I. Lịch sử
Singhasari (Kerajaan Singhasari, Karaton Singhasari – tiếng Java) là tên gọi vương quốc của người Java (dân tộc chủ thể của Indonesia) được thành lập ở quanh thành phố Tumapel vốn sau đó được đổi tên Kutaraja Singhasari mà nay là khu vực ngoại ô thành phố Malang của tỉnh Đông Java ở miền đông đảo Java vào năm 1222 bởi Ken Arok a.k.a Rajasa (khoảng 1182-khoảng 1227) để rồi sau đó thì phát triển, bành trướng qua tận miền đảo Java chia đôi đảo với vương quốc Sunda của người Sunda với hạm đội Singhasari thậm chí còn được cử tới tấn công tàn dư Srivijaya trên đảo Sumatra trước khi sang năm 1292 thì trong lúc hạm đội Nguyên đình đang kéo tới xâm lược Java sau khi Singhasari từ chối thần phục lẫn làm nhục sứ giả Nguyên đình cũng như phần lớn quân chủ lực đang tác chiến xa nhà, quốc chủ đời thứ 5 của Singhasari là Kertanegara đã bị 1 phiên thuộc của mình là người thuộc hoàng tộc Kediri là nước tiền triều bị Ken Arok soán vị mà lập nên Singhasari là Jayakatwang nổi dậy giết chết để tự lập chỉ để được 1 thời gian ngắn thì tới lượt Jayakatwang bị hiền tế Raden Wijaya của Kertanegara mượn sức quân Nguyên đánh giết rồi sau đó thì Raden Wijaya dùng quân sự tiễn luôn hạm đội xâm lược nhà Nguyên về nước trước khi lập nên Đế quốc Majapahit vào năm 1293.
Đảo Java là 1 trong số ít nơi hiện diện hoá thạch người cổ trên thế giới với hoá thạch cá thể người cổ thuộc 1 loài trong chi Homo Erectus Người Đứng Thẳng là Homo Erectus Erectus a.k.a Người Java đã được người ta tìm thấy tại đảo này trong quãng thời gian từ năm 1891 tới năm 1892 vốn niên đại hoá thạch Người Java được ước tính là từ 1.49 triệu năm tới 700,000 năm trước và Người Java không phải là phân loài duy nhất của chủng người cổ Homo Erectus được khai quật trên đảo Java khi mà sau đợt khai quật hoá thạch người cổ tại đảo Java từ năm 1931 tới năm 1933 thì đối chiếu lẫn xem xét các hoá thạch mới khai quật, người ta cuối cùng cũng tìm được thêm 1 phân loài khác của chủng người cổ Homo Erectus Người Đứng Thẳng tại Java là giống loài Homo Erectus Soloensis sống từ 117,000 năm tới 108,000 năm trước.
Tuy Java là nơi sinh sống nhiều giống loài người cổ gồm cả các loài người cổ thuộc giống Người Đứng thẳng Homo Erectus song những giống người cổ này đều bị các tổ tiên loài người Hiện Đại thuộc giống Người Thông Minh Homo Sapien thay thế từ khoảng 55,000 năm - 50,000 năm trước.
Tới khoảng 1500 TCN, người Nam Đảo Austronesia nói các ngôn ngữ thuộc nhóm Nam Đảo sau khi được định hình tại nguyên quán đảo Đài Loan từ rất lâu trước đó thì họ đã nam tiến dần dọc theo các đảo thuộc Vành đai lửa Thái Bình Dương rồi 1 nhánh đã rẽ về phía tây mà tiến vào cư trú các đảo thuộc quần đảo Mã Lai cũng như cả bán đảo Mã Lai ngày nay trong khi 1 nhóm khác thì ngoặt về phía đông mà tiến ra cư trú các đảo ngoài khơi xa của Thái Bình Dương vốn sau cùng thì khoảng năm 500 sau Công Nguyên, 1 bộ phận người Nam Đảo nhánh tiến vào cư trú quần đảo – bán đảo Mã Lai đã đi xa hơn về phía tây để lên cư trú tại đảo Madagascar ở Đông Phi.
Các nhóm người Nam Đảo sau khi định cư trên quần đảo – bán đảo Mã Lai đã sớm phân hoá và phát triển văn hoá riêng của nhóm mình vốn chỉ sau khoảng 1000 năm thì văn hoá của các nhóm người Nam Đảo tại đảo Java nói riêng cùng Indonesia nói chung đã phân hoá khác biệt nhau rõ nét tới mức người Ấn Độ xưa vào thời kỳ Vệ Đà (khoảng năm 1500 TCN- khoảng năm 600 TCN) cùng thời kỳ Thập Lục Đại quốc Mahajanapada (khoảng năm 600 TCN tới khoảng năm 345 TCN) đã biết tới tình hình dân cư – chính trị tại đảo Java (được người Ấn Độ bấy giờ gọi bằng cái tên Yawadwipa) cách xa đó tới mức tác phẩm Ramayana của Valmiki có đề cập rằng Yawadwipa gồm các đảo vàng bạc, phong phú mỏ vàng cùng những ngọn núi chạm tới trời thì gồm cả 7 nước.
Minh sử do Trương Đình Ngọc/Hành Thần (29 tháng 10 năm 1672-30 tháng 4 năm 1755) thời đầu nhà Thanh biên soạn ở thời sau cũng có đề
cập khoảng thời gian các nước trên đảo Java được lập mà theo tính toán thì là vào khoảng năm 65 TCN và không dừng lại ở đó khi mà nhà thiên văn học, nhà toán học, nhà địa lý, chiêm tinh người Ai Cập - Hy Lạp thời La Mã đầu Công Nguyên là Claudius Ptolemy (khoảng 100 - khoảng 170) trong tác phẩm Địa Chí của mình cũng đã nhắc tới đảo Java dưới danh xưng Yabadiou/Sabadiou.
Không chỉ người ngoài mới sở hữu những mảnh ghép của Java thời sơ sử ít được biết tới mà bản thân dân Java cũng tự nắm giữ mảnh ghép riêng về văn minh của đảo mình mà sau đó thì văn minh, văn hoá Java đã sớm được dân các nơi xung quanh tiếp thu vốn theo mảnh ghép thời sơ sử mà người Java truyền nhau dưới dạng truyện kể, hình thức thì dân Java biết tới văn minh là nhờ vào Aji Saka đến từ Bumi Majeti ở Jambudvipa là cái tên được thư tịch Ấn Độ dùng gọi lãnh thổ Đại Ấn Độ gồm đất lõi là tiểu lục địa Ấn cùng các khu vực sau đó chịu ảnh hưởng Văn minh Ấn là Đông Nam Á.
Ngay cả vậy thì truyền thuyết của người Java cũng nói rõ rằng Aji Saka chỉ là vị vua mang ánh sáng văn minh tới cho người Java bản địa trên đảo chứ không phải là dân bản địa đầu tiên của đảo vì vào lúc Aji Saka từ xa tới đây thì Java đã có tồn tại vương quốc Medang Kamulan được cho là tiền thân nước Medang về sau với giới thống trị vương quốc là giống quỷ khổng lồ denawa đứng đầu là Vua Quỷ Khổng Lồ Dewata Cengkar chuyên ăn thịt dân chúng con người trong vương quốc mình.
Aji Sakar sau khi tới đảo đã đánh bại lẫn đẩy vua Dewata Cengkar xuống biển trở thành thuỷ quái Cá sấu trắng Bajuh Putih (Bạch Ngạc) vốn với công lao giải phóng đó thì Aji Sakar đã được tôn làm vua Medang Kamulang để rồi sau đó 1 con rắn to được Aji Sakar nhận làm con nuôi đã giết luôn hoá thân Bạch Ngạc Bajuh Putih của Vua Quỷ Khổng Lồ Dewata Cengkar.
Câu chuyện về Aji Sakar từ tiểu lục địa Ấn Độ tới đảo Java đánh đuổi quỷ khổng lồ denawa rồi cai trị người Java nhìn góc độ thực tế có lẽ là mô tả giai đoạn khi ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ gồm cả lối sống, tôn giáo được các thương gia, dân di cư từ tiểu lục địa Ấn độ tới Java du nhập lên đảo này xoá bỏ các hủ tục thuyết vật linh của người bản địa trên đảo như tục săn đầu người tới cận thời hiện đại thì dân 1 số bộ lạc hoang dã tại các vùng hẻo lánh trên 1 số đảo như Borneo –Kalimantan cùng Sumatra, đảo New Guinea như người Dayak, người Irian Jaya…còn thực hiện.
Thông qua sự du nhập của ảnh hưởng văn hoá, tôn giáo Ấn Độ thì không chỉ đời sống người bản địa được thay đổi mà 1 số thực
thể chính trị mới chịu ảnh hưởng văn hoá – tôn giáo Ấn Độ cũng đã xuất hiện tại quần đảo Indonesia như vương quốc Kalinga tại miền trung Java vào thế kỷ thứ 6 hay các vương quốc của các nhóm người phi Java khác xuất hiện sớm hơn như vương quốc Salakanagara của người Banten tại cực tây đảo Java tồn tại quãng thời gian giữa năm 130 tới năm 362, nước Tarumanagara tồn tại từ khoảng thế kỷ thứ 5 tới thế kỷ thứ 7 của tộc Sunda cũng sống miền tây đảo Java nhưng không gồm/thuộc dân Banten, vương quốc Kandis của dân Minangkabau trên đảo Sumatra tồn tại vào thế kỷ thứ 1 TCN, các vương quốc người bản địa Đông Kalimantan trên đảo Borneo
như Kutai Martadipura từ khoảng năm 399 tới năm 635 của dân Kutai…
Sang khoảng thể kỷ thứ 7 thì trước việc bị thế lực quốc gia Srivijaya của người Sumatra tấn công thì nước Tarumanagara của
tộc Sunda tại miền tây đảo Java đã bị suy yếu và tan rã thành 2 tiểu quốc là Sunda ở xa về phía tây đảo Java cùng Galuh ở ở đông bộ Tatar Pasudan mà nay là địa phận gồm 1 phần tỉnh Tây Java (lãnh thổ truyền thống tộc Sunda)cùng 1 phần đất truyền thống Trung – Đông Java của sắc tộc Java là Banyumas) vốn theo tài liệu bản thảo chép tay Truyện về Parahyangan Carita Parahyangan được viết vào cuối thế kỷ 16 bằng Cổ tự Sunda Cổ dựa theo Cổ ngữ Suna trên 47 lá cọ Lontar dài 21 cm lẫn rộng 3 cm về lịch sử nước Sunda từ thế kỷ 8 tới thế kỷ 16 mà nay được lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Perpustaakan National của Indonesia ở Java thì 2 nước Kalinga của người Java cùng Galuh của Sunda có liên hôn với nhau tới mức con trai vua Sanna của Galuh kiêm cháu cố ngoại của nữ hoàng Shima nước Kalinga là vua Sanjaya của Galuh sau đó trở thành vua khai quốc Mataram theo Bà La Môn giáo a.k.a vương quốc Medang ở miền trung lẫn miền đông đảo Java của người Java với Sanjaya trong khi theo bi ký Canggal viết bằng Phạn ngữ có niên đại 732 nằm trong phức hợp đền Gunung Wukir a.k.a Canggal, Shivalinga tại làng Kdiluhwi, huyện Magelang của tỉnh
Trung Java trên đảo Java thì Sanjaya là cháu trai của Sanna thông qua chị/em gái của Sanna.
Cũng theo Truyện về Parahyangan Carita Parahyangan thì Sanna ban đầu làm vua Galuh cho tới khi bị anh em ghẻ là Purbasora tranh vị buộc phải tháo lui sang quê vợ là nước Kalingga rồi mất tại đó vốn sau đó thì con trai Sanjaya đã tự lập nước Mataram vào năm 716 trước khi mang quân đánh về Galuh giết Purbasora để trả thù vào năm 723.
Đáng lý Purbasora bị giết thì Sanjaya đã làm vua Galuh song để giữ hoà khí với thân tộc, Sanjaya đã giao lại ngai vàng Galuh cho con trai của Purbasora trong khi mình lui về quê ngoại để cai trị nước Mataram Bà La Môn a.k.a Medang do mình lập ra vốn vương quốc Mataram Bà La Môn của Sanjaya đã tồn tại tới năm 1016 khi mà vào năm này thì Srivijaya tại đảo Sumatra đã nhân lúc hậu duệ Sanjaya đang cai trị Medang bấy giờ là Dharmawangsa đang lơi lỏng phòng bị do bận rộn phải tổ chức đám cưới cho con gái để ra quân đánh úp Mataram Bà La Môn giáo cũng như giết cả Dharmawangsa cùng gần hết vương tộc Mataram.
May mắn là trong số thành viên vương tộc Mataram chạy thoát được có cháu trai Airlangga (khoảng 1000/1002 -khoảng 1049) mới 16 tuổi của Dharmawangsa thông qua chị/em của Dharmawangsa làm dâu tại Bali lẫn là con rể hụt của Dharmawangsa (Srivijaya đánh úp Mataram Bà La Môn ngay lúc đám cưới của Airlangga đang được tổ chức) vốn sau khi mai danh ẩn tích vài năm sau khi nước của cậu mình bị tận diệt lẫn bản thân bị chết hụt thì vào năm 1019, Airlannga đã tập hợp những người theo mình để kiến lập nên nước Kahuripan tại tỉnh Đông Java của Indonesia ngày nay.
Mặc dù đã úp sọt được Mataram Bà La Môn tại đảo Java song Srivijaya cũng không rung đùi được lâu do tới lượt mình cũng bị người khác úp sọt khi mà chỉ sau 9-10 năm đánh úp diệt gọn Mataram Bà La Môn tại đảo Java thì sang năm 1025, người Tamil thuộc Đế quốc Chola tại miền nam Ấn Độ đã bí mật điều hạm đội từ Ấn Độ Dương kéo vào Nam Dương trước khi bất ngờ tấn công dàn trải 14 cảng thị của Srivijaya trải dài từ bán đảo Mã Lai qua đảo Singapore xuống quần đảo Mã Lai khiến cho không chỉ vua Srivijaya bị bắt, Đế quốc Srivijaya bị diệt vong mà 1 công chúa của Srivijaya đã chạy trốn tới tàn dư kẻ thù Java cũ là Kahuripan rồi cưới Airlanngga cũng như giảng hoà giữa dân 2 đảo vốn 4 năm trước khi qua đời trong năm 1049 thì vào năm 1045, Airlannga đã thoái vị lẫn chia đôi lãnh thổ Kahuripan của mình thành 2 nước Janggala tại Surabaya thuộc tỉnh Đông Java cùng Kediri ở thành phố Kediri cũng trong tỉnh Đông Java rồi giao cho 2 con trai của mình chia nhau cai trị.
2 thực thể kế tục nước Kahuripan cũ của Airlangga sau cùng cũng tái thống nhất nhau vào năm 1136 khi mà trong năm này, vua Kediri đã cưới công chúa Janggala để rồi Kediri đã tiếp tục cai trị Trung – Đông đảo Java cho tới sang đầu thế kỷ 13 thì bị lật đổ vốn sự kiện đó cũng mở ra sự tồn tại của chủ đề trọng tâm là vương quốc Singhasari.
Mặc dù các vua Kediri đã cố gắng cai trị vương quốc thật tốt song sau hơn thế kỷ tồn tại thì vương quốc Kediri bắt đầu thoái trào dưới thời vua Kertajaya trị vì Kediri từ năm 1194 tới năm 1222 mà nguyên do là suốt các đời vua trước đó, các vua Kediri luôn phải chịu kém phận hơn các tăng lữ Bà La Môn – Phật giáo trong vương quốc dù rằng vua thì có tước hiệu tối cao nhằm để tranh thủ sự ủng hộ của tăng lữ đối với vương quyền cai trị Kediri của mình vốn sau 1 thời gian ngấm ngầm, tích tụ mâu thuẫn thì khi Kertajaya đăng cơ làm quốc chủ Kediri vào năm 1194, mâu thuẫn giữa vua chúa với giới tăng lữ trong vương quốc đã nhanh chóng bột phát do bởi khác với các tiên vương thì Kertajaya muốn các tăng lữ phải phủ phục trước mình lẫn coi mình là thần thánh sống ngang hàng với thánh thần họ đang tôn thờ.
Tham vọng đè đầu giới tu sỹ của Kertajaya đã sớm bị các tăng lữ các tôn giáo gồm Bà La Môn cùng Phật giáo không những chống đối mà giới tu sỹ Kediri còn nhân đó quay sang nhờ chư hầu Tumapel ở khu vực thành phố Malang của tỉnh Đông Java bảo vệ.
Vốn dĩ Tumapel đúng là chư hầu phía đông đảoJava của Kediri song kể từ khi ngai vàng Tumapel rơi vào tay Ken Arok thì mọi sự bỗng đổi thay chỉ sau 1 đêm.
Cuộc đời Ken Arok là chuỗi dài những hoạt động mạo hiểm, bội tín, phản bội, bi kịch nối tiếp nhau và nó cũng tiếp tục diễn ra ngay cả sau khi Ken Arok lập nên Singhasari.
Việc Ken Arok ngoi từ 1 dân cùng đinh mạt hạng của xã hội lên thành vua của 1 nước mạnh tại đông bộ đảo Java đã không chỉ được dân Java tại đảo Java kể cho nhau thành truyền kỳ mà thậm chí nó còn được các họcgiả, sử gia của đảo Java sau đó thu thập, lưu giữ, tổng hợp vốn tới sau khi Đế quốc Majapahit được lập nên thì dựa trên những câu chuyện mà mọi người nhau về Ken Arok, 1 tác phẩm sử biên niên có tên là Sách về các vua Paraton a.k.a Katuturanira Ken Angrok Ken Arok Truyền kỳ gồm 1126 dòng văn viết bằng Cổ tự Kawi a.k.a Cổ tự Java đã được viết nên với không chỉ phần cuối cùng của bản thảo viết tay Ken Arok Truyền kỳ được người ta cho là viết vào khoảng thời gian giữa các năm 1481 với năm 1600 dựa trên việc lời kết sách có ghi rõ năm viết là năm 1600 mà quá nửa nội dung Sách về các vua Paraton cũng là ghi chép về hành trạng Ken Arok trước khi lập quốc Singhasari vào năm 1222.
Dựa theo Ken Arok Truyền kỳ Katuturanira Ken Angrok thì Ken Arok tuy xuất thân là con của 1 tăng lữ Bà La Môn với 1 nữ nông dân sống ven sông Brahtas bắt nguồn từ các ngọn núi lửa trong địa phận tỉnh
Đông Java rồi chảy cắt qua địa phận tỉnh Đông Java với lộ trình dòng chảy những 320 cây số trước khi đổ nước ra eo biển Madura nằm giữa 2 đảo Java cùng Madura song do gia cảnh nghèo khó nên đã bị nhà cho thả trôi sông Brahtas với hi vọng sẽ được nhà giàu hiếm muộn nhặt về nuôi dưỡng.
Hi vọng của gia đình Ken Arok khi thả Ken Arok mới sinh theo sông Brahtas đã sớm bị tạt gáo nước lạnh do bởi người nhặt Ken Arok về nuôi không phải là nhà giàu hiếm muộn mà là 1 tay trộm cắp có hạng tên Lembong vốn dưới sự đào tạo của Lembong thì ngay từ còn trẻ, Ken Arok đã trở thành siêu trộm rất có đẳng cấp ở cấp độ toàn quốc Kediri vốn khắp cả nước thì chả ai đủ khả năng để bắt được Ken Arokdù rằng người ta đã nhiều lần tiến hành tróc nã Ken Arok vì tiền án trộm cắpnhiều không biết bao nhiêu mà kể.
Con đường làm người bất hảo của Ken Arok sau cùng cũng kết thúc khi mà Ken Arok gặp được ẩn sỹ rishi người Ấn là Mpu Lohgawe vốn Mpu Lohgawe đã không chỉ đủ kiên nhẫn đưa Ken Arok đi ra khỏi con đường bất hảo với kết quả là hầu như thành công vì sau đó Ken Arok vẫn còn vài lần trở lại làm người xấu để thực hiện mưu đồ tranh quyền đoạt vị của mình
Mpu Lohgawe không chỉ đưa Ken Arok đi ra khỏi con đường bất hảo mà còn tuyên bố Ken Arok là thế thân của thần Vishnu cũng như tìm cách cho Ken Arok được trở thành thuộc hạ của vua Tumapel bấy giờ là Tunggul Amentung vốn nhờ vậy mà sau đó Ken Arok đã gặp được người vợ cực xinh đẹp của Tunggul Amentung là Ken Dedes dẫn đến dù đang có vợ chửa ở quê, Ken Arok vẫn bị say Ken Dedes như điếu đổ.
Tình hình càng trầm trọng hơn khi mà 1 lần Ken Dedes tắm, Ken Arok đã rình trộm Ken Dedes cho tới khi 1 cơn gió thổi qua váy của Ken Dedes khiến Ken Dedes bị lộ đôi chân và khoảnh khắc ấy thì Ken Arok
lại thấy được ở Ken Dedes 1 luồn sáng nhẹ đẹp đẽ mà sau khi về hỏi lại sư phụ mình thì Ken Arok đã nhận được câu trảl ời rằng đó là dấu hiệu Ken Dedes là người sẽ sinh ra 1 vương triều với bất cứ ai có thể kết hôn kết hôn được với Ken Dedes.
Từ chỗ say mê đắm đuối thì sau khi nghe xong lời phán của sư phụ, Ken Arok đã quyết định tự mình sẽ giành lấy vinh dự đó…bằng máu vốn vì chồng Tunggul Amentung của Ken Dedes là 1 người rất khoẻ nên để có thể giết chết Tunggul Amentung lẫn đoạt lấy mọi thứ Tunggul Amentung đang có, Ken Arok đã tìm tới 1 thợ rèn đặc sản dao găm kris nổi danh của người Java là Mpu Gandring để nhờ Mpu Gandring rèn cho con dao găm kris loại siêu đặc biệt để lấy mạng người cực khoẻ như Tunggul Amentung.
Vốn dĩ việc rèn dao găm kris loại hạ sát được người cực khoẻ như với Mpu Gandring thì không cần nhiều thời gian song vì để trì chú, trấn yểm dao không trở thành vật tà linh chỉ biết nếm máu tươi thì Mpu Gandring lại cần tới thời gian vài tháng để làm lễ mà vài tháng thì thứ xa xỉ mà Ken Arok lại không có do bấy giờ Ken Dedes đang có chửa với Tunggul Amentung và Ken Arok sợ khi Mpu Gandring trì chú xong, phong bế dao găm kris xong thì Ken Dedes đã sinh con cho Tunggul Amentung và Tunggul Amentung lập con mới sinh của Ken Dedes làm người kế vị thì công toi.
Chính vì mất kiên nhẫn nên Ken Arok đã quyết định lấy luôn dao găm kris dù dao còn chưa được trấn yểm xong vốn để bịt đầu mốithì Ken Arok đã thử sức mạnh của dao găm kris mới ra lò lên cơ thể của người thợ rèn dao Mpu Gandring đã trực tiếp rèn ra dao vốn dù Mpu Gandring bị dao đâm chết ngay song trước khi chết thì Mpu Gandring đã nguyền rủa Ken Arok rằng dao găm kris đó (kris Mpu Gandring) sẽ uống máu đủ của 7 người gồm cả chính Ken Arok.
Tuy có được dao găm kris song việc vô cớ cầm dao giết vua sẽ bị mọi người không dung nên Ken Arok thông qua việc từng được dưỡng phụ Lembong đào tạo mọi thủ đoạn xấu xa khi còn làm ăn trộm đã quyết định dùng kế Tá Thi (Mượn đao giết người) mà theo đó thì đánh vào tâm lý 1 thuộc hạ khác của Tunggul Amentung là Kenbo Ijo có sở thích sưu tập dao găm kris lại tham lam nên Ken Arok đã chủ động nộp dao lấy lòng Kenbo Ijo để rồi sau khi để cho Kenbo Ijo cầm dao găm được chế tạo cho mục đích giết người đoạt vị đi khoe khoang khắp nơi tới mức ai cũng biết thì Ken Arok sau cùng cũng quyết định hành động.
Ken Arok đã nhân lúc đêm tối Kenbo Ijo đang ngủ để đột nhập vào nhà Kenbo Ijo lấy dao đi giết Tunggul Amentung cũng đang ngủ say vốn vì từng là siêu trộm chưa từng bị thúc thủ nên việc lẻn vào nhà Kenbo Ijo chôm dao đi giết người đã không phải là chuyện khó với Ken Arok để rồi sau khi mọi người phát hiện dao găm Ken Arok dâng cho Kenbo Ijo cắm trên người Tunggul Amentung thì rất nhanh chóng thì Kenbo Ijo đã bị mọi người cho là thủ phạm vốn Ken Arok giết luôn Kenbo Ijo vô can với cớ để trả thù cho chủ lẫn xoá luôn các chứng cớ bất lợi về mình nếu có.
Thông qua trò vừa ăn cướp vừa làng thì Ken Arok đã giết Tunggul Amentung rồi đoạt luôn Ken Dedes làm vợ mình vốn sau đó thì mọi người tại Tumapel đã suy tôn Ken Arok làm tân chủ của mình.
Mặc dù là kẻ trí trá song Ken Arok đã phạm phải tử huyệt là không những cho lưu giữ lại đứa con mà Ken Dedes đang chửa với Tunggul Amentung mà còn nhận nó làm con của mình vốn ngày sau thì chính đứa con của Ken Dedes với Tunggul Amentung sau khi biết được chân tướng sự thực thì đã giúp Mpu Gandring hoàn thành lời nguyền rủa khi cầm chính dao găm kris Mpu Gandring mà Ken Arok từng dùng lấy mạng Tunggul Amentung để lấy mạng của Ken Arok trả thù cho ông già ruột Tunggul Amentung của mình.
Ken Arok tuy đã đoạt được quyền sở hữu mọi thứ tại Tumapel gồm cả vợ đẹp, ngai vàng, quốc gia song Tumapel thì quá nhỏ để thoả mãn tham vọng của Ken Arok nên sau khi lên làm vua Tumapel, Ken Arok bắt đầu nảy sinh ý đồ đoạt luôn giang sơn Kediri.
Sau khi được giới tăng lữ Kediri ủng hộ với nhiều người thậm chí do chán cảnh bị vua Kertajaya của Kediri ngược đãi đã chạy tới Tumapel thì Ken Arok do tự nhận thấy lực lượng của mình đã mạnh nên đã tiến hành tuyên bố ly khai khỏi Kediri trước khi chính thức ra quân đánh nhau với Kediri.
Trước việc bị Tumapel đang do Ken Arok cai trị ly khai thì Kertajaya đã dẫn quân Kediri ra giao chiến và lực lượng 2 bên Tumapel, Kediri đã gặp nhau tại Genter ở Đông Java và khoảng năm 1221 – 1222 với kết quả là Kertajaya không chỉ bị Ken Arok đánh bại dẫn đến Kediri bị Ken Arok kết thúc số phận độc lập của nó mà Ken Arok còn thừa thắng mà tiến lên lập luôn vương quốc mới là Singsahari vào năm 1222 lẫn vương triều Rajasa cai trị Singhasari – Majapahit suốt từ thế kỷ 13 tới
thế kỷ 17.
Dù vậy thì vào khoảng năm 1227/1247, lời nguyền của Mpu Gandring sau cùng cũng ứng nghiệm khi con trai Anusapati của Ken Dedes với Tunggul Amentung lẫn được Ken Arok nhận nuôi sau khi biết được chân tướng sự thật việc Ken Arok giết chủ đoạt cả ngai vàng lẫn vợ từ chính Ken Dedes đã dùng con dao găm kris Mpu Gandring mà trước kia Ken Arok từng dùng giết Tunggul Amentung để giết chết Ken Arok trước khi lên làm vua và cai trị Singhasari cho tới năm 1248 chỉ để bị con trai ruột của Ken Arok với người vợ đã bị Ken Arok bỏ rơi ở quê nhà để lấy Ken Dedes là Panji Tohjaya giết để đoạt vị.
Theo bi ký Mula Malurung do Kertanegara lúc vẫn còn làm phó vương Kediri trước khi trở thành quốc chủ cuối cùng của Singhasari cho đúc vào năm 1255 trên các miếng đồng theo lệnh từ ông già Visnuvardhana đang cai trị Singahasari của mình thì sau khi Ken Arok bị Anusapati bị ám toán, Singhasari lại bị chia đôi thành 2 tiểu quốc là chính quốc Tumapel do Anusapati cai trị dưới vai trò tôn chủ cùng lãnh thổ Kediri phụ thuộc do Prahu Guningbhaya cai trị vốn sau đó thì Kediri lại được giao cho con trai Panji Tohjaya của Ken Arok cai trị.
Từ sau khi giết cha dượng để trả thù ông già ruột lẫn đoạt vị, Anusapati do luôn sống trong tâm lý đề phòng bị người ta ám toán để trả thù nên đã luôn thắt chặt việc canh gác của các cận vệ xung quanh mình chỉ để không ngờ có ngày bị chính em trai ghẻ Panji Tohjaya giết.
Panji Tohjaya biết anh em ghẻ Anusapati giết ông già ruột của mình thì đã ngày đêm tìm cách trả thù vốn sau cùng thì Panji Tohjaya nhằm giết anh em ghẻ của mình trả thù cho ông già mình 1 cách dễ dàng thì đã đòi Anusapati chơi đá gà vốn là thứ mà Anusapati bị nghiện tới mức quên hết mọi thứ để rồi trong lúc Anusapati đang chăm chú theo dõi cuộc sát phạt, Panji Tohjaya đã dùng dao găm kris Mpu Gandring mà ông già ruột từng dùng giết Tunggul Amentung để đoạt vị trước khi cũng bị chính Anusapati dùng nó ám toán để hạ sát Anusapati.
Tuy sau khi giết xong Anusapati thì Panji Tohjaya đã tự đăng cơ trở thành quốc chủ của Singhasari song do nghe lời xúi giục mà Panji Tohjaya đã nghi ngờ 2 cháu trai của mình 1 là Vishnuvardhana, con trai của Anusapati trong khi người kia là cháu nội ruột Mahisa Campaka của Ken Arok thông qua con trai ruột Mahira Wongsa Teleng của Ken Arok vốn theo các tài liệu như Sách về các vua Paraton hay bài thơ Nagarakretagama tán tụng công đức Hayam Wuruk lẫn mô tả Majapahit ở thời điểm cực đại được nhà sư Mpu Prapanca viết bằng chữ Java Cổ a.k.a chữ Kawi trên lá cọ (lontar) vào năm 1365 lẫn được người Hà Lan đoạt lấy từ tay dân bản địa Sasak sống tại đảo Lombok thuộc quần đảo Tiểu Sunda ở tỉnh Tây Nusan Tenggara của Indonesia tại chiến dịch năm 1894 trước khi đem nghiên cứu nội dung thì Mahisa Campaka là ông nội hoặc ông già của Raden Wijaya - người lập ra quốc gia Majapahit về sau kiêm con rể của Kertanegara.
Panji Tohjaya sau đó đã cho người đi giết cả 2 cháu trai Vishnuvardhana cùng Mahisa Campaka chỉ để khi tin tức việc Panji Tohjaya cử sát thủ đi giết Vishnuvardhana cùng Mahisa Campaka lọt tới tai Vishnuvardhana cùng Mahisa Campaka thì 2 người Vishnuvardhana cùng Mahisa Campaka đã cùng tiến hành nổi dậy mà mang quân đánh vào cung điện Tumapel khiến cho Panji Tohjaya bị thương rồi sau đó thì bị mất mạng.
Để tránh 2 nhà con ghẻ - con ruột của Ken Arok tàn sát nhau tới 1 mất 1 còn thì 1 biện pháp thoả hiệp giữa các bên được lập ra đó là Vishnuvardhana được cho làm vua đất căn bản Tumapel trong khi thì
Mahisa Campaka giữ đất Kediri mà Ken Arok chinh phục dưới vai trò là phó vương của Singhasari.
Thông qua biện pháp thoả hiệp này thì Singhasari đã không chỉ tạm thời có lại được sự ổn định về chính trị mà sang năm 1252, Vishnuvardhana đã dễ dàng đàn áp luôn cuộc nổi dậy Lingggapati tại
Mahibit trước khi sang năm 1254 thì Vishnuvardhana đã bổ nhiệm con trai Kertanegara làm phó vương Kediri để rồi qua năm 1268, Vishnuvardhana đã thoái vị nhường ngôi cho Kertanegara trong khi bản thân thì sống tới tận năm 1270/1272 mới qua đời.
Kertanegara sau khi lên ngôi đã làm được 1 số việc khác nhau ở cả lĩnh vực tôn giáo lẫn quân sự khi mà về tôn giáo thì Kertanegara đã giới thiệu, du nhập ý tưởng hợp nhất dòng tôn thờ thần Shiva của Ấn Độ Giáo với Phật giáo Mật Tông vốn cũng vì vậy mà Sách các vị vua Paraton gọi Kertanegara bằng danh hiệu có phấn lưỡng hợp là Bhava Shiva Buddha trong khi bài thơ Nagarakretagama không chỉ nói đến
việc Kertanegara thông thạo cả giáo lý Phật giáo cùng Ấn Độ giáo mà còn gọi Kertanega bằng danh xưng Sri Jnanabajreswara còn bi ký Tumpang thì là Jnaneswarabajra.
Kertanegara bên cạnh đó cũng cho 1 người tên Nada tạc tượng thể hiện mình dưới tư thế ngồi kiểu Phật với kích thước cao 166 cm, rộng 138 cm lẫn dày 105 cm nhằm thể hiện việc hợp nhất Bà La Môn - Ấn Độ giáo được làm chỉ 3 năm trước khi Kertanegara bị ám toán là tượng Phật Mahasobnya a.k.a Joko Dolog được người ta tìm thấy tại làng Kandang Gajah ở Trowulan thuộc huyện Mojokerto trước khi được dời về Surabaya cùng nằm trong tỉnh Đông Java.
Đi cùng với việc hợp nhất tôn giáo thì Kertanegara cũng cho thực hiện nghi thức của tôn giáo lưỡng hợp bà La Môn Shiva giáo với Phật giáo Mật tông do mình đặt ra với nghi thức đó có bao gồm việc chè chén say sưa vốn đây cũng là nguyên nhân khi bị thuộc hạ làm phản đánh úp vào năm 1292 thì Kertanegara lại dễ chịu chết do bởi lúc bị người ta đánh úp vào cung thì Kertanegara đang bận thực hiện nghi lễ cho tôn giáo lưỡng hợp hợp nhất của mình.
Kertanegara sau khi lên ngôi vào năm 1268 cũng đã gây ra nhiều xáo trộn trong bộ máy chính trị Singhasari khi cho thuyên chuyển 1 quan chức cấp cao Mpu Raganata a.k.a Raganatha là người không chỉ khôn ngoan, có tầm nhìn mà còn cả sức ảnh hưởng trong triều đình Singhasari tiền Kertanegara ra làm quan bên ngoài tại Sumenep ở tận mũi đất phía đông đảo Madura.
Chính Mpu Raganata đã nhìn ra dã tâm thoán vị của Jayakatwang dòng dõi vương tộc Kediri về sau và đã từng cảnh báo cho Kertanegara rằng phải luôn dòm chừng Jayakatwang vốn Kertanegara đã không chỉ bỏ ngoài tai cảnh báo của Mpu Raganata mà còn chủ quan bảo rằng chính Jayakatwang còn mắc nợ mình nên sẽ không có chuyện Jayakatwang làm phản và việc này sau đó đã lấy đi mạng của Kertanegara.
Việc mới lên ngôi đã biếm chức Mpu Raganata ra khỏi triều đình trung ương của Kertanegara đã gây ra sự bất mãn trong các quan lại Singhasari để rồi sau đó thì qua năm 1270, 1 người tên Kalana Bhayangkara a.k.a Kalana Bhaya vốn bài thơ Nagarakretagama thế kỷ 14 thì gọi bằng danh xưng Cayaraja đã nổi dậy chỉ để bị Kertanegara cho quân đi trấn áp.
Cuộc nổi dậy Cayaraja không phải là cuộc nổi dậy duy nhất diễn ra trong thời kỳ Kertanegara còn tại vị trước khi bị Jayakatwang hạ bệ giết hại khi mà sau đó 10 năm thì vào năm 1280, 1 người tên là Mahisa Rangkah cũng đã nổi dậy chống lại Singhasari và 1 lần nữa thì cũng bị
Kertanegara dập tắt.
Mặc dù Kertanegara bỏ nhiều tâm huyết vào việc hợp nhất tôn giáo song Kertanegara cũng là người có tham vọng khuếch trương thế lực Singhasari ra khỏi đảo Java vốn cách duy nhất để làm điều đó là thông qua việc gửi quân đội đi chinh chiến nơi xa.
Nguồn cơn của việc Mpu Raganata bị bãi chức khỏi triều đình Singhasari tại Tumapel là do Mpu Raganata phản đối ý định gửi quân ra ngoài Đông Java để thực hiện ước mơ thống nhất quần đảo Indonesia bằng vũ lực tương tự cách Ken Arok trước kia dùng sắt lẫn máu để thực hiện ước mơ đổi đời của mình nên sau khi đàn áp xong cuộc nổi dậy Cayaraja thì Kertanegara vào năm 1275 đã cho Kebo Anabrang a.k.a Mahesa Anabrang, Lembu Anabrang mang quân tây chinh tàn dư Sribijaya trên đảo Sumatra a.k.a Bhumi Malayu vốn cuộc viễn chinh Sumatra do Kertanafera của Singhasari phát động được chính sử gọi là Cuộcviễn chinh Pamalayu và bộ phận quân Singhasari do Kebo Anabrang chỉ huy đã liên tục tác chiến trên đảo Sumatra xa nhà từ năm 1275 cho tới khi Singhasari sụp đổ 17 năm sau đó là vào năm 1292.
17 năm viễn chinh xa nhà tuy là 1 quãng thời gian không nhỏ song thành quả mà cuộc viễn chinh Pamalayu mang tới chính là tàn dư Srivijaya ở đảo Sumatra là nước Melayu đã không chỉ đồng ý khuất phục lẫn thiết lập bang giao hữu hảo với Singhasari mà còn cho 2 công chúa tới đảo Java để làm vợ Kertanegara vốn vì hồi quốc quá trễ sau khi Kertanegara đã bị bộ hạ làm phản lẫn sát hại nên các công chúa đó của Melayu đã quay sang cưới con rể Raden Wijaya của Kertanegara cùng quan chức cấp cao khác của Java.
Thông qua cuộc viễn chinh Pamalayu thì uy quyền lẫn ảnh hưởng của Singhasari đã bao trùm lên khu vực Eo biển Malacca.
Pamalayu không phải là cuộc chiến bành trướng duy nhất do Kertanegara phát động khi mà sang năm 1282, Kertanegara đã gửi 1 cánh quân khác đông tiến tới đảo Bali để làm quả cuộc viễn chinh Bali Pabali vốn chỉ sau 2 năm thì qua năm 1284, các tiểu quốc đảo Bali không chỉ bị khuất phục mà bản thân vua Bali còn bị bắt làm tù binh giải về đảo Java.
Ngoài Sumatra cùng Bali thì Kertanegara còn tung quân khuất phục các nơi gồm Pahang mà có lẽ là Pahang tại bán đảo Mã Lai cùng nước Tanjungpura ở phía tây đảo Kalimantan.
Thắng lợi ngoài chiến trường có lẽ đã làm Kertanegara ngất ngây trong chiến thắng tới mức vào năm 1289 thì sau các lần bị thảm bại tại chiến trường Đại Việt cùng Nhật Bản thì Nguyên chủ của người Mông Cổ là Bột Nhi Chỉ Cân Hốt Tất Liệt a.k.a Kublai (23 tháng 9 năm 1215 – 18 tháng 2 năm 1294) để tạm thời vãn hồi uy thế lãnh đạo của nhà Nguyên với các hãn quốc khác của người Mông đang do các thân tộc của mình cai trị cũng như tiện thể khuếch trương ảnh hưởng của người Mông Cổ xuống Nam Dương đã cho Mạnh Kỳ đi sứ Singhasari đòi Kertanegara thần phục lẫn cống nạp cho Nguyên đình chỉ để khiến
Mạnh Kỳ không những bị Kertanagara từ chối mà còn bị đối xử như phường trộm cướp khi bị cho ăn hình phạt đóng dấu sắt nung lên mặt lẫn bị cắt lỗ tay trước khi đuổi về .
Hốt Tất Liệt sau khi thấy Mạnh Kỳ trở về nước trong bộ dạng te tua thì giận lắm liền phát binh chinh phạt Java song Mạnh Kỳ thực tế xui xẻo chỉ là cớ cần phải có để Nguyên đình động binh Nam Dương chứ Hốt Tất Liệt cũng chả tình thương mến thương gì với Mạnh Kỳ do bởi thứ mà Hốt Tất Liệt cần ở Nam Dương chính là Java với Singhasari là quốc gia sừng sỏ nhất Nam Dương bấy giờ nên chỉ cần khuất phục được Singhasari thì tự động các nước Đông Nam Á hải đảo còn lại sẽ đua nhau tự cuốn đất tới xin quy phụ và theo đó thì người Mông Cổ sẽ kiểm soát được tuyến đường ra vào biển Nam Trung Hoa từ phía Tây sang thông qua ngả eo biển Malacca.
Vì quãng thời gian để Mạnh Kỳ về trình diện cái bộ dạng thảm hại do Kertanegara gây ra cũng như sự từ chối quy phục của Singhasari với Nguyên đình lẫn việc Nguyên đình chuẩn bị động binh tiến đánh Java là 1 quãng thời gian không ngắn giữa lúc sang năm 1290 thì để bức tốc việc hoàn thành công cuộc chinh phục đảo Java để củng cố thế lực nội bộ trước khi phải đối mặt với cuộc xâm lược hông thể tránh khỏi của Nguyên đình, Kertanagara đã tăng thêm quân tham gia cuộc tây chinh Pamalayu ở Sumatra vốn hành động này càng khiến binh lực tại lãnh thổ gốc Đông Java của Singhasari thêm suy yếu do phần lớn chủ lực quân đều đang bận đi đánh nhau ở xa nhà.
Nhân lúc Singhasari đang trống rỗng lực lượng thì 1 đại thần của Kertanegara là Banyak Wide a.k.a Aria Wirajaya vốn cũng là người lâm cảnh đang làm quan trong triều 1 cách ngon ăn thì bị điều ra trung ương tới tận Sumenep ở đảo Madura đã xúi bẩy 1 thành viên cựu vương tộc Kediri bị Singhasari chinh phục là Jayakatwang đang cai trị Gelang-Gelang mà nay là 2 huyện Madiun cùng Ponogoro của tỉnh Đông Java phải biết nắm lấy cơ hội Singhasari đang ít quân để ra quân đánh Kertanagara mà trả thù cho tổ tiên dẫn đến Jayakatwang khi nghe bùi tai để quyết định phất cờ làm phản.
Trùng hợp là vào thời điểm này thì nhà Nguyên cũng đã phát hạm đội gồm 20,000 -30,000 lính người thuộc 3 tỉnh Hồ Quảng, Giang Tây, Phúc Kiến ở phía nam Trung Hoa lên 500 -1000 tàu chiến với lương thực đủ dùng cho 1 năm mà kéo tới chinh phạt Singhasari.
Tuy vậy thì do ở kinh đô Tumapel của Kertanegara vẫn còn lưu lại 1 số tinh binh phòng thủ rất khó để đánh trực diện vào nên để tiến vào Tumapel, Jayakatwang trước đã cho Jaran Guyang đem 1 đội quân nhỏ công khai đánh trực diện vào Tumapel từ mặt bắc xuống để thu hút sự chú ý của Kertanegara vốn để đối phó thì Kertanegara đã cho con rể Raden Wijaya của mình đem số quân còn lại của Singhasari ra giao chiến đánh bại cánh bắc diện quân nghi binh của Jayakatwang.
Lợi dụng lúc Kertanegara đã dính phải kế nghi binh của mình mà tung hết thủ quân còn lại lên bắc thì Jayakatwang đã cho Patih Mahisa Mundarang a.k.a Kebo Mundarang soái chủ lực quân bí mật đánh mạnh vào Tumapel từ phía nam vốn do không bị phát hiện nên cánh nam diện quân của Jayakatwang đã nhanh chóng áp sát được đại bản doanh của Kertanegara.
Mặc dù Kertanegara vẫn còn trong tay kế hoạch B là con trai Ardharaja Putra Jayakatwang của Jayakatwang đang sống cùng gia đình tại Singhasari cũng như đang có mặt trong quân Raden Wijaya song ở thời điểm nguy cấp thì kế hoạch này là bị xịt do bởi khi thấy ông già Jayakatwang của mình tiến quân tới thì Ardharaja Putra Jayakatwang đã không ngần ngại chạy sang phía đại binh của ông già.
Tiến vào được Tumapel với yếu tố bất ngờ nắm gọn trong tay, Jayakatwang đã bắt giết Kertanegara cùng 1 số thân tín gồm người từng cảnh báo Kertanegara phải đề phòng Jayakatwang là Mpu Raganata cùng các đại thần khác là Patih Kebo Anengah, Panji Anragani lẫn Wiraketi.
Trong số thành viên gia đình Kertanegara bị Jayakatwang bắt lúc đánh úp Singhasari thì có cả cô con út của Kertanegara vốn cùng là người được gả cho Raden Wijaya là Gayatri a.k.a Sri Rajapatni cùng 2 cô chị Sri Jayendra Dyah Dewi Prajna Paramita, chị Sri Mahadewi Dyah Dewi Narendraduhita cùng chia sẻ chung chồng với em giữa lúc người chị cả cũng kết hôn với Raden Wijaya thì đã được Raden Wijaya nhanh tay sơ tán.
Raden Wiraraja ở bên ngoài khi hay Kertanegara bị giết thì đã không chỉ toàn quân sụp đổ phải trốn trước tới Terung rồi lại chạy tới Someneb là nơi Aria Wijaya đang trấn nhậm để dung thân khi mà Aria Wiraraja là môn sinh cũ của nhà Raden Wijaya vốn Aria Wiraraja đã không chỉ chấp nhận Raden Wijaya mà sau đó còn vạch kế hoạch phục thù cho Kertanegara với Raden Wijaya khi mà Raden Wijaya không hề biết được chính Aria Wiraraja mới là người đã bán tin mật cũng như xúi Jayakatwang nổi loạn chống lại Kertanegara với điều kiện là 2 sẽ chia đôi đất của Jayakatwang sau khi đã tiêu diệt xong Jayakatwang.
Khi giao kèo được thoả thuận xong thì Aria Wiraraja đã bắn tin cho Jayakatwang là Raden Wijaya muốn đầu hàng vốn Jayakatwang sau khi hay tin đã phạm phải sai lầm giống tổ tiên Ken Arok của Kertanegara – Raden Wijaya là lưu lại mầm mống kẻ thù dẫn đến sau đó dính hoạ sát thân và cùng với việc Raden Wijaya đầu hàng Jayakatwang sau khi Kertanegara bị Jayakatwang nổi dậy giết chết thì vương quốc Singhasari do Ken Arok tốn bao nhiêu chất xám, cơ mưu để kiến lập tới đây bị sụp đổ.
Tuy vậy thì câu chuyện vẫn còn tiếp diễn khi mà sau đó Raden Wijaya đã xin Jayakatwang cho mình tái định cư từ đảo Madura tới Tarik ở huyện Sidoarjo tại tỉnh Java Timur trên đảo Java lẫn phía đông Kediri vốn nơi đây là rừng cây mọc đầy loại trái Maja có vị chua/đắng (Pahit) và Jayakatwang đã nhận lời cho Raden Wijaya tới khu rừng này khai khẩn để lập làng định cư với hành động này được Raden Wijaya thực hiện nhằm che mắt Jayakatwang việc mình đang chờ cơ hội báo thù.
Cơ hội mà Raden Wijaya chờ sau cùng cũng tới khi mà hạm đội nhà Nguyên do không hay biết Kertanegara đã bị Jayakatwang đảo chính giết hại nên vẫn cứ tiếp tục nam tiến để rồi cuối cùng thì đặt chân lên Tuban ở tỉnh Đông Java trên đảo Java vào tháng 11 năm 1192 và đánh nhau với nước Kediri Trung Hưng do Jayakatwang vừa mới tái lập.
Raden Wijaya đã nhân cơ hội ngoại tộc đổ bộ lên đảo để mượn sức quân Nguyên diệt Jayakatwang bằng việc giả liên minh với quân Nguyên rồi dẫn đường cho người Mông cổ tới đánh bại hải quân Jayakatwang ở Surabaya trước khi hướng đạo họ tới vây thành Kediri buộc Jayakatwang không chỉ bị bắt làm tù binh mà sang năm 1293 thì bị giết.
Diệt xong Jayakatwang thì bấy giờ Raden Wijaya quay sang tiễn luôn bằng việc lợi dụng quân Nguyên vừa tổn hao nguyên khí nặng sau khi vừa đánh nhau với Jayakatwang xong, Raden Wijaya đã mượn cớ về lãnh địa Majapahit tại Trowulan cũng ở trong tỉnh Đông Java để huy động quân bấtngờ đánh úp quân Nguyên buộc hạm đội viễn chinh Nguyên Mông phải chạy về nước trong khi bản thân thì thông qua chiến thắng trước thù trong (Jayakatwang) giặc ngoài (Nguyên Mông xâm lược) đã tự lập nước mới trên đảo Java với quốc hiệu là Majapahit.
Và đó là những gì chính sử ghi giữa lúc theo 1 dị bản đặc biệt được ghi lại trong cuốn Lịch sử Java bởi sỹ quan thuộc địa người Anh kiêm tác gia tác phẩm Lịch sử Java lẫn cha đẻ của Singapore hiện đại là Thomas Stamford Bingley Raffles a.k.a Stamford Raffles (5 tháng 7 năm 1781-5 tháng 7 năm 1826) vốn bản thân Stamford Raffles xác nhận là nguồn thông tin dị bản này là từ bản thảo chép tay tìm được tại đảo Bali ở phía đông Java thì có phần hơn khác thực tế lịch sử ở chỗ Stamford Raffles dựa theo bản thảo chép tay tìm thấy tại Bali để không chỉ nói rằng vua vương quốc Tumapel a.k.a Singhasari, Singa Sari thời Vishnuvardhana trị vì trong lịch sử là Sri Laksi Kirana có 2 con trai mà còn truyền ngôi cho trưởng tử là Sang Sri Siwabuda (vương hiệu của Kertanegara trong Sách các vua Paraton) giữa lúc em trai của Sang Sri Siwabuda thì phải phục vụ anh trai với tên người vương đệ vua Sang Siwabuda được nhắc tới bởi Stamford Raffles trong Lịch sử Java là vua khai quốc Majapahit về sau - Raden Wijaya.
Lịch sử Java của Stamford Raffles không chỉ nói rằng Raden Wijaya cùng Kertanegara là anh em ruột mà còn nói thêm rằng khi Sang Sri Siwabuda lên trị vì thì Tumapel (Singhasari) đã suy tàn 1 cách đáng kể tới mức 1 người tên Mangku Raja Nata (Mpu Raganata) đã tới trước Sang Sri Siwabuda nhắc nhở rằng các tiên vương trước Sang Sri Siwabuda đã hao tổn nhiều công sức để xây Singhasari giàu mạnh dẫn đến do bị trái tai Sang Sri Siwabuda nên sau cùng bị Sang Sri Siwabuda đuổi khỏi triều đình.
Đúng lúc này thì 1 nhân vật khác mang tính quyết định của câu chuyện là đại thần Wira Raja của Sang Sri Siwabuda được Stamford Raffles đề cập là bấy giờ đang cai trị Sumenep ở đông bộ đảo Madura do hay tin Sang Sri Siwabuda muốn diệt trừ mình bằng việc cáo buộc mình dính vào 1 tội danh mà mình không phạm đã gửi tin tới cho vua Sri Jaya Katong rằng Tumapel đang hỗn loạn và Kediri có thể chinh phục một cách không hề khó nhọc và Sri Jaya Katong đã quyết định nắm bắt cơ hội này.
Nếu như chính sử mô tả rằng 2 ngả tiến quân của Kediri tới Singhasari là bắc – nam với cánh bắc do Jaran Guyang chỉ huy không chỉ là nghi binh cho chủ lực phía nam do Kebo Mundarang đánh úp Singhasari thì Lịch sử Java lại ghi rằng sự sụp đổ của Singhasari lại đến từ việc Sri Siwabuda (Kertanegara) đã cho em trai Raden Wijaya đích thân cầm binh ra đánh nhau với cánh quân đánh vào Singhasari từ phía tây do chính Jaya Katong chỉ huy giữa lúc sự ham mê yến tiệc cùng lơi lỏng phòng ngự của Sri Siwabuda đã tạo cơ hội cho mũi kỳ binh Kediri do Mundarang chỉ huy đánh úp từ phía nam lên mà giết Sri Siwabuda tại trước cửa cung điện trước khi Mundarang từ trong cung đánh quật ra sau lưng đại binh Singhasari do Raden Wijaya chỉ huy đang đối kháng với Jaya Katong ở phía tây khiến cho Raden Wijaya do toàn quân tan vỡ nên phải trốn tới Sumenep.
1 diễn biến khác khác những gì đã diễn ra trong lịch sử cũng được chính Lịch sử Java của Stamford Raffles ghi nhận là việc vợ của Raden Wijaya bị bắt lúc quân Kediri đánh úp vào cung thì ban đầu đã được Jaya Katong (Jayakatwang) muốn lấy làm vợ do quá xinh đẹp song vì bị từ chối kịch liệt nên đành hạ giá xuống thành nhận làm con gái nuôi vốn vợ của Raden Wijaya cũng theo Lịch sử Java của Stamford Raffles là yếu tố quyết định cho sự sụp đổ của Jaya Katong trước Raden Wijaya do bởi sau khi Jaya Katong phạm sai lầm để cho Raden Wijaya được cư trú ở khu rừng trái đắng Majapahit tại đảo Java thì Raden Wijaya đã xây dựng căn cứ, chiêu binh mãi mãmà đánh ngược lại luôn Jaya Katong mà không phải chờ sự giúp đỡ từ quân Mông Cổ (người Tatar).
Yếu tố quân Mông Cổ giúp Raden Wijaya đánh lại Jayakatwang cũng bị thay đổi dựa theo ghi chép trong Lịch sử Java của Stamford Raffles khi mà vốn dĩ thì ban đầu đại binh Mông Cổ (Tatar) là khách lưu trú của Jayakatwang vốn Jaya Katwong không chỉ đài thọ quân Mông Cổ xâm lược ăn ở miễn phí để họ khỏi đánh mình mà còn cao hứng hứa sẽ đem vợ của Raden Wijaya đang là con gái nuôi của mình làm vợ vua Tatar chỉ để sau đó khi Jayakatwong dần lân thực hiện lời hứa trên dù đã bị đô đốc quân viễn chinh nhà Nguyên tại Java hối thúc nhiều lần cũng như lại được nghe tin Jayakatwang đang có chiến tranh với Raden Wijaya của Majapahit thì đô đốc quân viễn chinh nhà Nguyên tại Java đã chủ động bắn tin sang Raden Wijaya rằng mình sẽ giúp Raden Wijaya đánh lại Jayakatwang và được Jayakatwang chấp nhận.
Diễn biến sau đó của dị bản câu chuyện về sự diệt vong của Singhasari lẫn sự khởi đầu của Majapahit được ghi trong Lịch sử Java của Stamford Raffles chính là khi quân Nguyên và Jayakatwong sau đó trở mặt đánh giết nhau do bởi đô đốc nhà Nguyên ngả theo Raden Wijaya thì Jayakatwong đã đấu tay đôi với đô đốc nhà Nguyên với kết quả là Jayakatwong đã bị đô đốc nhà Nguyên cầm giáo tẩm độc xiên 1 nhát vào ngực chết ngay sau khi bản thân Jayakatwang ném hụt lao vào đối thủ.
Kết thúc dị bản này chính là việc sau khi chiến thắng Kediri, Raden Wijaya đã không bội tín đánh đuổi các ân nhân Mông Cổ mà ngược lại còn biết ơn tới mức mời hãn Mông Cổ tới viếng thăm mình để bày tỏ sự cảm ơn Thiên triều tự nhiên quý hoá quay sang giúp mình giải cứu vợ trước khi long trọng tiễn các ân nhân Thiên Triều về nước trong hoà bình rồi sau đó là cai trị Majapahit bên cạnh vợ đẹp 1 cách hạnh phúc tới mãn kiếp như trong câu chuyện cổ tích.
Mặc dù chỉ 1 phần nào đó ở ghi chép về sự diệt vong của Singhari lẫn sự trỗi dậy của Majapahit trong tác phẩm Lịch sử Java của Stamford Raffles là sự thật song điều này nó cũng xác nhận 1 vài sự thật là chính vua khai quốc Ken Arok của Singhasari là tiên tổ quân chủ Majapahit của người Java và hoàng tộc Singhasari thông qua các vua là con nuôi cùng con ruột của Ken Arok là thân tộc của các vua Đế quốc Majapahit về sau.

Lịch sử
/lich-su
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất