KAFKA BÊN BỜ BIỂN: KHÚC KHẢI HOÀN CỦA TUỔI TRẺ CHÔNG CHÊNH
Với Kafka bên bờ biển, thực tại và cái huyền ảo đan xen, hòa lẫn trong mảnh ghép của những số phận tuy xa mà gần, lạ nhưng quen, xoay quanh chuyến đi tìm sự thực của cậu bé Kafka Tamura.
Cái tên Kafka của nhân vật chính trong tiểu thuyết gợi nhắc đến tượng đài văn học thế kỷ XX – cố nhà văn Franz Kafka. Tác phẩm dường như là sự tri ân và tưởng nhớ đến một ngòi bút lạnh – luôn miệt mài trong việc khắc họa những số phận bên lề, tiếng nói ngoại biên của trước quyền lực phi lý. Với Kafka bên bờ biển, thực tại và cái huyền ảo đan xen, hòa lẫn trong mảnh ghép của những số phận tuy xa mà gần, lạ nhưng quen, xoay quanh chuyến đi tìm sự thực của cậu bé Kafka Tamura.
1. Công thức thành công của Haruki Murakami: mất mát – dấn thân – tìm lại
Có thể thấy các tiểu thuyết của Haruki Murakami đều có xu hướng mượn và “giải” các motif dân gian để khắc họa những cuộc đối đầu phi lý mà các nhân vật của ông phải đối diện trong suốt cuộc hành trình dấn thân để tìm kiếm sự thật. Việc xây dựng một mô thức tự sự quen thuộc tạo nên tính nhất quán trong cách tác giả kể chuyện và định hình phong cách, một cái tôi rất Haruki Murakami. Khảo sát các tiểu thuyết của ông, ta thấy được tác giả luôn chú ý tập trung vào các chủ đề quen thuộc, từ đó xây dựng hệ thống tình huống, cấu trúc cho tác phẩm, bao gồm:

Nguồn: người viết tự cung cấp
• Nhân vật chính trải qua biến cố mất mát người thân, xa lạ với cuộc sống
• Nhân vật được thôi thúc hành động và dấn thân đi tìm sự thật phi lý đó
• Quá trình nhân vật khám phá sự thật đó được đồng nhất hóa với hành trình trị liệu tinh thần cho chính mình
Với Kafka Tamura, số phận của cậu đã được guồng quay của định mệnh gieo vào tuổi thơ khi người cha gieo rắc lời nguyền cay nghiệt “giết cha và ngủ với mẹ, chị gái”, mang hơi hướng của bi kịch Hy Lạp. Chính lời nguyền đó đã vô thức tạo nên rào cản tâm lý giữa Kafka và những người xung quanh, mặc cảm với chính mình vì mang theo cái án của kẻ cô đơn và lưu đày trong chính thực tại nghiệt ngã. Vào lần sinh nhật thứ 15 tuổi, cậu quyết định rời bỏ căn nhà, thoát ly khỏi quyền lực của người cha hà khắc, cay nghiệt để đi tìm mẹ và chị gái. Dẫu hành trình đi tìm sự thật đó đầy rẫy những nguy hiểm, trắc trở nhưng Kafka không bao giờ đơn độc, cậu có những người bạn đồng hành để cố vấn cho hành trình “zero to hero”, nhìn lại nỗi sợ hãi để đối diện, trở thành một cái tôi toàn vẹn.
2. Khủng hoảng căn cước và hành trình của sự thật
Một trong những mối dây liên kết giữa người đọc và nhân vật chính trong câu chuyện Kafka bên bờ biển chính là câu chuyện trưởng thành của những người trẻ, khi đang phải loay hoay định vị bản ngã và tìm câu trả lời cho câu hỏi về sự tồn tại hiện sinh. Với mỗi bạn đọc, giai đoạn trưởng thành của mỗi người sẽ phản ánh rõ nét những sắc thái biểu cảm trong thế giới quan về nhận thức, tinh thần về cuộc sống. Và ít nhiều họ sẽ trải qua những rắc rối của một người trẻ đang chập chững bước vào đời như Kafka Tamura: họ chưa có nhiều kinh nghiệm sống, còn ngây thơ trước nhập nhằng của số phận. Thế nhưng thứ ta cần nhất để đối diện với cuộc sống đó chính là một trái tim đầy bản lĩnh.

Nguồn: người viết tự cung cấp
Chuyến hành trình của nhân vật chính cho thấy thông điệp: con người sẽ không bao giờ cô đơn nếu chúng ta có một trái tim sôi nổi, luôn sẵn sàng mở lòng với người khác. Chính Haruki Murakami đã chia sẻ: “Chuyện gì sẽ xảy ra khi người ta mở rộng trái tim? Họ sẽ trở nên tốt đẹp hơn” (Rừng Na-uy). Dẫu biết đôi lúc “Bản ngã và tha nhân là cách biệt” (Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương) nhưng sống với sự khép kín và e ngại, tự cô lập với thế giới và cái tôi sâu thẳm, chẳng khác nào ta đang tự “lưu đày” bản thân giữa cuộc đời rộng lớn. Vốn dĩ Kafka Tamura có tính cách khép kín, ít giao du và không có nhiều bạn bè khi còn sống chung với người cha độc đoán. Thế nhưng, khi bước chân vào chuyến hành trình mang tính không có hồi kết (cậu nghĩ rằng mình sẽ tìm cách mãi mãi thoát khỏi sự kìm hãm mang tính quyền lực phi lý của người cha) thì những người bạn mới quen: Oshima, Sakura và Miss Saeki đã dạy cậu biết cách chấp nhận và dũng cảm tiến về phía trước của số phận.
Và từ đây, hành trình của cậu không chỉ đơn thuần là đi tìm lại người mẹ và người chị đã rời bỏ cậu từ khi còn bé. Cậu bắt đầu học cách sinh tồn với cái tôi sẵn sàng thay đổi để trưởng thành. Đỉnh điểm, chính là tình huống, lần thứ tư cậu bước vào khu rừng trên ngọn núi, mặc dù đã được cảnh báo từ trước đó về sự bí ẩn và nguy hiểm. Thách thức lớn nhất của Kafka khi bước vào khu rừng – biểu tượng của vô thức, chính là nỗi cô đơn nguyên thủy đã ám ảnh và tồn tại khi người mẹ đã rời xa cậu: “Trơ trọi một mình trong rừng sâu, cái thằng tôi này cảm thấy trống rỗng, phải, trống rỗng kinh khủng… Có một khoảng trống trong tôi nó cứ bành trướng dần, nuốt hết những gì còn lại từ con người vốn là tôi […] Tôi đi tong hoàn toàn rồi, mất tiêu bản sắc” (Kafka bên bờ biển). Những băn khoăn chưa thể lý giải chính là những câu hỏi khắc sâu trong tâm hồn của Kafka. Nhưng trong cuộc hành trình tìm kiếm câu trả lời, Kafka đã trưởng thành cùng với con người thật. Sự tiến bộ trưởng thành trong tiềm thức của Kafka được thể hiện rất rõ qua các chết của cha và mẹ. Trước cái chết đột ngột của người cha đã gây ám ảnh tâm lý nặng nề cho mình, Kafka sợ hãi trước mọi thứ đã diễn ra, chỉ muốn trốn thoát khỏi cái lời nguyền đã ăn mòn vào tâm trí. Dù thực hư nắm rõ cái chết của cha không thực sự do mình giết, Kafka vẫn lo sợ không muốn đối diện.
Lần chạm mặt hai anh lính trẻ ẩn náu trong khu rừng, Kafka còn nhận thức được sự nguy hiểm của xã hội, những thứ xung quanh: “Ở bên ấy thì hoặc là giết hoặc là bị giết. Mà bọn ta thì chẳng muốn thế. […] Cả hai chúng ta đều không muốn giết ai cả. Mà bị giết thì lại càng tệ hơn.” (Kafka bên bờ biển). Cái bản chất xấu xa của xã hội chính là tàn nhẫn như thế. Chính mình phải là người dũng mạnh, kiên cường mới không bị quật ngã. Không những phải dũng mạnh đứng vững trước xã hội, đối với chính mình, chính nỗi sợ hãi của mình càng phải thêm kiên định không bị bất cứ thứ gì làm tổn thương kể cả mình.
3. Khi trưởng thành là nhìn lại và đối diện
Trong tiểu thuyết, Kafka có những mặc cảm từ quá khứ, khiến hành trình của cậu luôn đối mặt với những ám ảnh tội lỗi, lo lắng. Trong suốt hành trình thoát khỏi ngôi nhà của mình, Kafka luôn phải đối mặt với những sự kiện không thể lý giải. Thế nhưng, trong sâu thẳm của chàng thiếu niên đó, lại là tâm hồn phải chịu những tổn thương, luôn khao khát đi tìm sự bình yên trong trái tim tràn ngập bóng tối. Thông qua nhân vật, tác giả đã phản ánh những vấn đề về con người trong xã hội hiện đại khi phải đối mặt với những biến cố, chấn thương ấu thơ. Câu chuyện của Kafka thật chất được Haruki ẩn dụ cho những người trẻ trong độ tuổi trưởng thành khi không tìm được tiếng nói chung trong chính gia đình, trong đó có nguyên nhân như những bất hòa, biến cố,... Thế nhưng, những mặc cảm của Kafka lại là một phần của tính cách phức tạp, đồng thời là động lực tiến về phía trước trong cuộc hành trình trưởng thành.
Từ đây, Haruki Murakami tái hiện thông điệp: chỉ khi con người dám đủ dũng khí để nhìn lại quá khứ và sẵn sàng chấp nhận để vượt qua cái bóng của những nỗi đau thì khi đó, ta mới có thể trưởng thành và trở thành một cái tôi toàn vẹn. Lời động viên của Miss Saeki đã đánh thức trong Kafka một động lực mãnh liệt, chỉ khi dám bước qua khỏi sự ám ảnh quá khứ, con người mới đủ cơ hội để bước sang những trang mới của cuộc đời: “Hãy quay về nơi chốn của con và hãy sống.” (Kafka bên bờ biển). Nhìn lại chuyến hành trình của Kafka, ta chợt nhìn thấy muôn vàng những khuôn mặt người và cái tôi thầm kín bên trong tâm hồn của cậu. Chuyến đi như một chặng đường với những sắc thái tâm lý: sợ hãi dến tự tin… đã thay đổi con người của cậu, giúp cậu mạnh mẽ, để trở thành một trang thiếu niên thực thụ.
Câu chuyện của chàng trai Kafka Tamura khép lại với quyết định quay trở về nhà và hoàn thành công việc học tập của mình hẳn để lại cho bạn đọc những dư âm và thôi thúc. Chúng đánh thức bên trong bạn những tâm tư và nghĩ ngợi về con đường phía trước dẫu biết chông gai nhưng phải bước tiếp.

Sách
/sach
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

