Kỷ nguyên Viking - thời kỳ loạn lạc của những chiến binh
Một bài viết rút gọn về thời kỳ Viking
Viết bài: Trần Phan
Hiệu đính: Hải Stark
Trong văn hóa đại chúng hiện tại, hình tượng người Viking có lẽ không còn quá xa lạ nữa - thông qua hàng loạt tác phẩm như phim ảnh, show truyền hình và cả manga nữa. Nhưng bản thân sự nổi tiếng ấy cũng bắt nguồn từ một giai đoạn rất đáng chú ý trong lịch sử châu Âu nói riêng và thế giới nói chung - giai đoạn thậm chí còn được đặt tên theo người Viking.

1. Giới thiệu chung về người Viking
Người Viking là tên gọi dùng để chỉ những nhà thám hiểm, thương nhân, chiến binh, hải tặc đến từ bán đảo Scandinavia. Một điều cần phân biệt rõ là tuy người Viking là một phần của các dân tộc Bắc Âu; nhưng không phải cứ là người Bắc Âu thì được gọi là Viking. Thực tế thì khi nhắc đến người Viking và bán đảo Scandinavia, chủ yếu người ta muốn nhắc đến những người thuộc về các vương quốc như Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển.
Thuật ngữ “Viking” xuất hiện lần đầu tiên trong một bài thơ cổ từ thế kỷ 9 của người Anglo-Saxon. Ngoài ra, từ này cũng thấy trên tấm bia đá khắc bằng chữ rune, trên đó có khắc tên một người và những việc người đó đã làm khi còn sống. Nguồn gốc của từ này khá mù mờ, có thể xuất phát từ chữ “vikingr” trong tiếng Bắc Âu cổ (trong tiếng Anh cổ là từ “wicing”). Có thể từ này cùng ngữ tộc với từ vik hoặc vig, với nghĩa là “người cùng với thuyền tới vũng biển nhỏ” hoặc “người từ Viken” (thuộc vùng vịnh Oslo ở Na Uy). Ngoài ra từ “viking” cũng có thể dùng để chỉ hành động “viễn chinh bằng tàu”.
Theo nhà văn kiêm sử gia Đan Mạch gốc Na Uy là Ludvig Holberg thì từ “Viking” đồng nghĩa với kẻ cướp biển. Còn theo sử gia Đan Mạch khác là Else Roesdahl thì từ “Viking” trong ngôn ngữ Bắc Âu cổ nhánh phía tây có nghĩa đại khái là “chiến binh trên biển”, “cướp biển”, “người đi biển”,... Nhìn chung, “Viking” không nói về mọi dân tộc Bắc Âu, chủ yếu dùng để nhắc đến một bộ phận thương nhân, kẻ cướp hoặc những người làm lính đánh thuê trên biển. Có thể nói là từ “Viking” thời đó không mang nghĩa như hiện nay chúng ta sử dụng. Mặt khác, các dân tộc ở bên trong lục địa châu Âu cũng ít khi gọi người Viking bằng danh từ “Viking”. Ví dụ như người Frank gọi họ là “Normands”, nghĩa là “những người phương Bắc”; người Slav gọi họ là “Rus” hoặc “Varyag” (chỉ bộ tộc Varagryan đến từ Phần Lan); người Ả Rập gọi họ là “Madjus”; còn người Ireland gọi chung họ là “những người theo tà giáo” hoặc đơn giản là “những người ngoại quốc”.
Trong văn hóa đại chúng ngày nay, người Viking thường được khắc họa là những chiến binh hung bạo, có phần man rợ với những tập tục đáng sợ. Dù có dựa một phần trên thực tế, nhưng cách khắc họa này vô hình trung lại tạo ra cảm giác người Viking chỉ là những kẻ võ biền ham mê chiến đấu, giết chóc và cướp bóc một cách vô tổ chức. Nhưng thực tế thì lại hoàn toàn trái ngược khi xã hội Viking rất có tổ chức; họ có một nền văn hóa giàu truyền thống, là những là các nông dân và các nhà buôn giỏi, và đặc biệt là những nhà hàng hải cự phách.
Trong vòng vài thế kỷ, người Viking đã ghi dấu ấn của mình một cách đậm nét lên hầu khắp thế giới phương Tây thời đó. Nhưng lý do nào đã thúc đẩy để họ liên tục ra khơi, bành trướng sức mạnh và tầm ảnh hưởng của mình?

1.1. Động lực nào đã thúc đẩy những cuộc bành trướng của họ?
Về nguyên nhân dẫn đến những cuộc bành trướng của người Viking, hiện nay có bốn giả thuyết chính như sau:
- Về nhân khẩu: Sự bùng nổ về dân số thường được xem là một trong những động lực chính để thúc đẩy người Viking di cư về phía nam ấm áp hơn. Qua nghiên cứu sâu hơn, các sử gia cho rằng nền nông nghiệp phát triển với các loại công cụ mới đã góp phần làm dân số gia tăng nhanh chóng. Điều này khiến cho diện tích ruộng đất có thể canh tác bị thiếu hụt, việc làm càng ngày càng không đủ; vậy là ngày càng có nhiều người buộc phải đi tìm kiếm cơ hội ở những vùng đất khác.
- Về kinh tế: Vào thế kỷ 7 và 8, châu Âu đã bắt đầu hồi phục dần sau sự sụp đổ của Đế chế Tây La Mã; bắt đầu một giai đoạn thương mại và đô thị hóa nhất định. Một loạt các trung tâm đô thị tương đối sầm uất ở vùng ven biển gần Bắc Âu đã trở thành tầm ngắm của người Viking. Sự thành công của các chuyến đi cướp bóc ban đầu cũng khiến những người lãnh đạo các bộ tộc Viking muốn tổ chức những chuyến cướp bóc quy mô lớn hơn và kéo dài hơn. Dần dần mục tiêu của họ có thêm cả việc bắt nô lệ và chiếm cứ đất đai.
- Về tôn giáo và ý thức hệ: Việc Hồi giáo xuất hiện, bành trướng nhanh chóng và xung đột với Cơ Đốc giáo - và cả hai đều là tôn giáo độc thần; đã có ảnh hưởng nhất định tới tôn giáo đa thần của người Viking. Ngoài ra, niềm tin vào các vị thần Bắc Âu của người Viking rất mạnh, khiến các chiến binh Viking luôn hăng say chiến đấu một mất một còn. Thần thoại Bắc Âu nhấn mạnh rằng một chiến binh đích thực thì phải chết tại chiến trường và sẽ đến được Valhalla - Đại sảnh của chư thần. Một chiến binh Viking nếu chết vì tuổi già hoặc chết trên giường bệnh thì linh hồn sẽ bị đày đến Hel - Âm phủ tối tăm lạnh lẽo. Một chiến binh đích thực rất sợ cái chết thứ hai này, do vậy họ luôn chiến đấu với tinh thần dũng cảm; và những cuộc cướp bóc bành trướng là cơ hội lý tưởng cho họ tìm kiếm cái chết tại chiến trường. Ngoài ra, những tranh chấp nội bộ do chính trị xảy ra ở vùng bán đảo Scandinavia cũng khiến nhiều quý tộc Viking thất thế phải tìm kiếm cơ hội ở các vùng đất phía nam.
- Về môi trường: Sự tiến bộ vượt bậc trong công nghệ hàng hải đã giúp các chuyến đi biển dài ngày của người Viking hiệu quả hơn. Giai đoạn này, khí hậu trở nên thuận lợi hơn cũng trở thành nền tảng lý tưởng cho các cuộc phiêu lưu quân sự của người Viking.
1.2. Văn hóa của người Viking
Tổ chức xã hội của người Viking nhìn chung khá đơn giản, có thể chia làm ba tầng lớp chính: nô lệ (thrall), dân thường tự do (karl) và quý tộc (jarl).
Nô lệ là tầng lớp thấp kém nhất và chiếm khoảng 1/4 dân số của các bộ tộc Viking. Chế độ nô lệ có vai trò cực kỳ quan trọng trong xã hội Viking; vì nô lệ chính là những người làm các công việc thường ngày, là nguồn nhân công phục vụ việc xây dựng, đồng thời cũng đóng vai trò trong mắt xích giao thương kinh tế. Chính vì vậy mà một trong những mục tiêu quan trọng trong các chuyến đi cướp bóc và xâm lược của người Viking là làm sao bắt được càng nhiều nô lệ càng tốt. Vì là tầng lớp thấp kém nhất, nên nhìn chung nô lệ bị khinh thường và không được đối xử tử tế trong xã hội Viking.
Tầng lớp dân thường tự do chiếm phần lớn trong dân số các bộ tộc Viking. Họ có quyền sở hữu đất đai, trang trại, ruộng và gia súc. Phần lớn người Viking tự do hoặc làm nông dân, hoặc làm thợ thủ công, một số ít sẽ trở thành thương nhân. Họ có một số quyền nhất định và được phép tham gia cũng như phát biểu ý kiến ở một chừng mực nào đó trong những cuộc họp chính trị. Tuy vậy, quyền lực và quyền ra quyết định vẫn nằm ở tầng lớp quý tộc.
Tầng lớp thống trị trong xã hội Viking chính là quý tộc. Họ là tầng lớp giàu có nhất - sở hữu những điền trang rộng lớn, nhiều gia súc và nô lệ, và luôn thu về phần lớn chiến lợi phẩm trong các cuộc cướp bóc. Trách nhiệm của họ là lãnh đạo và bảo vệ vùng đất cũng như dân chúng của mình. Họ cũng sẽ là những người tổ chức các cuộc cướp bóc, những chuyến thám hiểm và những cuộc chiến tranh xâm lược.
Cũng như phần lớn châu Âu thời kỳ đó, thì xã hội Viking là một xã hội phụ quyền. Phụ nữ Viking không có quyền lực chính trị, và luôn phải đứng sau những người đàn ông trong gia đình. Nhưng so với các nước châu Âu khác thì phụ nữ Viking có nhiều tự do hơn và độc lập hơn. Họ có quyền thừa kế một phần tài sản khi người chồng qua đời. Thậm chí trong một số trường hợp, phụ nữ Viking còn có quyền lãnh đạo nếu người chồng qua đời mà không có con cái hay anh em trai gì cả. Nhiều tác phẩm văn hóa đại chúng thường khắc họa phụ nữ Viking cũng là những chiến binh đáng gờm, nhưng thực tế chuyện ấy rất hiếm gặp.
Đặc trưng trong văn hóa của người Viking chính là bảng chữ cái rune của họ. Đây là loại chữ chỉ sử dụng các nét thẳng và chéo (vì là loại chữ dùng khắc trên đá); có 24 ký tự. Ngoài ra, các chữ cái rune còn được sử dụng trong các nghi lễ ma thuật và bói toán của người Viking. Các tảng đá khắc chữ rune hiện nay vẫn còn lại khá nhiều ở Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển. Chúng chính là những nguồn tư liệu quý giá để tìm hiểu thêm về đời sống văn hóa và tinh thần của người Viking cổ, trước khi họ bị ảnh hưởng bởi Cơ Đốc giáo.

1.3. Vũ khí, trang bị và cách chiến đấu
Là dân tộc võ biền, nên người Viking đặc biệt hứng thú và say mê với chiến trận. Vũ khí và trang bị được họ dùng để chiến đấu cực kỳ đa dạng: rìu, kiếm, giáo, cung tên và áo giáp. Trang bị của một chiến binh Viking thông thường sẽ là rìu sắt và giáo, khiên tròn, áo giáp xích, mũ sắt bảo vệ đầu có tấm che mũi. Những chỉ huy và quý tộc cao cấp sẽ trang bị thêm cả kiếm dài và có những bộ áo giáp chất lượng hơn. Người Viking chiến đấu hiệu quả nhất khi ở trên các con thuyền dài của họ hoặc khi chiến đấu với bộ binh. Nhìn chung vì đặc thù khu vực địa lý và phong cách chiến đấu mà người Viking gần như không hề có kỵ binh. Họ có thể cưỡi ngựa, nhưng thường chỉ nhằm mục đích trinh sát và thăm dò, còn để đưa vào chiến trận thì không.
Nhắc đến các chiến binh Viking thì không thể bỏ qua những con thuyền dài đặc trưng của họ với độ linh hoạt cực cao. Thuyền chiến của người Viking thường có thân dài và hẹp nhằm dễ dàng tác chiến ở cả trên biển lẫn trên các con sông. Nhờ thiết kế gọn nhẹ linh hoạt mà thuyền chiến Viking có thể đi với tốc độ cao - một ngày họ có thể đi được đến gần 300km nếu thuận gió. Một thuyền chiến cỡ trung bình có thể chở từ 25 - 30 người, phù hợp với các cuộc đột kích và cướp bóc nhanh gọn. Còn với những cuộc xâm lược quy mô lớn, các con thuyền dài với kích thước to hơn có thể chở từ 50 - 60 người. Đặc trưng trong thiết kế thuyền dài của người Viking cũng giúp họ dễ dàng đổ bộ lên đất liền mà không cần cập vào cảng. Lợi thế này cho phép họ dễ dàng tấn công và rút lui nhanh chóng mà đối phương không thể đối phó kịp. Chiến thuật này khiến họ nắm lợi thế to lớn vì đối phương không thể lúc nào cũng duy trì việc phòng thủ kỹ càng. Tình hình tương đối bất ổn tại nhiều quốc gia châu Âu - nhất là đảo Anh và Pháp - càng khiến người Viking thu được nhiều lợi ích. Đến giữa thế kỷ 9, những cuộc đột kích, cướp bóc và xâm chiếm của người Viking diễn ra với tần suất ngày càng cao.

1.4. Vụ cướp phá năm 793 - cột mốc khởi đầu
Sự kiện thường được dùng để đánh dấu cột mốc khởi đầu của Kỷ nguyên Viking chính là vụ cướp bóc tu viện trên đảo Lindisfarne thuộc Anh vào năm 793. Những người Viking bất ngờ đổ bộ lên đảo vào ngày 8 tháng 6 năm 793; khiến các tu sĩ trên đảo hoàn toàn trở tay không kịp. Cuộc tấn công vô cùng tàn bạo: khoảng 50 tu sĩ bị giết, bị quăng xuống biển cho chết đuối; nhiều người khác bị bắt làm nô lệ. Của cải trong tu viện đều bị cướp đi.
Vụ cướp phá tu viện tại đảo Lindisfarne đã gây ra ấn tượng mạnh mẽ. Trong một tư liệu đương thời mô tả về nỗi kinh hoàng mà sự kiện này mang lại; một học giả là Alcuin ở Northrumbia (một trong những quốc gia của người Anglo-Saxon trên đảo Anh) đã viết rằng: “Chưa từng có nỗi kinh hãi nào như thế xuất hiện ở Anh như chúng ta vừa phải chịu đựng từ một giống dân ngoại giáo… Những kẻ ngoại giáo ấy đã đổ vấy máu của các vị thánh xung quanh bàn thờ, và dẫm đạp lên thân xác những vị thánh ngay trong Đền thờ của Thiên Chúa.”
Thực tế, đây không phải vụ cướp phá đầu tiên mà người Viking thực hiện nhắm vào đảo Anh nói riêng hay các vùng đất châu Âu nói chung. Nhưng ấn tượng của vụ cướp phá tại tu viện đảo Lindisfarne là quá lớn - khi đây là một tu viện Cơ Đốc giáo - nên vụ việc này đã khiến nhiều người châu Âu phải nhìn nhận một cách nghiêm túc về mối đe dọa đến từ những người ngoại giáo này. Hơn nữa, các tu sĩ cũng thường là người ghi chép lại lịch sử thời kỳ ấy, nên việc họ nâng tầm mức độ nghiêm trọng của vụ cướp phá tu viện Lindisfarne cũng là điều dễ hiểu.

2. Kỷ nguyên bành trướng
2.1. Người Viking và những cuộc xâm lược tại đảo Anh
Vào thế kỷ 9, người Viking bắt đầu tràn vào cướp bóc và xâm lược các vương quốc trên đảo Anh - phần lớn là các vương quốc của người Anglo-Saxon. Dần dần, những cuộc tấn công ngày càng có tổ chức hơn; thậm chí các đội quân Viking còn ở lại qua mùa đông chứ không quay về sau khi đột kích và cướp bóc.
Và không chỉ các quốc gia tại đảo Anh mà cả Ireland và Scotland cũng không phải ngoại lệ, khi những vùng đất này đều phải hứng chịu tổn thất từ những cuộc đột kích của người Viking. Tình hình tệ đến mức người Viking không chỉ dừng lại ở việc cướp bóc; mà họ còn lật đổ được những người cai trị ở Picts và Dal Riada thuộc Scotland. Sau khi vương quốc của người Picts sụp đổ, người Viking dần tỏa ra xung quanh để đánh chiếm Orkney, Shetlands và Hebrides. Các vùng lãnh thổ của những bá tước gốc Viking dần được hình thành. Quá trình bành trướng này vẫn được tiếp tục trong những thập niên tiếp theo của thế kỷ 9.

Cũng tương tự thì tại Ireland vào năm 853, một thủ lĩnh Viking là Amlaib đã trở thành vị vua đầu tiên của thành phố Dublin - một thành phố được xây dựng từ các cảng mà người Viking đã xây dựng từ hàng chục năm trước đó. Cai trị cùng với những người anh em của mình là Imar và Auisle, ông ta liên tục tiến hành chiến tranh với các cư dân bản địa. Trong nhiều thập niên tiếp theo, đã có những cuộc xung đột liên tục giữa những cư dân bản địa và những người Viking xâm lược. Từ năm 866, lực lượng của một vị vua người Ireland là Aed Findliath đã bắt đầu phản công và đốt phá được các cảng thiết yếu của quân xâm lược. Tuy Aed Findliath mất vào năm 879, nhưng các cuộc chiến với người Viking tại Ireland không ngừng lại. Vào đầu thế kỷ 10, cuối cùng người Ireland đã đánh đuổi thành công những kẻ xâm lược.
Tuy vậy, người Viking không chấp nhận từ bỏ vùng đất này dễ dàng như vậy. Họ bắt đầu tấn công trở lại vào năm 914 và trong vòng 8 năm tiếp theo đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng. Các khu định cư lớn tại Waterford, Wexford Cork và Limerick được dựng nên. Theo thời gian, các thành thị dần phát triển và Dublin thậm chí còn trở thành cảng buôn nô lệ lớn nhất Châu Âu thời bấy giờ. Những người Viking ở đây dần bị đồng hóa ngược và trở thành một trong những sắc dân tại Ireland, được gọi là Norse-Gael.

Năm 865 diễn ra một sự kiện quan trọng; đó là khi một đội quân lớn do Ivar Không Xương và Halfdan Ragnarsson lãnh đạo đã tấn công vương quốc Đông Anglia của người Anglo-Saxon tại đảo Anh. Hai người này cũng được cho là các con trai của vị vua Viking huyền thoại Ragnar Lothbrok. Đội quân này về sau được gọi là “Đại quân Ngoại giáo”. Họ chiếm được York và thành lập nên trung tâm quyền lực của người Viking tại Jorvik. Sự xuất hiện của Đại quân Ngoại giáo đã thay đổi hoàn toàn các chiến lược từ trước đến giờ của người Viking. Trước thời điểm ấy, chiến lược chủ yếu của họ vẫn là các cuộc đột kích và cướp bóc quy mô trung bình và nhỏ. Rất hiếm khi các lực lượng của người Viking kết hợp lại để tổ chức nên một đội quân lớn.
Nhưng chiến thắng vào năm 865 đã cho thấy rằng giờ đây người Viking đã sẵn sàng tổ chức các đội quân lớn, đủ sức chiếm cứ đất đai tại Anh và biến chúng thành thuộc địa của mình. Nhiều vùng đất của người Anglo-Saxon rơi vào tay Viking và trở thành Danelaw - khu vực do người Viking kiểm soát. Nhiều vương quốc tại đảo Anh đã lần lượt sụp đổ trước sức ép của người Viking.

Vào năm 870, một đội quân khổng lồ dưới sự chỉ huy của một thủ lĩnh Viking là Bagsecg đã đổ bộ lên đảo Anh và âm mưu xâm chiếm vương quốc Wessex. Nhưng vương quốc đã đứng vững được nhờ sự chỉ huy của vua Alfred xứ Wessex. Trong trận chiến tại Ashdown năm 871, quân đội của Wessex đã đẩy lùi thành công đội quân Viking khổng lồ ấy và giết được Bagsecg.
Trong những năm cuối thế kỷ 10, chiến sự giữa các vương quốc còn lại của người Anglo-Saxon và người Viking dần trở nên ác liệt. Một liên minh giữa người xứ Wales và vương quốc Mercia đã được thành lập và dần đẩy lùi được người Viking. Đến năm 947, dù người Viking đã chiếm lại được York, nhưng đó chỉ là một chiến thắng nhỏ vì lực lượng Viking đã suy yếu trên đảo Anh; họ chỉ còn có thể duy trì được các khu định cư nhỏ và khó lòng tiếp tục tác chiến lâu dài.

Đến năm 1013, vua Đan Mạch là Sweyn Râu Chĩa đã xâm lược đảo Anh và tự xưng là vua Anh. Sau khi Sweyn qua đời, người kế vị ông là Cnut đã dành ra gần 20 năm tiếp theo để chinh phạt và mở rộng lãnh thổ. Xuyên suốt triều đại của mình, Cnut đã cố gắng hòa hợp các sắc dân tại đảo Anh và người Đan Mạch - một tư tưởng mới lạ ở thời điểm ấy. Những chiến thắng quân sự đã giúp Cnut kiểm soát được thêm cả Na Uy và một phần Thụy Điển. Vương quốc của Cnut về sau được gọi là Đế chế Biển Bắc; bao gồm phần lớn đảo Anh, Đan Mạch, Na Uy và một phần nhỏ của Thụy Điển. Tuy nhiên ngay sau khi Cnut qua đời năm 1035, Đế chế Biển Bắc suy yếu và cuối cùng tan rã hoàn toàn năm 1042. Quyền lực của người Viking tại đảo Anh tàn lụi dần và cuối cùng biến mất hẳn sau Trận chiến Cầu Stamford năm 1066.

2.2. Đông Âu và Trung Âu
Dân cư ở Đông Âu thường gọi người Viking là Varagian hoặc Varyagi. Những người Viking này chủ yếu đến từ Thụy Điển trong những cuộc di cư lớn. Hoạt động của người Viking ở Đông Âu chủ yếu giao thương và cướp bóc quanh khu vực các dòng sông và biển Caspian. Thậm chí một số chiến binh tinh nhuệ còn được Đế chế Đông La Mã thuê làm cận vệ cho Hoàng đế.
Theo những gì mà biên niên sử nước Nga chép lại, họ đã thiết lập hệ thống cống nạp với các bộ lạc Slav và Phần Lan quanh Đông Âu. Tình trạng hỗn loạn của khu vực này đã đem đến cơ hội tuyệt vời để người Varangian kéo đến Đông Âu và thiết lập nền cai trị chính thức tại đây. Rurik, tộc trưởng của dân Varangian trở thành người chinh phục xây dựng nên thành phố quan trọng trong lịch sử Nga là Novgorod.

Theo thời gian, họ dần xây dựng được các tuyến thương mại từ khu vực sông Volga tới Hy Lạp và Trung Đông. Người Viking đã xây dựng nên các trung tâm thương mại lớn như Ladoga, Gnezdovo và Gotlan. Dần dần, chính những người Viking ở đây lại bị đồng hóa ngược và cuối cùng đến khoảng thế kỷ 11 thì họ gần như đã biến thành dân bản địa Đông Âu.
Còn tại Trung Âu, các khu định cư chính tại đây đều được xây dựng dọc trên bờ nam biển Baltic với mục tiêu giao thương và hình thành cùng lúc với quá trình định cư của dân Slav ven biển. Từ những văn kiện và dấu tích cổ xưa, ta có thể thấy có sự giao lưu văn hóa và kỹ thuật đáng kể giữa dân Scandinavia và dân Slav. Họ lần lượt trao đổi kỹ thuật đóng tàu, xây dựng các trung tâm định cư và thương mại lớn như Reric, Dierkow và Wolin. Tuy nhiên, nhiều nơi trong số này dần bị bỏ hoang và suy tàn sau khi dân cư rời đi vì cạnh tranh kinh tế hoặc ảnh hưởng do chiến tranh.

2.3. Tây Âu: cuộc vây hãm Paris và sự sụp đổ của triều đại Karolinger
Ở khu vực quanh sông Rhine và các vùng đất thấp mà ngày nay được coi như trung tâm quyền lực của châu Âu; thì từ thế kỷ 9, người Viking đã thường xuyên xâm chiếm và cướp phá những vùng này. Tuy nhiên ở phía tây sông Rhine, một thế lực vẫn tồn tại và cố gắng ngăn chặn tầm ảnh hưởng của người Viking trong khu vực. Đó chính là Triều đại Karolinger - những hậu duệ của Charlemagne. Họ là những người cai trị Đế quốc Carolingian một đế chế của người Frank do Charlemagne lập nên. Vùng đất trung tâm của đế quốc này chính là Francia - lãnh thổ nước Pháp về sau; ngoài ra nó còn bao trùm lên vùng Bắc Ý, nhiều vùng đất của người German ở phía tây, các vùng đất thấp và cả một phần nhỏ của bán đảo Iberia. Họ chính là kẻ thù dai dẳng nhất của người Viking tại châu Âu.
Người Viking bắt đầu tấn công vào vùng này từ thập niên cuối thế kỷ 8. Các cuộc tấn công được tổ chức vào hè và ban đầu vẫn chủ yếu nhằm để cướp phá các tu viện. Sau khi lần lượt Charlemagne và người kế vị là Louis Ngoan Đạo qua đời; đế quốc Carolingian rơi vào nội chiến và trở nên suy yếu. Năm 841, lợi dụng tình trạng hỗn loạn tại đây, người Viking đã tràn vào xâm chiếm và cướp phá. Họ thiết lập được thuộc địa đầu tiên ở Gascogne, tây nam đất Pháp.
Đến năm 845, người Viking còn táo tợn hơn khi tổ chức thuyền đi dọc bờ sông Seine để tấn công Paris. Họ đã tấn công và cướp phá Paris cũng như khu vực xung quanh trong nhiều năm. Đế quốc Carolingian thì tiếp tục chia rẽ và cuối cùng đã phân liệt thành 3 vương quốc nhỏ hơn: Tây Francia, Trung Francia và Đông Francia. Trong các năm 885 và 886, vua Odo của Tây Francia đã nhiều lần bảo vệ thành công Paris trước các cuộc tấn công của người Viking.

Năm 911, một thủ lĩnh Viking là Rollo đã bị đánh bại tại Chartres, nhưng rồi đạt được thỏa thuận với Tây Francia. Theo đó, công quốc Normandy được thành lập và Rollo sẽ trở thành Công tước Normandy đầu tiên. Đổi lại thì Rollo đồng ý cải đạo sang Cơ Đốc giáo và cam kết sẽ bảo vệ Tây Francia khỏi những cuộc tấn công của chính người Viking. Quá trình đồng hóa về căn bản diễn ra thuận lợi. Người Norman, hậu duệ của dân Viking ở Normandy về sau sẽ đóng vai trò to lớn trong lịch sử châu Âu.

2.4. Nam Âu và Bắc Mỹ
Dấu chân của người Viking cũng đặt đến cả Nam Âu, vươn xa nhất đến tận bán đảo Iberia. Năm 842, người Viking đã thành lập căn cứ ở cửa sông Loire; từ đó mở đường tấn công bán đảo này và biến nó thành bàn đạp tiến vào Địa Trung Hải.
Những năm sau, đã có những cuộc tấn công lớn diễn ra. Cuộc tấn công đầu tiên của người Viking nhắm vào Al-Andalus - khu vực do người Hồi giáo cai trị tại bán đảo Iberia. Một hạm đội Viking với khoảng 60 - 80 thuyền đã tấn công Galicia, sau đó vượt sông đánh vào Serville và chiếm giữ nơi này trong nhiều tuần. Tuy nhiên, lực lượng Hồi giáo tại Al-Andalus đã nhanh chóng phản công và đánh thắng người Viking trên bộ, buộc họ phải thỏa hiệp. Ở một mặt trận khác, người Viking cũng tổ chức vượt sông Tagus và đánh vào al-Ushbuna (nay là Lisbon). Nhưng cuộc tấn công này thất bại và người Viking bị đẩy lui. Sau các cuộc tấn công này, người Hồi giáo tại Iberia đã quyết tâm xây dựng thêm hải quân và tổ chức lực lượng ở các địa phương để ngăn chặn mối họa Viking.
Tuy vậy, người Viking vẫn không từ bỏ. Từ năm 859, người Viking đã tổ chức một đội quân lớn để tấn công Al-Andalus lần nữa, liên tục cướp phá dọc bờ biển bán đảo. Những cuộc cướp phá này đã gây thiệt hại nặng với việc giao thương, nhiều người phải bỏ chạy khỏi các thành thị trong khi vùng nông thôn phải hứng chịu thiệt hại nặng nề. Tuy nhiên, người Hồi giáo vẫn tiếp tục phản công, và người Viking cũng đáp trả bằng hàng loạt cuộc cướp phá quanh vùng Pampeluna. Đến tận đầu thế kỷ 11, các hạm đội Viking vẫn thường xuyên cướp phá xung quanh bán đảo Iberia.
Xa hơn là đất Ý - nơi may mắn có được những rào cản tự nhiên nên ít chịu tác động hơn. Dù vậy thì từ giữa thế kỷ 10, có hai vị vua Viking là Bjorn và Hastein đã thực hiện một chuyến thám hiểm dài, đi vòng qua bán đảo Iberia và tiến vào Địa Trung Hải. Họ đã tấn công và cướp phá thành Rome, sau đó tiếp tục tiến đến bán đảo Iberia và cướp phá. Những người Viking này liên tiếp đụng độ với những lực lượng Hồi giáo quanh vùng này. Tuy nhiên, họ vẫn chiến thắng trong một số trận, thậm chí còn cướp phá được cảng Luni và đi vòng quanh Tuscany để tới được Arno, cướp phá Pisa và đến được thị trấn Florence.
Không chỉ dừng lại ở một châu lục, người Viking còn xây dựng được thêm một khu định cư dọc theo bờ biển tây nam của Greenland. Nhờ vào khí hậu thuận lợi, người Viking có thể sinh sống ở đây bằng nghề chăn nuôi xuyên suốt nhiều thế kỷ. Lần lượt nhiều khu định cư khác cũng mọc lên khắp nơi. Tuy nhiên, phát kiến thú vị nhất của dân Viking là Bắc Mỹ. Họ đã vượt qua được Đại Tây Dương để xây dựng được các khu định cư tại vùng ngày nay là Newfoundland và thuộc địa hóa được vùng này trong khoảng thời gian. Tuy nhiên, các điểm yếu về hậu cần đã dẫn đến việc người Viking không thể hỗ trợ được dân cư ở các thuộc địa này. Những khu thuộc địa của người Viking ở Bắc Mỹ vì vậy nhanh chóng suy tàn và biến mất sau vài chục năm.

3. Những người Viking nổi danh
3.1. Harald Gormsson Răng Xanh
Harald Gormsson, biệt danh Răng Xanh, là một vị vua Viking cai trị Đan Mạch và Na Uy vào thế kỷ 10. Là người có công thống nhất Đan Mạch, Harald là một tín đồ trung thành của Cơ Đốc giáo và đã dành nhiều năm để truyền bá tôn giáo này vào vương quốc của ông cũng như liên tục thực hiện các cuộc đàm phán vì hòa bình. Với nhiều học giả, nguồn gốc biệt danh Răng Xanh của ông đến từ việc ông sở hữu một cái răng sâu màu xanh hoặc thâm đen. Và nếu cảm thấy quen quen thì đúng vậy, biệt danh Răng Xanh của ông sau này được dùng để đặt tên cho công nghệ kết nối và truyền dữ liệu thông tin tầm gần Bluetooth.

3.2. Ragnar Lothbrok
Ragnar Lothbrok có lẽ là người Viking nổi tiếng bậc nhất với đại chúng - nhờ có series phim dài tập Vikings của History Channel. Ragnar thường được coi là một vị vua Viking mang tính huyền thoại nhiều hơn thực tế; vì hình tượng của ông là tổng hợp của rất nhiều nhân vật trong lịch sử. Đến mức giờ đây khó mà xác định được Ragnar Lothbrok trong lịch sử thực tế là như thế nào nữa. Chỉ có vài điều chúng ta có thể chắc chắn phần nào - Ragnar Lothbrok là một thủ lĩnh trên chiến trường; là vua của Đan Mạch và Thụy Điển; là một trong những thủ lĩnh Viking đầu tiên nghĩ đến việc xâm lược đảo Anh thay vì chỉ đi cướp phá đơn thuần.

Tương tự như Gilgamesh hay Alexander Đại đế, Ragnar cũng được thần thoại hóa và đã có nhiều bài thơ miêu tả các kỳ tích giết rồng cứu vợ của ông. Tên Lothbrok (“quần lông”) cũng xuất phát từ câu chuyện ông mặc quần da rực lửa và nhúng hắc ín. Tương tự như vậy, cái chết của ông cũng được cho là nguyên nhân chính khiến Đại quân Ngoại giáo tấn công đảo Anh - bởi sau khi Ragnar bị vua Aella của Northumbria cho rắn cắn chết; các con trai của Rahnar là Ivar Không Xương, Björn Sườn Sắt, Sigurd Mắt Rắn và Ubba đã hợp lực lại và cùng các đồng minh tấn công xâm chiếm đảo Anh.
3.3. Erik Chiến Thắng
Erik là một vị vua Viking cai trị Thụy Điển từ năm 970 đến năm 995. Theo truyền thuyết, ông đã đánh bại cháu trai Styrbjorn Khỏe Mạnh trong trận Uppsala và được đồn là nhận được ân điển từ Odin, vị vua của chư thần trong thần thoại Bắc Âu. Đó là nguồn gốc cho biệt danh “Chiến Thắng” của ông.
3.4. Björn Sườn Sắt
Theo truyền thuyết, ông là vua đầu tiên của Dòng họ Munso - vương tộc đầu tiên của Thụy Điển. Là một trong những người con trai của Ragnar Lothbrok, ông cùng các anh em trai tiếp tục theo đuổi con đường cướp bóc và chinh phạt mà cha của mình đã vạch ra. Ông chính là một trong những chỉ huy của Đại quân Ngoại giáo và dành nhiều thời gian trong các chiến dịch quân sự chống lại người Anglo-Saxon suốt nửa sau thế kỷ 9.
3.5. Swein Râu Chĩa
Swein Râu Chĩa là một vị vua Viking hùng mạnh. Ông nắm quyền cai trị Đan Mạch vào năm 986 sau một cuộc xung đột đẫm máu với cha mình. - Harald Gormsson Răng Xanh. Sau đó Swein đã liên minh với Erik Hakansson và Olaf người Thụy Điển. Liên minh của họ đã đánh bại vua Na Uy là Olaf Tryggvason trong trận Svolder năm 1000; đặt những bước đầu chinh phục vùng đất này.
Từ năm 1002, Swein đã nhiều lần dẫn quân sang cướp phá đảo Anh và đến năm 1013, ông chinh phục được vùng này, đặt nền móng cho Đế chế Biển Bắc về sau. Nguyên nhân cho điều này đến từ sự kiện người Đan Mạch bị thảm sát trong ngày Thánh Beatrice - một cuộc thảm sát do chính vua Aethelred phát động. Sau khi đánh bại được Aethelred, chỉ 5 tuần sau, Swein Râu Chĩa qua đời vào tháng 2 năm 1014.
3.6. Cnut Đại đế
Cnut là một trong những vị vua Viking quyền lực nhất trong thời đại đó. Ông là con trai của Swein Râu Chĩa; và thừa hưởng nền móng của cha, Cnut đã gây dựng được một đế chế Viking hùng mạnh. Đế chế của Cnut bao gồm Đan Mạch, Na Uy, phần lớn đảo Anh và cả một phần Thụy Điển. Lịch sử về sau gọi đây là Đế chế Biển Bắc.
Khi vua Swein qua đời năm 1014, Cnut được quân đội Đan Mạch của cha tôn làm vua Anh. Tuy nhiên, các quý tộc nước Anh vẫn tiếp tục ủng hộ Aethelred và khiến Cnut phải bỏ chạy về Đan Mạch. Đến năm 1015, Cnut đem hơn 10,000 quân Viking đổ bộ lên Wessex ở phía nam, sau đó đánh ngược lên Northumbria và tấn công London. Sau trận chiến quyết định với dân Viking trong trận Assandun, người Anh bị quân Đan Mạch đánh bại. Khi Aethelred qua đời năm 1016, Cnut trở thành người cai trị duy nhất của Anh.
Là một vị vua quyết đoán và tàn nhẫn, Cnut đã ra tay thanh trừng các đối thủ chính trị của mình. Sau khi đảm bảo ngai vàng vững chắc, Cnut chia nước Anh thành 4 đơn vị hành chính - điều này đã trở thành nền tảng chung cho nền hành chính Anh xuyên suốt nhiều thế kỷ sau đó. Ông cũng bắt đầu tuyển dụng cả người Scandinavia và người Anh vào phục vụ mình. Nhà vua trẻ cũng dành thời gian để bảo vệ bờ biển nước Anh khỏi cuộc xâm lược của những lực lượng Viking khác. Và sau khi người em của ông là vua Đan Mạch Harald II qua đời năm 1018; Cnut trở thành người cai trị của cả Đan Mạch lẫn Na Uy. Tuy nhiên, nền cai trị của nhà vua không mấy bình yên khi nhiều người Na Uy và Thụy Điển bất bình trước vương quyền ngày càng mở rộng của Cnut; mà dân Đan Mạch thì khó chịu trước việc Cnut dành nhiều thời gian ở Anh hơn là ở Đan Mạch.
Năm 1026, Cnut rời nước Anh, đánh bại người Thụy Điển và Na Uy trong trận Helgea. Không chỉ giữ vững được ngai vàng của mình, ông còn tấn công ngược tại Na Uy bằng cách gây ra mối bất hòa giữa dân Na Uy và vua của họ, rồi loại bỏ vua Na Uy khỏi vương quốc. Năm 1027, Cnut đến Rome và tham dự lễ đăng quang của Conrad II, Hoàng đế của Đế quốc La Mã Thần thánh. Sau sự kiện này, Cnut đã xưng là vua của Anh, Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển. Đây là một sự kiện đáng chú ý vì điều này không chỉ cho thấy Cnut có thể giao tiếp với các thế lực khác trong hòa bình; mà ông còn thể hiện bản thân là một vị vua Cơ Đốc giáo, sẵn sàng bảo vệ Giáo Hội. Đến nay, chúng ta vẫn không rõ ràng đây là một nước cờ tôn giáo hay thuần mục đích chính trị - nhưng từ những ghi chép hiếm hoi còn sót lại, thật khó để bảo Cnut là một người căm ghét Cơ Đốc giáo. Ông giữ quan hệ tốt với Hoàng đế Conrad II, sửa chữa và xây thêm nhiều tu viện cùng nhà thờ và tạo điều kiện để dân Anh được hành hương đến Rome. Dù vậy, vị vua gốc Đan Mạch vẫn thể hiện sự tôn trọng với các cư dân theo tôn giáo Bắc Âu.

Cnut qua đời năm 1035, cái chết của ông cũng kéo theo sự suy tàn và sụp đổ của Đế chế Biển Bắc năm 1042.
3.7. Ivar Không Xương
Ivar Không Xương là một trong những thủ lĩnh Viking nổi bật và bí ẩn nhất thế kỷ 9. Theo các chuyện kể Bắc Âu và ghi chép của người Anglo-Saxon; Ivar là một trong những người con trai của Ragnar Lothbrok với nữ tiên tri Aslaug. Ông cũng là một trong những chỉ huy của Đại quân Ngoại giáo. Ivar Không Xương nổi tiếng với trí tuệ, chiến lược sắc bén và sự tàn bạo, đặc biệt là trong chiến dịch báo thù vua Aella của Northumbria vì đã giết chết Ragnar Lothbrok. Sau khi chiếm được York năm 867, Ivar cùng các anh em như Ubba và Halfdan đã mở rộng vùng kiểm soát của người Viking, đặt nền móng cho khu vực định cư gọi là Danelaw. Biệt danh “Không Xương” của ông có nhiều cách lý giải: có thể chỉ một chứng bệnh xương giòn bẩm sinh, một ẩn dụ cho sự linh hoạt dị thường, hoặc một sự sai lệch dịch thuật qua thời gian. Ivar có thể cũng là nhân vật Ímar trong biên niên sử Ireland, người lập nên vương triều Viking Norse-Gael tại Dublin. Ông mất khoảng năm 873, để lại di sản là một trong những Viking có ảnh hưởng lớn nhất tại Anh thời đầu Trung Cổ.

3.8. Rollo Lang Thang
Rollo Lang Thang chính là Công tước Normandy đầu tiên, sau khi ông thỏa thuận với Tây Francia để lập ra công quốc Normandy vào năm 911. Trước đó, Rollo đã từng đem quân tấn công Paris vào năm 885. Sau hơn 20 năm chinh chiến, Rollo đã đảm bảo vững chắc được quyền lợi của mình khi kiểm soát được những vùng đất quanh hạ lưu sông Seine. Trong trận Chartres, dù cuối cùng chịu thất bại trước lực lượng của Tây Francia; nhưng Rollo vẫn giữ được quyền lợi của mình. Rollo cai trị công quốc Normandy mới thành lập đến khi qua đời năm 930; và các hậu duệ của ông tiếp tục giữ tước vị này đến tận khi nó bị Pháp thôn tính vào thế kỷ 13.

4. Trận chiến Cầu Stamford - hồi hết của Kỷ nguyên Viking
Kỷ nguyên Viking được cho là bắt đầu với vụ cướp phá tu viện tại đảo Lindisfarne ngoài khơi Anh; và cũng chính tại Anh sẽ xảy ra sự kiện đặt dấu chấm hết cho thời đại này.
Tại đảo Anh thì trong hàng trăm năm, đã tồn tại nhiều vương quốc nhỏ của người Anglo-Saxon. Đến cuối thế kỷ 9, vương quốc Wessex ở phía nam dần trỗi dậy trở thành thế lực mạnh mẽ nhất. Năm 886, vua Alfred chiếm lại được London từ tay người Viking và tuyên bố mình là vua của người Anglo-Saxon. Trải qua các triều đại kế tiếp của Edward và Athelstan; Wessex dần tiêu diệt và thôn tính các vương quốc khác. Đến năm 927, vua Athelstan chiếm được lãnh thổ cuối cùng do người Viking kiểm soát tại đảo Anh là York; và ông trở thành vị vua Anglo-Saxon đầu tiên cai trị toàn bộ lãnh thổ Anh. Triều đại của các vị vua Anglo-Saxon bị gián đoạn một khoảng thời gian ngắn bởi các vị vua Viking. Sau khi vua Harthacnut - một con trai của Cnut Đại đế - qua đời năm 1042, quyền cai trị nước Anh trở lại với người Anglo-Saxon khi vua Edward Người Thú Tội lên ngôi.
Edward Người Thú Tội qua đời năm 1066 mà không có con, dẫn đến khủng hoảng xảy ra trong việc quyết định người kế vị nhà vua. Ngai vàng ban đầu được trao cho Harold Godwinson, em rể của Edward. Nhưng vẫn còn đó đối thủ tranh chấp là Harald Hardrada - vua của Na Uy; khi trước từng được vua Harthacnut hứa hẹn sẽ trao ngai vàng nước Anh cho Harald. Ngoài ra còn có cả William xứ Normandy (thường được gọi là William Con Hoang), một họ hàng xa của Edward. Với tiềm lực sẵn có, cả 2 bắt đầu tập hợp quân đội để giành lấy ngai vàng nước Anh.

Harald Hardrada tập hợp một hạm đội gồm khoảng 200 - 300 thuyền với một lực lượng từ 7000 - 9000 quân và đổ bộ lên nước Anh. Tháng 9 năm 1066, Harald chiếm được York sau khi đánh bại lực lượng nhỏ hơn của các quý tộc Anh. Sau đó, người Viking nhận hàng phục và con tin từ thành phố. Tình thế lúc này có lợi cho Harald, khi Harold Godwinson còn đang ở phía nam để đề phòng William xứ Normandy tấn công. Thế nhưng ngay sau khi biết tin York thất thủ, Harold Godwinson đã tức tốc dẫn quân đi ngược lên phía bắc để giải quyết đội quân của Harald Hardrada. Hai đội quân chạm trán nhau tại cầu Stamford vào ngày 25 tháng 9 năm 1066.
Sự xuất hiện của quân Anh đã khiến người Viking bất ngờ - nhiều binh lính đã bỏ lại giáp ở doanh trại do thời tiết tháng 9 nóng nực. Họ gặp bất lợi lớn khi đội quân bị chia thành hai. Quân Anh đã gấp rút tấn công và dễ dàng tiêu diệt những người Viking đang ở phía tây con sông - phần lớn hoặc bị giết hoặc phải bỏ chạy. Quân Anh tiếp tục tiến lên, nhưng gặp tắc nghẽn trên cầu; và sự chậm trễ này đã giúp quân Na Uy có đủ thời gian tạo nên một bức tường khiên để phòng thủ. Quân Anh sau khi qua cầu cũng nhanh chóng lập đội hình và tấn công quân địch. Hai bên đánh nhau ác liệt trong nhiều giờ, nhưng quân Na Uy dần rơi vào bất lợi khi thiếu giáp trụ. Cuối cùng, đội hình của quân Na Uy tan vỡ và bị quân Anh đánh bại. Và sau khi Harald Hardrada bỏ mạng, quân Na Uy rút lui hoàn toàn. Còn về Harold Godwinson, tuy thắng được quân Na Uy, nhưng chỉ gần 3 tuần sau, đến lượt ông bỏ mạng trong trận Hastings khi chiến đấu với đội quân của William xứ Normandy. Quyền cai trị nước Anh sau đó rơi vào tay những người Norman.

Cái chết của Harald Hardrada không chỉ đơn giản là cái chết của một vị vua Viking - nó còn đánh dấu việc người Viking đã hoàn toàn không còn cơ hội tái hiện lại giai đoạn hoàng kim như trước nữa. Trong những thế kỷ sau đó, vẫn sẽ có những cuộc cướp phá của người Viking tại Anh và Scotland; nhưng họ không bao giờ còn gây ra được những mối đe dọa lớn như trong quá khứ. Kỷ nguyên Viking đã hoàn toàn khép lại sau trận đánh tại cầu Stamford năm 1066 rồi.

Lịch sử
/lich-su
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất



