Với nhu cầu đối với kim loại quý gia tăng, đáy biển sâu thẳm của Trái Đất đứng trước nguy cơ bị khai thác và tàn phá, để lại những hậu quả không thể đảo ngược đến hệ sinh thái và khí hậu toàn cầu.
Trong công cuộc chuyển đổi xanh, có một loại tài nguyên đã trở nên vô cùng quý giá với nhu cầu cực kì lớn, đó là kim loại. Sản xuất các tấm pin năng lượng mặt trời hay pin xe điện đều cần rất nhiều các kim loại khác nhau, từ vô cùng phổ biến đến những loại quý hơn như đồng, mangan (manganese), coban (cobalt), ... Tuy nhiên, đây là những tài nguyên hữu hạn sẽ cạn kiệt, cộng thêm việc khai thác những kim loại này dẫn đến phá rừng, ô nhiễm nguồn nước, thải ra các chất độc hại gây ô nhiễm và ảnh hưởng sức khỏe người dân địa phương đã dấy lên nhiều tranh cãi.
Khai thác coban ở Congo, gây ra nhiều nghi ngại về quyền con người. Nguồn: Worldsaid
Khai thác coban ở Congo, gây ra nhiều nghi ngại về quyền con người. Nguồn: Worldsaid
Và để đẩy sự việc lên đỉnh điểm, nhu cầu về các kim loại này đang gia tăng nhanh chóng để phục vụ xu hướng xanh hóa của toàn cầu. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), đến năm 2040, tổng nhu cầu khoáng sản từ công nghệ năng lượng sạch sẽ tăng từ 2-4 lần so với hiện tại. Chúng ta đang cần nhiều hơn, nhưng nguồn tài nguyên sẵn có lại đang giảm đi.
Tổng nhu cầu khoáng sản cho công nghệ năng lượng sạch theo các kịch bản khác nhau. Stated Policies Scenario: viễn cảnh theo các chính sách hiện tại, Sustainable Developement Scenario: viễn cảnh phát triển bền vững. Nguồn: IEA
Tổng nhu cầu khoáng sản cho công nghệ năng lượng sạch theo các kịch bản khác nhau. Stated Policies Scenario: viễn cảnh theo các chính sách hiện tại, Sustainable Developement Scenario: viễn cảnh phát triển bền vững. Nguồn: IEA
Và một hướng đi mới đã xuất hiện, tưởng chừng như là một giải pháp hoàn hảo: khai thác khoáng sản dưới biển sâu. Bên cạnh việc không hề ảnh hưởng đến môi trường sống của con người, phân tích từ các mẫu vật dưới đáy biển cho thấy nơi đây chứa một lượng khoáng sản vô cùng dồi dào. Và chính điều này đã thu hút nhiều quốc gia lẫn các nhà đầu tư.
Khai thác thăm dò đáy biển sâu đã bắt đầu từ thập niên 70, và vào năm 1994, Cơ quan Đáy biển Quốc tế (ISA) được thành lập bởi Liên Hợp Quốc để quản lý các hoạt động liên quan đến khoáng sản dưới đáy biển quốc tế. Tính đến 2025, ISA đã cấp 31 hợp đồng thăm dò đáy biển, dẫn đầu là Trung Quốc, Nga và Hàn Quốc. Tổng cộng, các hợp đồng này bao phủ một khu vực rộng gấp 4 lần nước Đức.
Nhưng sáng kiến tưởng như vô cùng tiềm năng này sẽ là một cơn ác mộng nếu được thực hiện và đã vấp phải sự lên án dữ dội của công chúng cũng như các nhà khoa học.
Tuy ở nơi tối tăm với áp suất lớn, nhưng đáy biển lại là nơi sinh sống của hệ sinh vật phong phú. Đáy biển chiếm 90% đại dương, làm cho nơi đây trở thành hệ sinh thái lớn nhất hành tinh, ước tính lên đến 10 triệu loài sinh vật. Các mẩu đất giàu kim loại mất hàng triệu năm để hình thành là môi trường sống quan trọng, việc lấy đi những mẩu đất này sẽ để lại hậu quả không thể đảo ngược dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi thức ăn mà con người chúng ta dựa vào.
Một con bạch tuộc khổng lồ Thái Bình Dương nằm giữa các loài giáp xác và bọt biển ở độ sâu 345m. Nguồn: John Hocevar / Greenpeace
Một con bạch tuộc khổng lồ Thái Bình Dương nằm giữa các loài giáp xác và bọt biển ở độ sâu 345m. Nguồn: John Hocevar / Greenpeace
Đại dương là bể chứa carbon lớn nhất thế giới, lưu trữ 25% tổng lượng CO2 toàn cầu, góp vai trò chủ chốt trong việc điều hòa khí hậu thế giới. Khai thác đại dương có thể làm đảo lộn quá trình hấp thu carbon của đại dương, đồng thời giải phóng lượng carbon được lưu trữ dưới đáy biển. Và với những vấn đề mà đại dương của chúng ta đã phải đối mặt như a xít hóa đại dương, biến đổi khí hậu, đánh bắt quá mức,... khai thác đáy biển dường như là một áp lực khổng lồ sẽ đẩy đại dương của chúng ta đến giới hạn.
Với 80% đại dương của chúng ta hoàn toàn chưa được khám phá, có quá ít nghiên cứu để đánh giá một cách đúng đắn về mức độ nghiêm trọng mà khai thác đáy biển ảnh hưởng đến cả hệ sinh thái biển lẫn đời sống con người vốn dựa vào sự ổn định của đại dương rất nhiều. Quá trình khai thác sẽ để lại tác động không nhỏ, gây ra ô nhiễm (ánh sáng, tiếng ồn, chất thải) ảnh hưởng toàn hệ sinh thái mỏng manh vốn quen với bóng tối và sự im lặng. Trên thực tế, khảo sát từ nơi từng diễn ra hoạt động khai thác mô phỏng dưới đáy biển cho thấy sau 3 thập kỷ, hệ sinh thái vẫn CHƯA HỀ xuất hiện dấu hiệu hồi phục. Chúng ta không được động đến những khu vực dễ tổn thương mà quan trọng này bằng mọi giá, vì công cuộc chống biến đổi khí hậu và chính ta đang dựa vào chúng để sống hơn bao giờ hết.
Nhưng lòng tham con người có thể trở nên thật đáng sợ, khi các nước đã bắt đầu chạy đua không buông tha cho nơi cuối cùng trên Trái Đất mà con người chưa động đến: Na Uy sẽ cấp giấy phép cho hoạt động khai thác vào 2026, tổng thống Trump của Hoa Kỳ đã ký một sắc lệnh hành pháp tháng 4 vừa rồi nhằm tăng cường các hoạt động khai thác đáy biển tại vùng biển Hoa Kỳ và quốc tế (bất chấp việc này là vi phạm luật quốc tế), và vào tháng 1/2026, Nhật Bản sẽ trở thành quốc gia đầu tiên khai thác khoáng sản ở độ sâu chưa từng có là 5 500 m dưới đại dương.
Trầm tích trên bề mặt nước khi thu gom mẫu vật từ Thái Bình Dương. Nguồn: Marten van Dijl / Greenpeace
Trầm tích trên bề mặt nước khi thu gom mẫu vật từ Thái Bình Dương. Nguồn: Marten van Dijl / Greenpeace
Tuy nhiên, đây không phải là lúc để trở nên tuyệt vọng, bởi vì bên cạnh đó, nhiều quốc gia đang lên tiếng về việc này như New Zealand, Tây Ban Nha, Pháp, Đức đã kêu gọi lệnh cấm khai thác đáy biển vĩnh viễn, và nhiều dự án đáy biển cũng đang vấp phải sự phản đối dữ dội của cộng đồng quốc tế. Các tập đoàn lớn như Google, Samsung, ... đã cam kết không sử dụng kim loại được khai thác từ dưới đáy biển.
Các nhà hoạt động của Greenpeace đã đổi logo của Allseas thành "Killseas" tại văn phòng ở Hà Lan. Allseas là công ty dẫn đầu trong việc phát triển máy móc và tàu khai thác đáy biển. Nguồn: Greenpeace
Các nhà hoạt động của Greenpeace đã đổi logo của Allseas thành "Killseas" tại văn phòng ở Hà Lan. Allseas là công ty dẫn đầu trong việc phát triển máy móc và tàu khai thác đáy biển. Nguồn: Greenpeace
Các kim loại quý có thể là chìa khóa trong công cuộc chuyển đổi xanh, nhưng thật phi lý khi ta phá hủy môi trường với lời bao biện để "bảo vệ môi trường". Thay vào đó, hãy tập trung vào việc giảm thiểu nhu cầu khai thác tài nguyên mới bằng việc tái chế các kim loại sẵn có, những công nghệ mới hiện nay cũng đang dần tìm ra giải pháp thay thế kim loại quý (một ví dụ là pin natri-ion có tiềm năng thay đổi thị trường pin xe điện bằng cách thay thế lithium và coban bằng các lựa chọn rẻ và phổ biến hơn).
Và cuối cùng, mỗi người trong chúng ta đều nên ý thức được sự nguy hiểm đến đáng sợ của việc khai thác đáy biển và chia sẻ điều này với mọi người xung quanh, vì càng nhiều người biết đến và phản đối điều này, thì sẽ càng khó để các hoạt động này được cho phép diễn ra.