KỲ CUỐI: ‘DÂN TỘC KHÔNG CÓ SÔNG NGÂN’
"yêu nước" luôn đi liền với "thương nòi". Thiếu cái tâm bao dung với đồng bào, yêu nước sẽ biến thành chủ nghĩa dân tộc cực đoan
Kỳ cuối cùng trong loạt bài 11 kỳ "100 tiếng nói đồng bào" tóm tắt lại các giả thiết về 4 nhóm nguyên nhân và 4 nhóm giải pháp cho câu hỏi hàn gắn dân tộc ở Việt Nam.
Loạt bài “100 tiếng nói đồng bào” của phó giáo sư Nguyễn Phương Mai với con số 100 tượng trưng cho trăm trứng từ bào thai của mẹ Âu Cơ. Một trăm người Việt tuổi từ 25 đến 99, từ đủ mọi nẻo đường của cuộc sống đã góp tiếng nói của mình về vấn đề hòa giải dân tộc. NHỮNG PHẦN TRONG NGOẶC KÉP LÀ LỜI TRỰC TIẾP CỦA NHÂN VẬT.
———————————————
■ NHÓM NGUYÊN NHÂN THỨ NHẤT:
THẮNG THUA RÕ RÀNG VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÒA GIẢI - HÒA HỢP (BÀI 2)
Tại Việt Nam, “hòa giải” thường được hiểu là “buông súng”.
Nhưng trong khoa học, “hòa giải” (reconciliation) rộng hơn rất nhiều. Đó là một loạt các chính sách hậu chiến nhằm: (A) Nói lên sự thật; (B) Thực thi công lý; (C) Đền bù thiệt hại; và (D) Chia sẻ quyền lực để xây dựng lại cộng đồng.
Ở Việt Nam, diễn ngôn “hòa hợp” dường như bỏ qua khâu “hòa giải”. Việc kêu gọi “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” có thể bị hiểu là thực dụng và ích kỷ. Chưa “xóa bỏ hận thù” (hòa giải) đã kêu gọi “chung sống hòa thuận” (hòa hợp).
Điều này bắt nguồn từ việc hòa giải vốn chỉ là giải pháp tình thế tại Hiệp định Paris khi Mặt trận Giải phóng miền Nam cam kết thành lập chính phủ ba thành phần (chính quyền Sài Gòn, phe cộng sản, phe trung lập). Để liên kết được các lực lượng đối đầu này thì khái niệm “hòa giải-hòa hợp” bắt buộc phải ra đời.
Tuy nhiên, lời hứa về "chính phủ ba thành phần" không thể thành hiện thực vì chiến tranh kết thúc bằng sự thắng thua tuyệt đối. Phe thắng cuộc đương nhiên không muốn chia sẻ quyền lực với phe trung lập không có quân đội hay phe bại trận.
Khi phe cộng sản đã áp sát cửa ngõ Sài Gòn, phe trung lập của Tổng thống Dương Văn Minh thực chất không còn là một "đối tác quyền lực" ngang hàng chỉ đứng ra bàn giao, tránh cho Sài Gòn một cuộc tắm máu.
Nhan đề bài viết này là lời Giáo sư Cao Huy Thuần. Ông cho rằng phe trung lập chính là một “chiến sĩ vô danh của hòa giải Việt Nam”. Dù luôn bị gạt ra ngoài bức tranh chỉ có “ta” và “địch,” đóng góp của họ, nhất là Tổng thống Dương Văn Minh, “xứng đáng được lịch sử thắp cho một nén nhang”.
Vì không có chính phủ đa nguyên nên phe chiến thắng toàn quyền quyết định chính sách hòa giải và hậu chiến: (A) Nói lên sự thật nào? (B) Thực thi công lý cho ai? (C) Đền bù thiệt hại cho ai? và (D) Chia sẻ quyền lực ở mức độ nào?
Như vậy, quá trình hàn gắn dân tộc bị ảnh hưởng bởi:
• • • 1. “Hòa giải” bị hiểu đơn giản thành “buông súng,” bỏ qua các thành tố quan trọng khác như “sự thật”, “thừa nhận”, “công lý”, “đền bù”, “hợp tác”...
• • • 2. Thiếu các chính sách hòa giải đúng với bản chất khoa học của quá trình này.
• • • 3. Chiến tranh kết thúc thắng thua rõ ràng, phe thắng cuộc toàn quyền quyết định, dẫn đến thiếu sự đa nguyên trong chính sách hòa giải thời hậu chiến.
———————————————
■ NHÓM NGUYÊN NHÂN THỨ HAI:
CHÍNH SÁCH HẬU CHIẾN (BÀI 2, BÀI 9)
"Ở các nước khác, hận thù là do những gì xảy ra TRONG chiến tranh. Với Việt Nam, hận thù chủ yếu là do chính sách SAU chiến tranh,” cụ thể là giai đoạn xây dựng XHCN ở miền Bắc và hậu chiến ở miền Nam.
Luồng ý kiến có sự đồng thuận cao cho rằng, thay vì hòa giải, các chính sách hậu chiến lại “tạo ra một cuộc chiến mới.” Các chính sách kiểu này tuy không cá biệt trên thế giới nhưng quy mô và tính hệ thống của sự trừng phạt ở Việt Nam là khá sâu rộng.
• • • 1. Cải cách ruộng đất
Theo số liệu tại Hội nghị Trung ương 10 (khóa II, 1956), cứ 10 người thì có 7 người bị quy oan. “Tòa án nông dân hành hình man rợ hàng ngàn người, gồm cả cán bộ Đảng và ân nhân cách mạng” dựa vào “sự căm thù người giàu” chứ “không dựa vào pháp luật.”
• • • 2. Trại cải tạo:
Khoảng 100.000 quân nhân và trí thức chế độ cũ “bị giam giữ,” “lao động khổ sai” mà “không có xét xử và tuyên án.” Nhiều người “chết đói,” “tự sát,” hoặc “bị xử tử.” Ngày 12-6-1975 trên báo Sài Gòn Giải Phóng có đoạn “cuộc đời làm lính đánh thuê cho đế quốc Mỹ (là) kiếp sống cực nhục [...] đã biến chúng từ con người thành ra dã thú. Cách mạng phải cải tạo chúng từ thú trở lại thành người”).
• • • 3. Chủ nghĩa lý lịch
Với nguyên tắc "xét lý lịch ba đời", người chế độ cũ bị “chặn đường tìm việc và con cái họ không được vào đại học.” Cho đến hơn 20 năm sau, lần đầu tiên báo Thanh Niên mới lên tiếng khi có thư kêu cứu của học sinh Nguyễn Mạnh Huy. Em đỗ đầu trong nhiều kỳ thi đại học, nhưng năm này qua năm khác không được chấp nhận vì lý lịch gia đình.
• • • 4. Đánh tư sản
Bốn chiến dịch X1, X2, X3 và Z-30 nhằm vào thương nhân người Hoa, tư sản và tiểu thương. “Nhà cửa, cơ sở sản xuất của họ bị tịch thu, thậm chí cả tư trang như kính đeo mắt.” Đợt đổi tiền ngay sau đó khiến tài sản của họ hoàn toàn mất giá trị. Nhà nước cũng quản lý nhà cửa của các sĩ quan chế độ cũ. Nhà của “mật thám,” “chiêu hồi” bị tịch thu. “Nhiều người bị vu oan là mật thám đã mất sạch gia sản và phải vào tù.”
• • • 5. Kinh tế mới
Một phần trong gần 3 triệu người đi kinh tế mới là nạn nhân của đánh tư sản. Họ bị “cưỡng bức,” “gây áp lực,” hoặc “không còn lựa chọn nào khác vì đã mất hết.” “Hàng trăm ngàn trẻ em thất học.” “Quá đói khổ, nhiều người bỏ trốn về Sài Gòn để ăn xin.”
• • • 6. Thuyền nhân
Những điều trên thúc đẩy hàng triệu người mất kế sinh nhai nên tìm cách vượt biển. Khoảng 200.000 đến 400.000 thuyền nhân bỏ mạng theo ước tính của Cao ủy Liên Hợp Quốc về Người tị nạn (UNHCR).
Vì gốc rễ của hận thù đến từ chính sách hậu chiến (sau 1954 và 1975), “nhà cầm quyền” trở thành yếu tố quan trọng nhất trong quá trình hòa giải với những “người bị oan khiên”.
———————————————
■ NHÓM NGUYÊN NHÂN THỨ BA:
Ý THỨC HỆ CHÍNH TRỊ
Luồng ý kiến có đồng thuận cao, đặc biệt từ người có chuyên môn cho rằng: “ý thức hệ” là nguyên nhân gốc rễ ảnh hưởng đến quá trình hàn gắn dân tộc.
• • • 1. Lý tưởng chính trị (bài 3)
Cuộc chiến ở Việt Nam không dễ phân biệt đúng sai. Vấn đề ở Campuchia và Đức (Quốc xã) là “diệt chủng,” ở Nam Phi là “phân biệt chủng tộc,” ở Mỹ là “chiếm hữu nô lệ”. Thiện ác dễ phân biệt không khiến hòa giải dễ dàng hơn, nhưng là một yếu tố dễ phân định hơn.
Ở Việt Nam, cả hai phe đều chiến đấu vì lý tưởng chính trị trong một cuộc chiến ủy nhiệm (chống cộng sản vs. chống tư bản), tương tự như Nam-Bắc Hàn và Đông-Tây Đức sau này. Phe cộng sản chiến đấu vì khát vọng thống nhất và độc lập. Phe quốc gia muốn bảo vệ một thể chế phi cộng sản.
Hòa giải khó hơn vì xung đột có gốc rễ chính trị chứ không phải chuẩn mực đạo đức.
• • • 2. Cuộc chiến ủy nhiệm (bài 3)
Nội chiến là xung đột nội bộ, hai phe tự giải quyết với nhau. Tuy nhiên ở Việt Nam, đằng sau Sài Gòn là Mỹ và đằng sau Hà Nội là Liên Xô + Trung Quốc. Miền Bắc là “tiền đồn của chủ nghĩa xã hội”. Miền Nam là “con đê chặn làn sóng đỏ” của chủ nghĩa cộng sản, ngăn không cho nó lan rộng ra châu Á.
“Tên gọi đúng bản chất nhất của cuộc chiến này phải là Cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai.” “Ta phải xác định Việt Nam chỉ là một yếu tố trong trận đồ quốc tế.”
“Nội chiến’, ‘kháng chiến chống Mỹ’, hay ‘cuộc chiến chống cộng’ là những cái tên đúng, nhưng chưa đủ. “Nó không lột tả được gốc rễ của bất hòa chủ yếu đến từ bên ngoài.”
• • • 3. Đấu tranh giai cấp (bài 4)
Học thuyết Marx khẳng định chủ nghĩa cộng sản là “chế độ cuối cùng, xã hội ưu việt nhất của loài người." Trong xã hội đó, chuyên chính vô sản (sự độc tài của giai cấp vô sản - dictatorship of the proletariat) xác định công-nông là giai cấp thống trị, trấn áp các giai cấp khác bằng bạo lực cách mạng. Đường lối này ”không ai được chống lại. Ai chống lại thì bị bắt” - (Lê Duẩn).
Đấu tranh giai cấp trở thành nguyên nhân của nhiều HẬN THÙ MỚI. “Khi kẻ thù bên ngoài (Pháp, Mỹ) không còn thì kẻ thù bên trong xuất hiện: địa chủ, tư sản, trí thức cũ, ngụy quân, ngụy quyền, con cái của ngụy quân-ngụy quyền, thuyền nhân," “tiểu thương, doanh nhân,” những người có “tư tưởng xét lại,” “tự chuyển hóa,” “diễn biến hòa bình”…
Khi Mỹ trở thành đối tác toàn diện, “trong sới vật chỉ còn ‘ngụy’”. Cỗ máy tuyên truyền buộc phải đại xá cho kẻ thù ngoại bang. Nhưng để tiếp tục nâng cao tính chính danh (đánh đuổi kẻ thù, thống nhất đất nước), thì "kẻ địch không thể chết”.
Khi Mỹ rời khỏi vị trí này, toàn bộ sức nặng của sự thù ghét đổ vào “ngụy” - những người Việt ở bên kia chiến tuyến. Kẻ thù mới, hoặc những người không hề có liên quan đến “ngụy” nhiều khi cũng được gắn mác/ bị chụp mũ “ngụy”, “ba sọc” để hợp lý hóa sự phán xét. Những lời rủa xả, tấn công ngày nay thường nhằm vào chính người Việt với nhau chứ không phải Mỹ.
• • • 4. Cực đoan và hận thù trên mạng (bài 5)
Đấu tranh giai cấp đã truyền qua nhiều thế hệ tới lớp người trẻ và biến thành hận thù trên mạng. Tuy tính giai cấp đã biến mất, nhưng sự hằn thù chính là biểu hiện cực đoan của “kiêu ngạo cộng sản”, “độc quyền chân lý,” “chủ nghĩa đồng ca,” và “bạo lực cách mạng” trong việc xác định ai là “kẻ thù của nhân dân” để tiêu diệt chúng.
Sự cực đoan chủ yếu đến từ một số người trẻ, những kẻ “chỉ nghe đọc về cuộc chiến,” nhưng lại trở nên “hung hãn,” “tấn công cả những lão thành cách mạng trực tiếp đổ máu”. Sự kiện khiến quốc tế chú ý nhất là việc hàng ngàn người trẻ sỉ nhục lá cờ vàng trưng bày trong bảo tàng lịch sử quân đội.
Mạng xã hội khuếch đại sự thù hận. Thuật toán ưu tiên những nội dung gây phẫn nộ để giữ chân người dùng. Tính ẩn danh xóa bỏ lòng trắc ẩn, loại bỏ sự cắn rứt đạo đức và nỗi sợ bị trừng phạt bằng pháp luật hay quy chuẩn xã hội. Những người bình thường, thậm chí tử tế ngoài đời lại biến thành những kẻ khát máu trên mạng.
• • • 5. Cộng đồng hải ngoại (bài 6)
Cuộc chiến ý thức hệ đã tạo nên bản sắc “chống cộng” cho chính quyền Sài Gòn. Danh tính này đi theo những người tị nạn tới quê hương mới.
Với Nghị quyết 36, chính quyền thay đổi cách nhìn người tị nạn, từ “Việt gian bán nước” thành “Việt Kiều yêu nước.” Tuy nhiên, nghị quyết đang bị nghi ngờ là “cánh tay nối dài của cộng sản nhằm phá hoại cộng đồng hải ngoại”.
Hàn gắn khó khăn vì giữa hai bên thiếu vắng nền tảng của sự hiểu biết và cái tâm chân thành. Hận thù trên mạng khiến cái nhìn về phía bên kia trở nên cực đoan. Sự xa cách địa lý cũng là yếu tố khiến vết thương của hàng triệu kiều bào khó lành hơn.
• • • 6. Chính sách kinh tế (bài 10)
Trong một xã hội tiểu nông hầu như ai cũng nghèo, giàu có thường “bị nghi ngờ là bất lương”.
“Cách mạng vô sản thành công” vì đánh trúng vào tâm lý ghét cái ác tức là ghét người giàu. “Để thoát khổ thì phải đấu tranh giai cấp.” Chính vì thế, “khối đại đoàn kết dân tộc” sau đó coi “người giàu” và “trí thức” là kẻ thù.
Các chính sách kinh tế dựa trên ý thức hệ (cải cách ruộng đất, cải tạo công thương, đánh tư sản, xóa bỏ kinh tế tư nhân) đã tạo thêm hận thù, lấy đi mạng sống của nhiều người vô tội. Chương trình đi vùng kinh tế mới tuy xuất phát từ nhu cầu sinh tồn kinh tế bắt buộc (giãn dân, tăng diện tích đất canh tác để cứu đói) nhưng cũng đẩy nhiều gia đình chế độ cũ vào tình cảnh bi thương.
Bên cạnh đó, lệnh cấm vận của Mỹ và chiến tranh biên giới Tây Nam /Phía Bắc (1978-1979) tạo ra bối cảnh bị bao vây, cô lập. Mối đe dọa sinh tồn này đã kích hoạt tâm lý "phản vệ", đẩy nhanh các chính sách an ninh nội bộ cực đoan như quản lý hộ khẩu, chủ nghĩa lý lịch, và cú đánh vào cộng đồng người Hoa (nạn kiều).
• • • 7. Cuộc chiến ngoại giao (bài 3)
Cuối cùng, Việt Nam vẫn tiếp tục phải linh hoạt kiểu “cây tre” trong cuộc chiến ý thức hệ dưới hình hài kinh tế. "Người Việt tiếp tục bị chia cắt giữa phe bảo thủ thân Trung Quốc và phe bứt phá nghiêng về Mỹ."
Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng hận thù trên mạng là âm mưu chia rẽ người Việt với sự can thiệp của của tình báo Hoa Nam.
———————————————
■ NHÓM NGUYÊN NHÂN THỨ TƯ:
LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ TÂM THỨC
• • • 1. Lịch sử vùng miền (bài 7)
Sau hàng nghìn năm di cư và nội chiến, căn cước Việt thực ra rất mới và không mạnh mẽ bằng căn cước vùng miền. Chính vì thế, "khoan dung" không phải là một căn tính cố định mà là một công cụ sinh tồn, thay đổi tùy bối cảnh lịch sử, tùy vùng đất di cư, tùy kẻ thù. Thậm chí vì quá yêu thương nhau mà khi bị “phản bội,” ta khó có thể tha thứ cho người cùng dòng máu.
Sự linh hoạt này khiến khoan dung khó trở thành giá trị chung để người Việt hàn gắn.
• • • 2. Lịch sử phong kiến (bài 7)
Việt Nam không có giai đoạn tư bản để thẩm thấu những khái niệm hiện đại như “Tổ quốc,” “dân chủ” và "nội chiến". Ngôn ngữ thời phong kiến chỉ có “giang sơn của nhà vua”, ”phản nghịch” và “dẹp loạn”.
Chính vì vậy, không bên nào chấp nhận từ "nội chiến". Miền Nam bị coi là tay sai của Mỹ. Miền Bắc bị coi tay sai của Trung Quốc, Liên Xô. Cả hai đều dùng “truyền thống chống ngoại xâm, trung hiếu với tổ tiên để có chính danh”.
"Hòa giải-hòa hợp" cũng là khái niệm mới. Triều đình phong kiến không "hòa giải" mà "trừng phạt". Chính vì thế, binh lính cộng hòa bị giam giữ vì lý do đạo đức (phản nghịch) chứ không phải lý do chính trị (chống cộng). Tương tự, "tru di tam tộc" cũng là nền tảng của chính sách xét “lý lịch ba đời”.
Chúng ta khó hàn gắn vì không có tư duy và ngôn ngữ để gọi tên sự thật, để hiểu khái niệm "nội chiến," để công nhận rằng "người Việt đang giết người Việt".
Bên cạnh đó, tàn dư phong kiến khiến sau khi lật đổ vua chúa, người dân vẫn mang tâm thế "chờ đợi một đấng minh quân”. Hòa giải khó vì quá trình này không có chính sách xuyên suốt mà phụ thuộc quá nhiều vào “ý chí cá nhân của một nhóm lãnh đạo chóp bu”.
• • • 3. Lịch sử đói nghèo (bài 7)
Thứ nhất, nghèo đói khiến "người Việt có mối thù sâu sắc với kẻ giàu có". “Hòa giải khó vì đó là cái thù đã tích lũy từ ngàn đời".
Thứ hai, dân trí thấp khiến bạo lực cách mạng trở nên man rợ. Hòa giải khó vì "khi chiến tranh kết thúc, sự ngu dốt vẫn tiếp tục nổ súng".
Cuối cùng, giai cấp lãnh đạo các cuộc cách mạng vô sản “hầu như chưa bao giờ phải sống đời vô sản”. Họ đại diện cho người nghèo nhưng bản thân họ là trí thức và tiểu tư sản.
"Nghịch lý giai cấp" này tạo ra mâu thuẫn khi đất nước đã ổn định: “Làm sao để thuyết phục dân nghèo là tuy tôi có đặc quyền, thành đạt, học cao, nhưng tôi vẫn đại diện cho tầng lớp cần lao?" "Làm sao để họ không nhìn tôi như một tầng lớp cai trị mới?"
Tuy nhiên, trong bất kỳ xã hội nào, "người trí thức" của các giai cấp "sẽ là người lãnh đạo". Quá trình hòa giải khó khăn vì nó cần sự chuyển đổi của cả một hệ thống lý luận để không bị mâu thuẫn với thực tế. Có ý kiến cho rằng Đảng Cộng sản “cần quay lại cái tên cũ là Đảng Lao động” để danh chính ngôn thuận.
• • • 4. Đứt gãy văn hóa (bài 8)
Do những chính sách hậu chiến sai lầm, nền tảng văn hóa bị rạn nứt. Người Việt mất đi chỗ dựa cho tinh thần hòa giải.
Thứ nhất, nền tảng tôn giáo và đạo đức bị bật gốc. Những giá trị cơ bản để hàn gắn như tâm linh, nghĩa tử là nghĩa tận, tâm thiện lành, khả năng tha thứ, tinh thần phụng sự, lòng tin vào con người, sự chính trực, sự dấn thân, khả năng thấu cảm… bị đổ vỡ.
Thứ hai, “hận thù dựa trên ý thức hệ” đã chuyển thành “kỳ thị văn hóa,” phân biệt vùng miền, đặc biệt theo hướng “Nam kỳ thị Bắc”. Đây có thể là một dạng “tâm lý phản vệ,” là “đòn trả đũa” cho một thời văn hóa miền Nam bị coi là “rác rưởi, đồi trụy, nô dịch”. Một cách gián tiếp, có lẽ người miền Nam muốn nói rằng “các anh thắng về quân sự, nhưng thua về văn hóa”.
Phân biệt vùng miền ngày càng trầm trọng bởi hận thù trên mạng trong giới trẻ, phá hủy cấu trúc cộng đồng trong nhiều thế hệ tiếp nối.
Thứ ba, đứt gãy văn hóa vô cùng sâu rộng trong cộng đồng hải ngoại. Thế hệ thuyền nhân yêu quê hương tha thiết. Tuy nhiên, họ mất kết nối với Việt Nam bởi muốn đoạn tuyệt với chính quyền cộng sản.
Họ cũng mất kết nối với con cái vì phải tối mặt lo kiếm ăn.Thế hệ sau không nói tiếng Việt, xa rời danh tính Việt, hoặc vấp phải sự hận thù cờ vàng của người trong nước. Hàn gắn sẽ khó khăn hơn khi nguồn lực dân tộc (kiều hối, chất xám, sức mạnh mềm, lobby chính trị…) bị đứt gãy đột ngột sau khi thế hệ thuyền nhân trôi qua.
• • • 5. Nỗi đau tâm thức (bài 1, bài 9, bài 10)
Người Việt đã phải chịu quá nhiều mất mát. Hòa giải khó khăn bởi nỗi đau quá lớn.
Với bên “thua trận,” mất mát là bằng chứng để khẳng định hận thù là chính đáng. Nhưng sống với hận thù cũng khiến “người ta kiệt sức”.
Với bên “thắng cuộc,” mất mát là để khẳng định cái giá phải trả là xứng đáng. Hòa giải đồng nghĩa với việc mất mát đó bỗng thành vô nghĩa.
Bên cạnh đó, “tính sử thi và tráng ca” của chính sử cũng khiến những người chiến thắng phải sống như anh hùng. Họ ít có cơ hội được “hoang mang,” “tự vấn,” “nhận ra mình sai đúng ở đâu,” và được “chữa lành”.
Nỗi đau còn có tính tiếp diễn. Với những người phản tỉnh, họ dằn vặt vì chính mình “có lỗi trong những đau thương của dân tộc”. Với những người hy sinh cho lý tưởng, họ thất vọng vì sau bao xương máu, “lý thuyết màu hồng” vẫn khác với “thực tế bất công cho người nghèo”. Với những trí thức, họ trăn trở khi “chỉ có thể cống hiến nếu vào Đảng”. Với những kẻ liêm chính, họ đau xót nhận ra tham nhũng không chỉ là cá nhân mà “có tính hệ thống”.
Đáng lo ngại hơn, do thiếu vắng một không gian cho đa nguyên sự thật, đa chiều ký ức, những chấn thương xuyên thế hệ tiếp tục diễn ra lặng lẽ trong từng gia đình. Các nghiên cứu về di truyền học biểu sinh cảnh báo rằng sự phá hủy này sẽ được kế thừa ba bốn đời kế tiếp.
Điều đó có nghĩa là những thế hệ không trực tiếp bắn giết, bị tù cải tạo, bị chạy tị nạn, bị đói, bị mất mát, bị phản bội, bị bội tín, bị trả thù… vẫn có thể bị sang chấn tâm lý, lo âu trầm cảm, rối loạn tiêu hóa, tăng cân, huyết áp… Sống trong một môi trường hận thù, thiếu niềm tin và hợp tác, những căn bệnh ấy không chỉ dừng lại ở ba bốn thế hệ mà tiếp tục di truyền sâu rộng hơn.
Nếu ta không thực sự hàn gắn, chặn lại cỗ xe di truyền ấy, hậu quả sẽ là vòng xoáy tụt hậu sinh học của cả dân tộc. Môi trường độc hại kích hoạt gen chấn thương, nhưng trong một môi trường dung hòa, an toàn và thấu cảm, các "công tắc" gien sang chấn hoàn toàn có thể được tắt đi. Hòa giải chính là liệu pháp y khoa vĩ đại nhất để chặn lại những thương tổn xuyên thế hệ của di truyền học.
———————————————
■ NHÓM GIẢI PHÁP THỨ NHẤT: SỰ THẬT
Hòa giải không thể đi vòng qua sự thật. "Ta không thể khép lại quá khứ mà không ghi nhận quá khứ ấy." Ở Việt Nam, quyền được tiếp cận sự thật đặc biệt quan trọng với “bên thắng cuộc”.
Trên thế giới, Ủy ban Sự thật và Hòa giải là yếu tố quyết định thành công của quá trình hàn gắn. Mô hình này đã được áp dụng thành công tại hơn 40 quốc gia.
Điều này có lẽ khó ở Việt Nam. Tuy nhiên, giải pháp đó không phải là duy nhất.
• • • 1. Ghi nhận từ chính quyền (bài 7)
Vì gốc rễ của hận thù đến từ chính sách hậu chiến, chính quyền trở thành yếu tố quan trọng nhất trong quá trình hàn gắn. Đó là khái niệm “hòa giải dọc” (vertical reconciliation), giữa chính quyền và người dân.
“Về mặt nguyên tắc, kẻ thắng trận luôn phải chìa tay làm lành trước. Những người thua trận sẽ giữ lại cho mình chút thể diện cuối cùng. Họ không bao giờ xin được hòa giải.”
“Cộng đồng hải ngoại cũng KHÔNG ĐỦ TÍNH CHÍNH DANH để đàm phán với chính quyền như một thực thể chính trị thống nhất”. Họ không có vị thế “song phương,” quyền lực không có tính “cân đối.”
Thế nên chính quyền phải luôn “đi trước một hai bước.” Đừng đòi hỏi kiểu “trao đổi mua bán”: “Tôi làm cái này thì các bạn phải làm cái kia.” “Tại sao tôi làm cái này rồi mà các bạn vẫn làm cái kia?”
Chính quyền có thể cân nhắc:
▶ Ghi nhận tính chính danh của VNCH:
Các tạp chí lý luận chính trị và các nhà sử học chính thống Việt Nam chuyển sang dùng danh xưng "Việt Nam Cộng hòa" thay cho từ "Ngụy quyền", nhất là trong bộ Lịch sử Việt Nam 15 tập. Tinh thần yêu nước của Ngô Đình Diệm và các giá trị của Đệ nhất Cộng hòa cũng được ghi nhận trong một số sách của NXB Sự Thật. Tuy nhiên, nó cần được biến thành diễn ngôn đại chúng.
▶ Ghi nhận các chính sách sai lầm dẫn đến hận thù:
Chính quyền Việt Nam và Đảng Cộng sản đã chính thức ghi nhận sai lầm trong:
- Cải cách ruộng đất” (1953-1956)
- "Bệnh chủ quan, duy ý chí" và "Quan liêu bao cấp" trong điều hành kinh tế (trước 1986). Ghi nhân này mở đường cho Đổi Mới, cứu đất nước khỏi bờ vực phá sản và nạn đói.
- Sai lầm trong "Cải tạo Công thương" ở miền Nam (sau 1975) trong việc đánh tư sản, áp đặt mô hình kinh tế miền Bắc vào miền Nam, ép nông dân miền Nam vào hợp tác xã, phá vỡ cấu trúc thị trường khiến nền kinh tế miền Nam kiệt quệ và là một trong những nguyên nhân gây ra thảm họa thuyền nhân.
Tuy nhiên, chưa có một văn kiện chính thức nào thừa nhận sai lầm đối với các chính sách trừng phạt hậu chiến áp dụng riêng cho những người thuộc chế độ Việt Nam Cộng hòa (tù cải tạo, chủ nghĩa lý lịch) hay thảm kịch thuyền nhân. Mọi sự cởi trói hiện nay mới chỉ dừng ở mức độ "gác lại quá khứ" chứ chưa tiến tới việc "thừa nhận sai lầm" đối với những nhóm nạn nhân chính trị này.
• • • 2. Lịch sử phải là một khoa học (bài 7)
▶ Bỏ xưng hô “ta-địch”
Đây là giải pháp đơn giản nhất để lịch sử “có vẻ” khoa học hơn. Ngôn ngữ sách giáo khoa (SGK) hiện nay vẫn là lời kể của “ta” - người chiến thắng.
▶ Khách quan
SGK không nên là “một cuốn sử thi dát đầy huân chương,” ta nhất định thắng, địch nhất định thua. Các sự kiện không phải để học thuộc lòng mà để nghiên cứu theo tư duy “các bên được gì, mất gì”.
▶ Đa chiều sự kiện
Lịch sử với tư cách là một khoa học sẽ “đi tìm những điều ta CHƯA BIẾT,” những sự kiện không có trong SGK, những tư liệu bị thất lạc, những tiếng nói vắng mặt trên truyền thông.
Điều này có thể bắt đầu bằng việc từng bước bạch hóa những giai đoạn then chốt như: cải cách ruộng đất, đánh tư sản, nạn kiều với người Hoa, tù cải tạo, chủ nghĩa lý lịch, thuyền nhân, thảm sát Mậu Thân, cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, sự can thiệp của Việt Nam tại Campuchia…
Vượt ra ngoài chính sử, nghệ thuật đang đi đầu trong việc ghi nhận và phục hưng văn hóa miền Nam. Hát nhạc vàng khi xưa có thể bị đi tù, nhưng bây giờ trở thành trào lưu bolero. Nhiều sách của tác giả miền Nam được tái bản.
Tuy nhiên, ở các lĩnh vực khác, “đa chiều sự kiện” nghĩa là các tác giả miền Nam và hải ngoại phải có tên trong chương trình giảng dạy kinh tế, văn học, báo chí, kiến trúc, pháp luật, sư phạm…vv.
▶ Đa nguyên sự thật
Điều này đòi hỏi sự chuyển đổi tư duy mạnh mẽ để chấp nhận rằng “sự thật bất toàn”. Như một con voi mà mỗi ông thầy bói chỉ có thể sờ được một phần, "không ai nhìn thấy hết sự thật. Kể cả những nhà chép sử."
Cách tiếp cận đơn giản nhất với đa nguyên sự thật là qua trải nghiệm cá nhân từ nhiều phía. Chúng ta “tôn trọng ký ức của cô bé bị bắn gãy chân khi đang chạy loạn,” và cô gọi đó là “giặc Mỹ”. Chúng ta tôn trọng ký ức của một cô bé khác “phải chứng kiến mẹ mình bị cưỡng hiếp,” và cô gọi đó là cuộc vượt biển “trốn chạy cộng sản”.
Chúng ta không cần một lịch sử "đúng hết," mà là những "phiên bản lịch sử cá nhân" “phản chiếu thành thật một phần quá khứ".
▶ Sự thật không phán xét
Tuy nhiên, sự thật sẽ phản tác dụng nếu nó không xuất phát từ cái tâm yêu thương và công bằng. Để làm được điều đó, ta phải: (A) luôn tiếp cận đồng thời với mất mát từ cả hai bên, không nói nửa chừng, che giấu, phủ nhận, đánh giá thấp nỗi đau của kẻ khác; (B) nói ra không phải để buộc tội hay trả thù; (C) không đổ lỗi cho cả một cộng đồng.
• • • 3. Bạch hóa và số hóa tài liệu lưu trữ, thành lập các trung tâm ký ức
Tại Đức, tất cả nạn nhân từng bị tình báo Đông Đức theo dõi đều có quyền hợp pháp đến xem hồ sơ của mình để biết sự thật.
Áp dụng vào Việt Nam, giải pháp này sẽ dần dần bạch hóa các hồ sơ gốc của Cải cách ruộng đất, chiến dịch đánh tư sản X1-X2-X3, danh sách trại cải tạo và tù nhân... Khi sự thật được chứng thực bằng tài liệu khoa học khách quan chứ không phải truyền miệng, các cuộc tranh cãi vô căn cứ, nghi ngờ và sẽ giảm xuống.
Tuy nhiên, việc thành lập trung tâm lưu trữ có thể kích hoạt hận thù nếu không có các chế tài tâm lý và hòa giải hỗ trợ. Ở Rwanda chẳng hạn, tôn giáo và các nhóm chữa lành cộng đồng đóng vai trò tối quan trọng để tạo ra một không gian nơi nạn nhân và kẻ tội đồ có thể sám hối, lắng nghe và tha thứ cho nhau.
• • • 4. Trách nhiệm cá nhân với sự thật (bài 9)
Song song với hòa giải dọc (chính quyền-người dân), hòa giải ngang (horizontal reconciliation, giữa người dân với nhau) “cũng là nghĩa vụ của một người tử tế.”
Tuy hiểu lầm vẫn còn nặng nề, nhưng mỗi gia đình và từng cá nhân đã tự hàn gắn theo cách riêng của họ. “Thành tựu lớn nhất về hòa giải chính là nỗ lực nội tại của người Việt, bởi hầu như mọi gia đình ở miền Nam đều có người thân ở hai bên chiến tuyến.” “Suốt 50 năm qua, họ đã dùng tình yêu thương máu mủ để lặng lẽ vực dậy cả dân tộc này.”
▶ Lưu giữ ký ức
Mỗi người già là một viện bảo tàng. Ta có thể xin phép ghi âm, biến ký ức của họ thành bất tử trong dòng chảy lịch sử bằng cách lưu giữ trên blog cá nhân, mạng xã hội, hoặc một nơi trang trọng trong không gian gia đình.
▶ Vượt ra khỏi giới hạn dễ chịu
Không ai muốn bị lừa dối, nhưng cũng không ai muốn phủ nhận ký ức của chính mình và người thân. Tuy nhiên, hàn gắn dân tộc cũng là một phần trách nhiệm của người tử tế. Đó là việc ta đủ dũng cảm để chấp nhận rằng “tôi có thể sai” và mở lòng với một câu trả lời khác.
▶ Để lại dấu ấn cá nhân
Mỗi người dân đều có thể đóng góp theo cách riêng của mình. Đó có thể là một biên tập viên báo chí dùng từ “thống nhất” thay vì “giải phóng”. Một người mẹ xem ti vi và học sử cùng con để giúp con phản biện. Một người cha tìm đọc các tác giả của phía bên kia hoặc ngoài luồng chính sử. Một giáo viên không thể sửa lại SGK nhưng đưa ra một bài tập gợi trí tò mò. Một chính khách chọn nói thật khi về hưu. Một phóng viên lặn lội đi tìm quan điểm không chiếm sóng truyền thông. Một độc giả chia sẻ câu chuyện cá nhân thay vì lao vào chửi bới. Một người tị nạn giải thích cho con cháu tại sao ngày “quốc hận” và ngày “thống nhất” đều là những cái tên có sức nặng lịch sử…
———————————————
■ NHÓM GIẢI PHÁP THỨ HAI: CÔNG LÝ
Nhóm giải pháp này tiếp tục nằm trong phạm vi quyền hạn của nhà nước và các chính sách sửa sai.
• • • 1. Minh oan
▶ Công lý và kinh tế
Sức mạnh thực dụng của kinh tế khiến người ta dễ nhận sai và sửa sai. Kim Ngọc là “câu chuyện hoàn hảo của công lý”. Khi trả đất ruộng cho dân để họ tự cứu đói, ông bị coi là “chệch hướng XHCN, phải kiểm điểm rất nặng nề. Tuy nhiên, khi khoán 10 thành công, ông được minh oan.” Cộng đồng hải ngoại cũng vậy, “họ được minh oan vì điều này có lợi ích kinh tế”.
▶ Các nhóm nạn nhân khác:
Tuy nhiên, ngoài phạm vi kinh tế, hàng trăm nghìn nạn nhân khác cũng cần được minh oan.
Đó là những tướng tá miền Nam đã tuẫn tiết khi Sài Gòn thất thủ nhưng bị chính sử gọi là “kẻ đánh thuê hèn nhát”.
Đó là những binh lính chế độ cũ bị coi như “cầm thú” nên phải cho đi “cải tạo để trở lại làm người”.
Đó là những trí thức cộng sản trong Vụ án Xét lại, Nhân Văn Giai Phẩm và phong trào đa nguyên. Cả những tượng đài như Văn Cao, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang, Phùng Quán… cũng bị “kiểm điểm, sỉ nhục, giam cầm hoặc lao động cải tạo”. Nhóm này có thể bao gồm cả những “tù nhân lương tâm” thời hiện đại.
• • • 2. Khôi phục danh dự
▶ Chính thức
Tiêu biểu là Kim Ngọc. “Được thần công lý phù trợ, Kim Ngọc được đặt tên trường, tên phố, được dựng tượng, tặng huy chương, lên phim, thậm chí được xin lỗi.” “Tất cả những gì có thể làm để khôi phục danh dự cho ông thì đều đã được làm.” Một số trí thức đòi dân chủ trong Nhân Văn Giai Phẩm được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh và các giải thưởng danh dự khác. Tuy nhiên, họ không được chính thức minh oan hay xin lỗi.
▶ Âm thầm
Một số nạn nhân khác được phục hồi danh dự một cách âm thầm. Vài tác phẩm của họ được lưu hành lại, một số người được trở về Việt Nam. Điều này an ủi họ với tư cách cá nhân, nhưng không thúc đẩy hiểu biết đại chúng và hàn gắn dân tộc.
▶ Nửa vời
Thuyền nhân là trường hợp đặc biệt. Họ từng bị coi là “phản quốc,” “lười biếng,” “đĩ điếm,” “trốn đi vì quen ăn bám Mỹ,” “không chịu lao động kiếm sống”. Với Nghị quyết 36, họ trở thành “khúc ruột ngàn dặm” và “Việt kiều yêu nước”.
Tuy nhiên, danh tính mới không đi kèm với những bước căn bản để thiết lập niềm tin như: nói lên sự thật, ghi nhận nỗi đau, khôi phục danh dự… Quá khứ chưa được “lộ ra" đã đòi "khép lại”.
Chính vì vậy, Nghị quyết 36 bị nghi ngờ là thiếu thực tâm. Nhiều người tị nạn cho rằng đó chỉ là cái cớ để “phá hoại cộng đồng hải ngoại,” để “có tính chính danh khi đòi lại Hoàng Sa,” và để “thúc đẩy nguồn kiều hối”.
• • • 3. Công lý cho người đã khuất (bài 8)
▶ Thắp hương cho người ngã xuống
Không gì hàn gắn người Việt hiệu quả hơn truyền thống “nghĩa tử là nghĩa tận”. Có ý kiến cho rằng "chỉ cần lãnh đạo cấp cao đến thắp một nén nhang trong nghĩa trang Biên Hòa thôi là đã khiến một nửa những người ghét chính quyền quay xe rồi."
▶ Tìm hài cốt
Ngoài lính Mỹ và bộ đội, chính quyền có thể mở rộng tìm hài cốt binh lính VNCH, đặc biệt những người đã chết trong các trại cải tạo.
▶ Mồ yên mả đẹp
Năm 2006, nghĩa trang Biên Hòa được chuyển giao từ quân đội sang dân sự, đổi tên thành Bình An. Từ đó, thân nhân được phép thăm viếng. Tuy nhiên, “ai vào cũng phải trình căn cước. Khu thắp hương có lắp camera. Nghĩa trang vốn không ai trồng cây, nhưng nghĩa trang Biên Hòa trông như một khu rừng. Hàng nghìn cây xanh cắm rễ đã nhiều chục năm làm bật tung nắp các ngôi mộ”. Cấp bách nhất là việc đào rãnh thoát nước để mộ khỏi sụt lún và chặt cây để rễ ngừng đâm xuyên qua các quan tài và hài cốt.
Rất nhiều nghĩa trang khác cũng đang hoang phế, hoặc bị ủi đi làm xây dựng. Nhiều tu sĩ và dân thường đã tự nguyện cải táng và chăm sóc những mộ phần này. Nếu đó trở thành chính sách của nhà nước thì sẽ có sức hàn gắn lay chuyển tâm can.
Ngoài ra, chính quyền từng khoét sâu thêm hận thù khi yêu cầu Malaysia và Indonesia phá bỏ hai tấm bia tưởng niệm thuyền nhân trên khu vực trại tị nạn khi xưa. Việc khôi phục lại hai tấm bia này sẽ tạo bước ngoặt về niềm tin trong cộng đồng hải ngoại.
▶ Tượng đài Nghĩa sĩ Hoàng Sa
Quần đảo Hoàng Sa đã chứng kiến cuộc chiến đấu và tử trận của 74 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa.
Năm 2014, ông Đặng Ngọc Tùng, lúc đó là chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động, kêu gọi quyên góp tiền trong dân để xây dựng hai tượng đài, một cho liệt sĩ Gạc Ma, một cho nghĩa sĩ Hoàng Sa.
Khu Gạc Ma xây xong sau một năm. Khu Hoàng Sa sau khi đặt viên đá khởi công thì bị bỏ hoang suốt gần 10 năm. Ông Tùng phải đăng trên facebook cá nhân: “Tôi xin tạ tội.” Theo lời đồn không chính thức, dự án Hoàng Sa bị đình trệ do nhạy cảm ngoại giao trong quan hệ Việt - Trung.
Một chương trình xuất phát từ quần chúng có tên “Nhịp Cầu Hoàng Sa” - đã liên tục quyên góp tiền giúp đỡ gia đình 74 nghĩa sĩ tử trận. Nếu chính quyền chung tay trong các dự án như vậy thì hiệu quả hàn gắn sẽ mạnh mẽ hơn.
• • • 4. Hành động biểu tượng của lãnh đạo
Trong khoa học hàn gắn hậu chiến, một hành động biểu tượng có sức hàn gắn mạnh mẽ. Ví dụ điển hình hành động quỳ gối của thủ tướng Tây Đức Willy Brandt trước đài tưởng niệm các nạn nhân Do Thái ở Ba Lan. Hành động bất ngờ này xoáy chuyển toàn bộ cục diện ngoại giao và quá trình hàn gắn châu Âu.
Áp dụng vào Việt Nam, một số ví dụ trong lịch sử có thể kể đến việc Hồ Chí Minh khóc khi xin lỗi về cải cách ruộng đất và câu nói của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt (30/4 là ngày “triệu người vui, nhưng cũng triệu người buồn”).
Đó là lý do một số nhân vật cho rằng chỉ cần một lãnh đạo ra thắp nhang ở nghĩa trang Biên Hòa, hay hoàn thành tượng đài Nghĩa sĩ Hoàng Sa sẽ là những hành động có sức mạnh hàn gắn kỳ diệu. vượt lên trên mọi sự tính toán và mang tính "thanh tẩy" cảm xúc mạnh mẽ bở việc ích kỷ.
Trong một xã hội tập quyền như Việt Nam, “chỉ cần một câu của lãnh đạo là đủ tạo bước ngoặt, tiết kiệm hàng thập kỷ nỗ lực của dân đen”. Rất nhiều lãnh đạo đã công khai nhận sai trên báo chính thống. Tuy nhiên, những hành động bên lề đó cần biến thành sự ghi nhận chính thức.
———————————————
■ NHÓM GIẢI PHÁP THỨ BA: ĐỀN BÙ
• • • 1. Đền bù vật chất
▶ Đền bù giá trị thực
Trong một thế giới hoàn hảo, “nhà nước phải trả lại những gì đã lấy đi của địa chủ, tư sản, binh lính, viên chức chế độ cũ và những thương nhân bứt ra làm kinh tế khi điều này vẫn bị coi là phạm pháp”.
Tuy nhiên, “giá trị tài sản này quá lớn. Quá nhiều nạn nhân đã chết. Nhà cửa đã bị sung công hoặc chia nhỏ cho cán bộ bên thắng cuộc vào ở.” “Giải pháp này bất khả thi. Ta phải chấp nhận rằng đó sẽ mãi mãi là cội nguồn của niềm oán hận.”
▶ Giải quyết các đơn khiếu nại
Để “oán hận không di truyền đến nhiều đời con cháu về sau,” chính quyền cần giải quyết ngay các đơn kêu cứu, đòi lại gia sản tổ tiên. Có gia đình sống trong căn nhà hơn chục mét vuông cạnh căn biệt thự bị mất. Có lão thành cách mạng đã đút lót hàng trăm triệu cho cán bộ địa phương nhưng chết đi vẫn không được về căn nhà tổ. Có gia đình từng bê cả bàn thờ đi đòi nhà.
• • • 2. Đền bù tinh thần
Trong một xã hội “trọng tình” và luôn “canh cánh chuyện luân hồi, mồ mả” như Việt Nam, đền bù tinh thần “vừa tiết kiệm lại vừa hiệu quả”. Đó cũng chính là nhóm giải pháp “sự thật” và “công lý” đã nêu ở trên.
“Chỉ cần một tấm bia tưởng niệm hàng nghìn người bị giết trong cải cách ruộng đất thôi, con cháu họ sẽ mãi mãi tha thứ cho chính quyền. Họ không cần tiền đâu, họ cần danh dự.”
———————————————
■ NHÓM GIẢI PHÁP THỨ TƯ: BẢO HIỂM TƯƠNG LAI
Cuối cùng, “làm thế nào để ta không trượt chân vào vết xe đổ? Làm thế nào để tương lai được bảo hiểm khỏi hận thù?”
Các giải pháp trong nhóm này mang tính vĩ mô và đòi hỏi tầm nhìn lớn của người lãnh đạo.
• • • 1. Đổi mới hệ thống lý luận (bài 4)
▶ Thay đổi tư duy
"Hàng triệu người Việt đã chịu oan khiên” vì những “chính sách sai lầm dựa vào ý thức hệ”. Vì thế, ta cần "thay đổi lập trường chính trị thì mới thực sự xóa bỏ được hận thù”.
Trên thực tế, Việt Nam đã thay đổi và “xét lại” nhiều lần. “Tư sản” và “trí thức” từng là đồng minh (để chống Pháp), sau đó biến thành kẻ địch (vì phải xóa bỏ giai cấp), rồi lại trở thành đồng minh (vì giai cấp bây giờ bình đẳng). Chủ nghĩa Mác-Lê từng thống trị tuyệt đối cho đến khi Liên Xô sụp đổ và tư tưởng Hồ Chí Minh dần dần thế chân. Kinh tế tư nhân từng bị coi là chệch hướng XHCN nhưng giờ là “một động lực quan trọng nhất” trong “kỷ nguyên vươn mình”.
▶ Cởi trói tư duy
Việc thay đổi hệ thống lý luận sẽ giải phóng tư duy, cho phép những chính sách hàn gắn thực chất được ra đời.
Nó cho phép ta “gọi tên cuộc chiến,” chấp nhận yếu tố “nội chiến” bên cạnh yếu tố “chống Mỹ”. Điều này giúp xóa bỏ xung đột tư tưởng, dẹp được gốc rễ của hận thù trên mạng, giảm thiểu phân biệt vùng miền, trả lại danh dự cho người chế độ cũ và thuyền nhân, tạo tiền đề đối thoại chân thành với hàng triệu kiều bào.
Nó cũng cho phép ngày 30/4 có thêm định nghĩa là ngày “thống nhất” bên cạnh ngày “giải phóng,” ngày “chữa lành” bên cạnh ngày “ăn mừng,” ngày “đại xá” bên cạnh ngày “đại thắng,” ngày “tưởng niệm” bên cạnh ngày “kỷ niệm”.
Nó cho phép ta xây dựng chính sách ngoại giao dựa trên “lợi ích dân tộc” thay vì “ý thức hệ”. Đặc biệt, “nó đoàn kết người Việt trong vấn đề Biển Đông mà không bị mâu thuẫn với cam kết chính trị”. “Những sự kiện hiếm hoi cờ đỏ - cờ vàng sát cánh bên nhau đều liên quan đến Trung Quốc.” Dù chưa chạm vào thực chất, nhưng khối liên minh cảm xúc nhất thời trước một kẻ thù chung cũng là một yếu tố hòa giải ngắn hạn và hiệu quả
Cởi trói tư duy cho phép ta cân nhắc mô hình chủ nghĩa dân chủ xã hội (Social Democracy), hướng đến “tư bản có kiểm soát” và “phúc lợi toàn dân" giống như Bắc Âu vốn được nhiều lãnh đạo “thán phục”. Việt Nam hiện tại đang cố gắng diễn ngôn mô hình này dưới cụm từ “phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội" nhằm tạo sự kết nối hài hòa giữa cảm hứng nguyên thủy của Marx và thực tế thị trường tư bản.
Điều này đặc biệt quan trọng vì “tính chính danh của Đảng đang phải DỰA VÀO KINH TẾ,” nhất là khi “diễn ngôn thắng Pháp thắng Mỹ không còn đủ mạnh mẽ để Đảng giải thích cho vị trí lãnh đạo của mình như xưa nữa”.
• • • 2. Tiếp xúc liên nhóm
▶ Một trong những giải pháp thành công nhất của hàn gắn dựa vào việc các thành viên của hai bên tiếp xúc trực tiếp, ngang hàng, cùng hướng tới một mục tiêu chung và được định chế hỗ trợ. Ví dụ tiêu biểu là các trại hè hòa hợp giữa thanh thiếu niên Israel và Palestine (Seeds of Peace), hay các trận bóng đá ngoại giao giữa hai miền nước Đức trước khi thống nhất.
Áp dụng vào Việt Nam, các tiếp xúc liên nhóm đã rất thành công trong các gia đình, dòng họ hoặc cộng đồng dân cư với nhau. Ví dụ, cộng đồng người Bắc di cư sau này và người tị nạn chung sống cùng thành phố trên quê hương mới (Mỹ, Úc, châu Âu). Đặc biệt, trong các sự kiện cờ đỏ cờ vàng cùng nhau biểu tình phản đối Trung Quốc.
Ở cấp nhà nước, nó được gọi là “ngoại giao nhân dân”, tiêu biểu là gặp gỡ cựu chiến binh Việt-Mỹ và các tổ chức phi chính phủ đến giúp Việt Nam giải quyết di chứng chiến tranh (tháo bom mìn).
Với cộng đồng tị nạn, ngoại giao nhân dân thường có hình thức biểu diễn nghệ thuật, hợp tác khoa học, làm ăn kinh tế, thúc đẩy kiều hối, trại hè thanh thiếu niên, hay đi thăm Trường Sa.
Tuy nhiên, cộng đồng hải ngoại chưa thực sự tin tưởng vào chính sách hòa giải (xem bài 6), các nhân vật được mời về Việt Nam chưa thực sự đại diện cho người Việt tị nạn, thậm chí có thể bị cộng đồng dán nhãn là "bị cộng sản nhuộm đỏ/thao túng". Ngược lại, chính quyền trong nước cũng luôn cảnh giác vì lo sợ "diễn biến hòa bình".
• • • 3. Cách mạng triết lý giáo dục (bài 6, bài 8)
▶ Triết lý Chân-Thiện-Mỹ
Khó có thể tìm ví dụ đau đớn nào cho việc “giáo dục lòng thù hận” bằng hoạt cảnh diễn ra tại một trường mầm non vốn có khẩu hiệu “nơi trao gửi yêu thương”. Thoạt tiên, các em bé “mặc đồ rằn ri bắn giết nông dân. Sau đó các bé mặc đồ quân giải phóng ào đến giải cứu. Còn các bé lính 'ngụy' thì bị bắn bể đầu."
Việc các hoạt cảnh chiến tranh trở thành trào lưu không chỉ “đi ngược lại tinh thần hòa giải,” mà còn “khiến những rường cột cơ bản nhất của đạo làm người cũng bị hủy hoại".
Tất cả phải bắt đầu từ tầm nhìn giáo dục. Chúng ta không thể bước vào “kỷ nguyên vươn mình” với một thế hệ từ lúc 3 tuổi đã nhìn lịch sử qua một trò chơi trận giả, đồng bào chính là kẻ thù, và chém giết là một hoạt động ngoại khóa.
▶ Yêu nước - thương nòi
Không thể phủ nhận lòng yêu nước là sức mạnh mãnh liệt khiến người Việt đoàn kết bên nhau.
Tuy nhiên, sự cực đoan đang hình thành trong một bộ phận người trẻ. Họ cho rằng “yêu nước là không được chê bai,” “đấu tố những cách yêu nước khác mình,” “coi yêu nước như lá bùa để chụp mũ phản động, ba sọc,” “đánh đồng yêu nước với yêu Đảng” và “thần thánh hóa các nhân vật lịch sử”.
Ai cũng có nhu cầu chính đáng là quyền được tự hào. Nhưng thay vì hãnh diện bởi những gì tự làm ra, họ lại “ngạo nghễ, huênh hoang bằng máu của thế hệ đi trước,” “yêu nước theo trend,” và “sỉ nhục các quốc gia khác để Việt Nam trở nên lấp lánh”. Những bạn trẻ thực dụng thì dùng yêu nước để “đánh bóng thương hiệu cá nhân” và “tiến thân trong sự nghiệp”.
Đối lập với sự cực đoan đó là một triết lý giáo dục dựa trên nền tảng “tam dân”. Yêu nước không chỉ là mục tiêu “dân tộc độc lập,” mà còn là “dân quyền tự do” và “dân sinh hạnh phúc”. Cả sáu chữ trong tiêu ngữ Việt Nam đều lấy “dân” làm trọng.
Trong tinh thần nhân văn ấy, "yêu nước" luôn đi liền với "thương nòi". Thiếu "cái tâm bao dung với đồng bào, yêu nước sẽ biến thành chủ nghĩa dân tộc cực đoan," "thành khối ung thư giết chết cơ thể của chính nó". Chính vì thế, giáo dục phải ý thức được sứ mệnh nặng nề trong việc hàn gắn dân tộc.
“Có lần tôi thấy bọn trẻ con xúm vào chửi bới tấm ảnh một ông cựu binh cộng hòa cụt chân đến khóc trước mộ bạn.
Tôi nhớ đến bác Phạm Toàn. Lúc làm bộ SGK Cánh Buồm, bác lúc nào cũng đau đáu về điều này. Bác từng gợi mở cho học sinh ‘khi đứng trước mộ một người lính, tôi nghĩ gì?’”
“Những đứa trẻ được giáo dục như thế sẽ khó có thể nhẫn tâm đến mức lên tiếng nhục mạ một thương phế binh đang khóc thương đồng đội.”
———————————————
■ LỜI KẾT CỦA TÁC GIẢ
Tôi bắt đầu dự án cá nhân này bởi sự day dứt với người cha đã khuất. Lời kêu cứu của ông khi thấy đám ác quỷ đứng chờ mình khiến tôi nhận ra rằng, chúng ta đang sống trên một “mảnh đất lắm người nhiều ma,” chất chồng oán hận.
Ba năm với gần 500 giờ phỏng vấn từ khắp địa cầu, những điều nhân vật chia sẻ chưa chắc đã là chân lý cho đám đông, nhưng chắc chắn là sự thật của chính họ.
Cũng như vị thân sinh của tôi, dường như ai cũng muốn “sám hối,” ai cũng hiểu “đời người một thoáng”. Nếu sống đã “không thể rực rỡ,” mà lại còn chọn “chết đi cùng sự thật,” thì quả là “có lỗi với cơ hội được dừng chân ở kiếp nhân sinh”.
Mất cha, nhưng còn mẹ.
Mẹ tôi 90 tuổi, lão thành cách mạng với hai cuộc chiến. Năm ngoái, tôi đưa mẹ tới thăm một cựu binh cộng hòa.
Cô Dung gần 80 tuổi, vẫn mặc quần rằn ri. Cô không có ai nương tựa nên cả đời sống cùng một người bạn thuở niên thiếu. Căn nhà chỉ vừa đủ trải hai manh chiếu, nhưng có cả chục người chung sống.
Hôm ấy, mẹ mang hết mấy hộp sữa để dành, trút hết tiền trong ví biếu cô Dung. Mẹ khóc, cô khóc. Mẹ cười, cô cười.
Hai bà cụ ngồi trong quán cóc. Tiếng loa nhà bên vẳng ra một bài hát từng bị cấm của Văn Cao: Bài “Mùa xuân đầu tiên”.
Sau chiến thắng 75, bộ máy tuyên truyền yêu cầu nghệ thuật phải có sự hừng hực khí thế của khải hoàn ca. Nhưng "Mùa xuân đầu tiên" của Văn Cao lại là một điệu valse mênh mang, không kiêu hãnh mà rưng rưng ngày đoàn tụ.
Ông cũng nhìn chiến tranh như một sự bất thường, và hòa bình là sự trở về với những gì dung dị nhất. Ông gọi mùa xuân thống nhất là "mùa bình thường, mùa vui nay đã về..." không có từ ngữ nào ngợi ca Đảng mà chỉ có hình ảnh "người mẹ nhìn đàn con nay đã về", "khói bay trên sông, gà đang gáy trưa".
Sự nhân bản thuần khiết này cộng với quá khứ đòi dân chủ trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm khiến bài hát bị đẩy vào bóng tối hơn 20 năm cho đến khi Văn Cao qua đời. Nó được công chúng đón nhận như một trong những tuyệt phẩm vĩ đại nhất về khát vọng hòa hợp và chữa lành của dân tộc Việt Nam.
“Từ đây người biết yêu người…
Với khói bay trên sông,...
…một trưa nắng thôi,
hôm nay,
mênh mông.”
---
#CultureMove #NguyenPhuongMai


Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất
