Kinh Dịch là triết lý và kinh nghiệm hàng ngàn năm văn minh Á Đông, phạm vi liên quan đến rất rộng, thâm nhập vào nhiều lĩnh vực của tri thức và được vận dụng để lý giải nhiều vấn đề của tự nhiên, xã hội.
Tương truyền, lúc ấy sông Hoàng Hà có con Long Mã hiện hình, lưng nó có bức đồ hình. Vua Phục Hy xem những khoáy đó mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mới đem vạch ra thành nét.
Đầu tiên vạch một nét liền (vạch lẻ), và một nét đứt (vạch chẵn). Vạch liền tượng trưng cho khí Dương, cho sự liền mạch, cứng cỏi, còn vạch đứt tượng trưng cho khí Âm, cho sự biến hóa linh hoạt, có thể phân tách được.
Hai vạch đó gọi là 2 Nghi. Trên mỗi Nghi thêm một nét nữa thành 4 Tượng. Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành 8 Quẻ đơn, rồi lại đem quẻ nọ chồng lên quẻ kia, thành 64 Quẻ kép.
Kinh Dịch trao cho nhân loại 3 chiếc chìa khóa vàng: Chìa khóa vàng thứ 1 là “âm dương”, bất kì sự việc nào trên thế giới, cân bằng âm dương đạt được hài hòa thì có thể phát triển, tiến bộ.
Chìa khóa vàng thứ 2 là “ngũ hành”, vạn sự vạn vật đều không rời xa cái bóng của ngũ hành.
Chìa khóa vàng thứ 3 là “bát quái”, bát quái phát triển thành “Văn Vương 64 quẻ”.
Hà Đồ và Lạc Thư
Hà Đồ và Lạc Thư
Hai học thuyết âm dương ngũ hành được hết hợp từ rất sớm. Nhân vật nổi tiếng nhất trong việc kết hợp hai học thuyết trên là Trâu Diễn. Ông đã dùng hệ thống lý luận âm dương ngũ hành “tương khắc, tương sinh” để giải thích mọi vật trong trời đất và giữa nhân gian. Trâu Diễn là người đầu tiên vận dụng thuyết âm dương ngũ hành vào giải thích các hiện tượng xã hội nói chung. Trâu Diễn là một lãnh tụ quan trọng của các nhà ngũ hành thời Chiến quốc. Khi đưa thuyết ngũ hành vào lịch sử ông đã dùng trật tự của ngũ hành để gán ghép cho trật tự của các triều đại vua. Ý tưởng của ông đã thành một nếp khẳng định trong ý thức hệ của giai cấp phong kiến, đến nỗi gây ra cuộc tranh luận về việc chọn tên “hành” cho triều đại nhà Hán (một triều đại mà học thuyết âm dương ngũ hành rất thịnh và được đem ứng dụng vào tất cả các công việc hàng ngày, vào mọi mặt của đời sống xã hội). Lý luận của Trâu Diễn được các danh gia đương thời hấp thụ và quán triệt vào các lĩnh vực của hình thái ý thức xã hội.
Cuối thời Chiến Quốc, đầu thời Tần Hán có hai xu hướng khác nhau bàn về sự kết hợp giữa thuyết âm dương và thuyết ngũ hành:
Hướng thứ nhất: Đổng Trọng Thư kết hợp âm dương ngũ hành để giải thích các hiện tượng tự nhiên, xã hội, con người. Theo ông, giữa con người và tự nhiên có một mối quan hệ thần bí. Khi giải đáp về khởi nguồn, kết cấu của vũ trụ, ông đã sáng tạo ra một vị thần có nhân cách đứng trên cả vũ trụ, có ý thức và đạo đức đó là “Trời”. Theo ông, trong vũ trụ con người là sự sáng tạo đặc biệt của trò vượt lên vạn vật, tương hợp với trời, trời có bốn mùa, con người có tứ chi. Từ thuyết “thiên nhân hợp nhất”, ông đã dẫn dắt ra mệnh đề “thiên nhân cảm ứng”, cho rằng thiên tai là do trời cảnh cáo loài người. Ông còn lợi dụng quan điểm định mệnh trong học thuyết âm dương ngũ hành để nói rằng “dương thiên, âm ác”. Tuy Đổng Trọng Thư đưa ra phạm trù “khí”, “âm dương”, “ngũ hành” để giải thích quy luật biến hóa của thế giới, song ông lại cho rằng những thử khí ấy bi ý chí của ông Trời chi phối.
Hướng thứ hai: Tác phẩm “Hoàng Đế Nội kinh” đã sử dụng triết học âm dương ngũ hành làm hệ thống lý luận của y học. Tác phẩm này đã dùng học thuyết trên để giải thích mối quan hệ giữa con người với trời đất: coi con người và hoàn cảnh là một khối thống nhất, con người chẳng qua là cơ năng của trời và đất thu nhỏ lại, con người không thể tách rời khỏi tự nhiên mà sinh sống được, con người với giới tự nhiên là tương ứng. Tự nhiên có âm dương ngũ hành thì con người có “thủy hỏa” ngũ tạng. Nội kinh viết: “âm dương là quy luật của trời đất, tuy không thấy được nhưng chúng ta có thể hiểu được nó thông qua sự biểu hiện của thủy hỏa khí huyết, trong đó hỏa khí thuộc dương, thủy huyết thuộc âm”. Tác phẩm này còn dùng các quy luật âm dương ngũ hành để giải thích mối quan hệ giữa các phủ tạng trong cơ thể. Tác phẩm đã vận dụng sự kết hợp giữa học thuyết âm dương với học thuyết ngũ hành để giải thích các hiện tượng tự nhiên cũng như các biểu hiện trong cơ thể con người và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.
Việc sử dụng phạm trù Âm Dương Ngũ Hành đánh dấu bước phát triển đầu tiên của tư duy khoa học phương Đông nhằm đưa con người thoát khỏi sự khống chế về tư tưởng của các khái niệm thượng đế, quỷ thần truyền thống. Chính vì thế, sự tìm hiểu học thuyết Âm Dương Ngũ Hành là một việc cần thiết để lý giải những đặc trưng của triết học phương Đông.
Âm dương ngũ hành là những phạm trù cơ bản trong tư tưởng của người Trung Quốc cổ đại. Đó cũng là những khái niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa để giải thích sự sinh thành, biến hóa của vũ trụ. Đến thời Chiến quốc, học thuyết âm dương ngũ hành đã phát triển đến một trình độ khá cao và trở thành phổ biến trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên. Song học thuyết âm dương ngũ hành cũng như các học thuyết triết học Trung Quốc cổ đại là thế giới quan của người Trung Hoa ở vào một thời kỳ lịch sử đã lùi vào dĩ vãng, lúc đó lực lượng sản xuất và khoa học còn ở trình độ thấp, cho nên không khỏi có những hạn chế do những điều kiện lịch sử đương thời quy định. Đặc biệt, sự phát triển của nó chưa gắn với những thành tựu của khoa học tự nhiên cận hiện đại, nó còn mang dấu ấn của tính trực giác và tính kinh nghiệm. Song học thuyết đó đã trang bị cho con người tư tưởng duy vật khá sâu sắc và độc đáo nên đã trở thành lý luận cho một số ngành khoa học cụ thể.
Người phương Đông từ lâu đã nhận ra, nghiên cứu và ứng dụng học thuyết Âm Dương - Ngũ Hành vào trong cuộc sống đặc biệt là y học, bói toán, hay thậm chí là quân sự. Nhờ hiểu biết về hai cực của sự vật, sự việc mà người ta tìm ra cách đối phó phù hợp khi xảy ra các biến cố gây mất cân bằng. Bằng việc lựa chọn các thuộc tính đối ngược nhau của mọi sự vật, sự việc trong cuộc sống để thúc đẩy và kiềm chế nhau đảm bảo sự hài hòa diễn ra.
Từ lâu người ta đã coi cân bằng, hài hòa là điều quan trọng trong cuộc sống của con người, mọi thứ xoay vần tạo nên sự hòa quyện của thiên nhiên. Học thuyết Âm Dương - Ngũ Hành là một phát minh khoa học thể hiện sự phát triển cực thịnh của xã hội phương Đông đương thời. Người Trung Hoa cổ đại đã áp dụng triệt để chúng vào y học và đời sống. Ví dụ như trong y học, các bệnh được phát hiện do hàn khí xâm thể, các thầy thuốc sẽ bốc các bài thuốc bổ hỏa khí, khắc hàng vào cơ thể để giúp trung hòa các hòa khí này. Sau khi hàn khí bị loại bỏ, cơ thể sẽ nhanh chóng lấy lại trạng thái cân bằng và trở nên khỏe mạnh.
Âm dương, Ngũ hành cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào là gốc của cái nào? Ta không thể khẳng định chắc chắn điều này, tuy nhiên không thể phủ nhận, Âm dương và Ngũ hành có mối liên quan mật thiết với nhau.
Học thuyết âm dương đã nói rõ sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan với hai mặt đối lập thống nhất đó là âm dương. Âm dương là quy luật chung của vũ trụ, là kỷ cương của vạn vật, là khởi đầu của sự sinh trưởng, biến hóa. Nhưng nó sẽ gặp khó khăn khi lý giải sự biến hóa, phức tạp của vật chất. Khi đó nó phải dùng thuyết ngũ hành để giải thích. Vì vậy có kết hợp học thuyết âm dương với học thuyết ngũ hành mới có thể giải thích mọi hiện tượng tự nhiên và xã hội một cách hợp lý. Hai học thuyết này luôn luôn phối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau, không thể tách rời. Muốn nhìn nhận con người một cách chỉnh thể, đòi hỏi phải vận dụng kết hợp cả hai học thuyết âm dương và ngũ hành. Vì học thuyết âm dương mang tính tổng hợp có thể nói lên được tính đối lập thống nhất, tính thiên lệch và cân bằng của các bộ phận trong cơ thể con người, còn học thuyết ngũ hành nói lên mối quan hệ phức tạp, muôn màu giữa các yếu tố, các bộ phận của cơ thể con người và giữa con người với tự nhiên. Có thể khẳng định, âm dương ngũ hành là một khâu hoàn chỉnh, giữa âm dương và ngũ hành có mối quan hệ không thể tách rời.