
Bởi một đứa trẻ không tự dưng thành người như nó thành.
Nó được dạy bằng ánh mắt.
Bằng giọng nói.
Bằng cái ôm.
Bằng đòn roi.
Bằng sự bỏ mặc.
Bằng phần thưởng.
Bằng nỗi sợ.
Bằng lời khen của cộng đồng.
Bằng cái giá phải trả khi vượt qua giới hạn.
Thiện ác đến sau.
Phản hồi đến trước.
Đứa trẻ ban đầu không đứng trước một quyển luật.
Nó đứng trước thế giới.
Và nó hỏi thế giới bằng toàn bộ thân thể mình.
Con người lúc ban đầu là gì?
Nếu trả lời là thiện, ta dựng lên một nền giáo dục đạo đức hóa.
Nếu trả lời là ác, ta dựng lên một nền giáo dục kiểm soát hóa.
Nếu trả lời là hiếu kỳ, ta buộc phải dựng lên một nền giáo dục phản hồi.
Không phải giáo dục để bịt mắt.
Không phải giáo dục để nhồi sẵn thiện ác.
Không phải giáo dục để trẻ lặp lại lời người lớn như một con vật ngoan.
Mà là giáo dục để cái hiếu kỳ biết đi qua thế giới mà không phá nát mình, không phá nát người khác, và không bị cộng đồng nghiền thành một bản sao không còn biết hỏi.
Vì thế, trong các bản chép muộn, sau đoạn Sơ Nhân Kinh, người giữ truyền thừa thường ghi thêm một câu:
“Người không mất vì hỏi. Người mất khi bị dạy rằng hỏi là tội.”
Và cũng từ đó, có người nói rằng câu đầu tiên của một nền văn minh không phải là câu nó dùng để ca tụng tổ tiên.
Câu đầu tiên của một nền văn minh là câu nó dùng để định nghĩa đứa trẻ.
Tam Tự Kinh nói:
Nhân chi sơ, tính bản thiện.
Sơ Nhân Kinh nói:
Nhân chi sơ, tính hiếu kỳ.
Một chữ đổi.
Cả thực tại đổi.