Đối với phần lớn các quốc gia, dù lựa chọn mô hình thể chế nào, các quyết sách của họ đều chịu ảnh hưởng sâu sắc từ cách nhìn nhận lịch sử của dân tộc mình.

Sự định hình phong cách ngoại giao của Iran hiện đại

Mặc dù Iran là nơi sản sinh ra nền văn minh Ba Tư cổ đại rực rỡ huy hoàng. Nhưng quốc gia này đã trải qua những đứt gãy lịch sử nghiêm trọng, ngôn ngữ và tôn giáo hiện nay của họ đã hoàn toàn khác biệt so với Đế chế Ba Tư cổ đại cách đây 2.500 năm.
Thứ ảnh hưởng mạnh mẽ hơn cả đến các giá trị của Iran hiện đại không phải là Đế chế Ba Tư cổ, mà chính là Vương triều Safavid ở thời cận đại. Dù vương triều này không quá nổi tiếng, nhưng nó lại định hình sâu sắc các hành vi chính trị và ngoại giao của Iran ngày nay.
Vào đầu thế kỷ 16, sau khi phải chịu đựng ách cai trị luân phiên của người Arab, người Turk và người Mông Cổ, người Iran cuối cùng cũng giành lại được độc lập. Họ lập nên Đế chế Safavid, đánh dấu sự thức tỉnh của chủ nghĩa dân tộc bản địa. Dưới thời Abbas Đại đế (Abbas I), lãnh thổ Iran phát triển đến đỉnh cao hưng thịnh, vươn vòi bạch tuộc kiểm soát các vùng đất rộng lớn bao gồm vùng Lưỡng Hà (Iraq ngày nay), Azerbaijan, Afghanistan và Balochistan (thuộc Pakistan).
Vương triều Safavid ở thời kì đỉnh cao
Vương triều Safavid ở thời kì đỉnh cao
Tuy nhiên, môi trường địa chính trị của Vương triều Safavid lại cực kỳ khắc nghiệt.
- Án ngữ ở phía Tây là Đế quốc Ottoman hùng mạnh, hai bên thường xuyên xảy ra xung đột vũ trang khiến cố đô Tabriz của Iran nhiều lần thất thủ.
- Ở phía Đông, Vương triều Safavid ban đầu phải giao tranh với Đế quốc Mughal, sau đó lại vấp phải sự xâm lăng của người Afghanistan, dẫn đến việc để mất vô số đất đai.
- Ở hướng Tây Bắc, vương triều này phải giáp mặt với một kình địch đáng sợ là Đế quốc Nga. Trước một đội quân chính quy hiện đại của người Nga, Iran đành ngậm ngùi cắt nhượng vùng Azerbaijan trù phú.
- Phía Nam cũng chẳng hề yên ả khi các thế lực thực dân phương Tây liên tục quấy nhiễu đường bờ biển, rắp tâm thâu tóm eo biển Hormuz - một yết hầu thương mại cực kỳ quan trọng thời bấy giờ.
Vào thời Trung Cổ, gia vị từng là một trong những mặt hàng xa xỉ bậc nhất tại châu Âu, đắt giá hơn cả vàng. Đôi khi, chỉ cần vài chục Kilôgam gia vị cũng có thể đổi lấy cả một tòa thành. Khi kỷ nguyên Đại Hàng hải mở ra, người Bồ Đào Nha đã vươn lên độc quyền mạng lưới thương mại gia vị và biến eo biển Hormuz thành trạm trung chuyển cốt lõi.
Gia vị xuất khẩu từ Đông Nam Á sau khi tới Hormuz sẽ được chia làm hai tuyến:
- Một phần đi qua Tây Á để vào thị trường Nam Âu (tuyến Địa Trung Hải).
- Phần còn lại vòng qua Mũi Hảo Vọng để tiến vào thị trường Tây Âu (tuyến Đại Tây Dương).
Nói cách khác, từ cách đây 500 năm, eo biển Hormuz đã là một trong những tuyến hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới.
Người xưa có câu: "thất phu vô tội, hoài bích kỳ tội". Chính vì tọa lạc ngay sát huyết mạch giao thương này, Vương triều Safavid nghiễm nhiên trở thành miếng mồi ngon trong mắt các thế lực thực dân phương Tây. Người Bồ Đào Nha đã dùng vũ lực cưỡng chiếm đảo Hormuz và nã pháo vào cảng Abbas, đẩy Iran vào tình cảnh bi đát "có biển mà không có phòng tuyến". Sau khi người Hà Lan trỗi dậy và thay thế vị thế của Bồ Đào Nha. Tại Tây Á, hải quân Hà Lan cũng tiến hành phong tỏa vịnh Ba Tư, o ép Vương triều Safavid phải ban cho họ đặc quyền miễn thuế. Người Iran rơi vào thế hết sức bất lực: dù nằm trên nút giao của "tuyến đường Gia vị", phần lớn lợi nhuận từ tuyến hàng hải này lại rơi vào tay phương Tây.
Trong quá trình va chạm với các thế lực thực dân phương Tây, người Iran đã thấu hiểu sự tráo trở và tàn bạo của họ. Từ những kẻ tiên phong như người Bồ Đào Nha, Hà Lan, cho đến người Anh và người Mỹ sau này, cái gọi là "tinh thần tôn trọng khế ước" của họ vốn dĩ không dành cho những quốc gia khác biệt về đức tin. Một khi đụng chạm đến lợi ích, các hiệp định có thể bị xé bỏ không thương tiếc bất cứ lúc nào.
Đơn cử như Công ty Đông Ấn Hà Lan, họ từng ký kết hàng chục thỏa thuận thương mại với Vương triều Safavid, nhưng hầu như không hiệp định nào được thực thi nghiêm túc.
Chính những trang lịch sử này đã ăn sâu vào tiềm thức, khiến người Iran mang một nỗi hoài nghi tận xương tủy đối với phương Tây. Vì vậy những nhân vật như ông Trump, đối với họ, thực ra không hề xa lạ.
Bước sang thời kỳ Cách mạng Công nghiệp, sự suy yếu của Iran càng lộ rõ. Đầu thế kỷ XX, Anh và Nga đạt được thỏa thuận phân chia phạm vi ảnh hưởng tại Iran: vùng ven biển Caspi ở phía bắc rơi vào tay Nga, còn Anh kiểm soát lối ra Vịnh Ba Tư, khiến Iran gần như đánh mất quyền tự chủ. Trong Thế chiến II, chỉ vì quốc vương Iran bộc lộ khuynh hướng thân Đức, Anh và Liên Xô đã ra tay phủ đầu và tiến hành chiếm đóng quân sự tại đây.

Cảm giác bất an và Khát vọng tự vệ

Hệ tư tưởng của Iran hiện đại được định hình từ thời Safavid, không còn nhiều liên hệ với Đế chế Ba Tư cổ đại.
Điều đó khiến cách nhìn lịch sử của người Iran mang hai đặc điểm nổi bật:
- Cảm giác bất an sâu sắc.
- Rất khó tin tưởng các quốc gia khác.
Điểm thứ nhất có nét tương đồng với Hàn Quốc và Triều Tiên. Từ xa xưa, bán đảo Triều Tiên nhiều lần bị người Mông Cổ, Mãn Châu, Nhật Bản và Nga xâm lược, trở thành chiến trường cho các cường quốc tranh giành ảnh hưởng. Vì thế, Triều Tiên dù phải “thắt lưng buộc bụng” vẫn quyết tâm phát triển vũ khí hạt nhân; thậm chí một bộ phận cánh tả tại Hàn Quốc còn ngầm ủng hộ việc này, cho rằng kho vũ khí hạt nhân của Triều Tiên có thể bảo vệ an ninh cho toàn bộ bán đảo.
Lý do Iran theo đuổi chương trình nghiên cứu hạt nhân cũng xuất phát từ khát vọng đảm bảo an ninh địa chính trị chiến lược.
Thời Safavid, họ phải đối mặt với môi trường bên ngoài vô cùng khắc nghiệt, lần lượt bị người Ottoman, Afghanistan, Nga và các thế lực thực dân phương Tây xâm lược, lãnh thổ bị thu hẹp đến một nửa. Những trải nghiệm ấy in đậm trong tâm thức người Iran hiện đại, khiến họ khao khát sở hữu công cụ tự vệ hiệu quả. Cái gọi là “vành đai Shia” mà Iran xây dựng, mặc dù có nhiều ý kiến trái nhiều, nhưng mục đích thực sự không nhằm mục đích kinh tế, mà là để có đòn bẩy răn đe Mỹ và Israel.
Khác với người Triều Tiên, người Iran không muốn bị ràng buộc về mặt ngoại giao với bất kỳ cường quốc nào, dù là Mỹ, Nga hay thậm chí Trung Quốc. Trong lịch sử, Safavid nhiều lần bị thực dân phương Tây lừa dối, tổn thất nặng nề về kinh tế; Nga thì “thừa nước đục thả câu”, thôn tính vùng Azerbaijan giàu tài nguyên. Ngay cả trong thế giới Hồi giáo, phần lớn lãnh thổ mà Safavid đánh mất cũng rơi vào tay các thế lực Sunni.
Vì vậy, bất kể ai cầm quyền ở Iran, miễn là theo đuổi chủ nghĩa bản địa, đều sẽ không dễ dàng ngả hẳn về một cường quốc nào. Triều đại Pahlavi, dù đạt được những thành tựu kinh tế nhất định nhờ sự hậu thuẫn của Anh - Mỹ, nhưng vì quá thân phương Tây và thúc đẩy chính sách thế tục hóa không được lòng dân, cuối cùng cũng phải rời vũ đài chính trị trong im lặng. Khẩu hiệu của Khomeini: “Không phương Đông, cũng chẳng phương Tây” mới thực sự phản ánh sự đồng thuận xã hội tại Iran.
Ngược lại, dân tộc Triều Tiên tồn tại được giữa thế kẹt là vì các cường quốc xung quanh đều muốn biến bán đảo này thành vùng đệm. Từ cuối thời Minh, cuối thời Thanh cho đến thời Trung Quốc mới thành lập, nhiều chính quyền sẵn sàng đối đầu với Nhật Bản hoặc Mỹ vì vấn đề Triều Tiên. Kinh nghiệm lịch sử đó khiến cả Triều Tiên lẫn Hàn Quốc đều rất coi trọng việc liên minh với các cường quốc.
Sau khi xung đột Nga - Ukraine bùng nổ, Triều Tiên ký thỏa thuận liên minh quân sự với Nga, còn Hàn Quốc thúc đẩy hợp tác ba bên Mỹ -Nhật - Hàn. Trái lại, Iran từ chối ký hiệp ước phòng thủ chung chính thức với Nga, nhằm duy trì quyền tự chủ chiến lược. Sự khác biệt trong tư duy ngoại giao này phản ánh khác biệt về tính cách dân tộc: bên thì tin rằng phải sớm chọn phe mới có cơ hội thắng, bên kia lại cho rằng chọn phe quá sớm rất dễ trở thành “bia đỡ đạn”.
Tính cách dân tộc ấy thể hiện rõ trong các quyết sách đối ngoại của Iran. Dù quan hệ với Mỹ và Israel luôn căng thẳng, Iran vẫn giữ kênh đối thoại với Washington và hy vọng khôi phục thỏa thuận hạt nhân. Trong quan hệ với Trung Quốc, Tehran lại tỏ ra đặc biệt thận trọng: họ muốn nhận được hỗ trợ kinh tế, nhưng lại e ngại bị cuốn vào vòng xoáy cạnh tranh Trung - Mỹ.
Để cân bằng, Iran đề xuất chiến lược “hướng Đông”, thúc đẩy hợp tác với Ấn Độ, song điều này có thể làm tổn hại quan hệ với Pakistan và gián tiếp gây khó xử cho Bắc Kinh. So với sự “được ăn cả, ngã về không” của Triều Tiên, chính sách ngoại giao của Iran tỏ ra giằng co và đầy tính lưỡng lự - họ muốn đứng giữa nhiều hơn là chọn hẳn một bên.

Vòng lặp bế tắc: Khủng hoảng - Đàm phán - Khủng hoảng

Từ năm 2022 đến nay, kinh tế Iran rơi vào tình trạng khủng hoảng, người dân ngày càng bất mãn với chính quyền tôn giáo. Khi Trump lên nắm quyền, ông từng phát tín hiệu muốn tái ký thỏa thuận hạt nhân, Tehran đã tỏ ra khá tích cực, bởi gốc rễ bất ổn trong nước nằm ở kinh tế - nếu không giải quyết được lạm phát và thất nghiệp, sự bất mãn xã hội sẽ không thể xoa dịu. Iran muốn dùng việc đóng băng nghiên cứu hạt nhân làm con bài mặc cả để đổi lấy việc phương Tây dỡ bỏ các lệnh trừng phạt kinh tế. Đây thoạt nhìn là một lựa chọn đôi bên cùng có lợi.
Ông Trump cũng có lý do để đàm phán: Iran sở hữu chiều sâu chiến lược rộng lớn, không thể giải quyết tận gốc chỉ bằng không kích, còn triển khai bộ binh lại dễ sa lầy vào một cuộc chiến mới. Tuy nhiên, ông kiên quyết yêu cầu đạt được thỏa thuận “không làm giàu uranium” và buộc Iran hạn chế tầm bắn tên lửa đạn đạo, qua đó chứng minh mình thành công hơn Obama và có câu trả lời với cử tri.
Nhưng đề xuất “không làm giàu uranium” của Mỹ là điều Iran khó thể chấp nhận. Trong quá khứ, họ đã quá nhiều lần chịu thiệt khi giao thiệp với phương Tây. Theo cách nhìn của Tehran, thỏa thuận này chỉ là kế hoãn binh; nếu thực sự từ bỏ năng lực hạt nhân, Iran có thể bị Mỹ và Israel trở mặt bất cứ lúc nào, khi ấy sẽ mất đi công cụ răn đe và rơi vào thế bị động.
Điều kiện cần (nhưng chưa đủ) duy nhất để đàm phán hạt nhân là Iran chuyển kho uranium làm giàu sang Nga bảo quản. Nếu Mỹ và Israel vi phạm thỏa thuận trong tương lai, Nga sẽ hoàn trả số uranium này. Đây là phương án mà cả Washington lẫn Tehran có thể miễn cưỡng chấp nhận.
Tuy nhiên, Nga không làm việc “không công”: Moscow yêu cầu Mỹ gây sức ép để Ukraine nhượng bộ lãnh thổ, coi đó như cái giá cho việc làm trung gian giữa Mỹ và Iran. Vì vậy trước đây, đàm phán hạt nhân Iran và đàm phán Mỹ - Nga - Ukraine thường được sắp xếp cùng thời điểm, bởi hai vấn đề này có liên hệ với nhau.
Thế nhưng đàm phán Nga - Ukraine không hề suôn sẻ, hai bên vẫn bất đồng về vấn đề lãnh thổ và nhà máy điện hạt nhân. Ukraine yêu cầu Mỹ bảo đảm an ninh trong 30 năm, trong khi Washington chỉ sẵn sàng cam kết 15 năm. Kiev cũng muốn Nga rút quân tương ứng và thiết lập khu phi quân sự tại Donbass (điều mà Moscow khó có thể chấp nhận). Nga còn phản đối việc châu Âu triển khai quân tại Ukraine và yêu cầu hoàn trả 300 tỷ USD tài sản bị phong tỏa.
Vì tiến trình hòa đàm Nga – Ukraine bế tắc, Ông Putin không có động lực tích cực hòa giải vấn đề hạt nhân Iran. Dưới sự thúc giục của Ông Netanyahu, Trump phê chuẩn các cuộc không kích vào Iran và tiêu diệt lãnh tụ tôn giáo tối cao Khamenei. Tuy nhiên, điều này chỉ khiến tình hình thêm rối ren. Khác với Venezuela, Iran có cấu trúc xã hội hình kim tự tháp điển hình: tầng lớp giáo sĩ và Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo cùng kiểm soát phần lớn dân chúng. Do độc quyền nắm giữ các công cụ bạo lực, bất kể chính trường Iran xoay vần theo hướng nào, bất kỳ thế lực nào muốn lên nắm quyền đều bắt buộc phải có sự hậu thuẫn của IRGC.
Bản thân ông Khamenei thực chất cũng chỉ là người đại diện do tầng lớp cầm quyền Iran lựa chọn, là kết quả của sự thỏa hiệp giữa các phe phái. Sau khi ông Khamene bị hạ sát, quyền lực hoặc sẽ rơi vào tay một nhân vật quân sự cứng rắn, hoặc được các thế lực tôn giáo tiếp quản; còn nhóm quan chức dân sự thân phương Tây gần như không có khả năng giành quyền, bởi họ không nắm quân đội, truyền thông hay nguồn lực tài chính.
Trump có thể muốn lặp lại “kịch bản Venezuela”, nhưng chỉ dựa vào chiến lược “chặt đầu” thì rất khó tạo ra thay đổi chế độ tại Iran.

Đòn phản công và Lợi thế bất đối xứng của Iran

Để đáp trả, Iran đe dọa phong tỏa eo biển Hormuz - một trong những đòn răn đe có sức sát thương lớn nhất của họ (biện pháp còn lại có thể sẽ là phóng “bom bẩn” chứa uranium làm giàu về phía Israel).
Trong lịch sử, cả người Bồ Đào Nha lẫn người Hà Lan từng phong tỏa eo biển Hormuz nhằm buộc Đế chế Safavid phải nhượng bộ lợi ích thương mại. Dù điểm hẹp nhất của eo biển rộng khoảng 50 km, nhưng chỉ cần kiểm soát chuỗi đảo nằm giữa, việc phong tỏa không quá khó khăn. Về mặt kỹ thuật, Iran đã xây dựng căn cứ hải quân tại cảng Abbas và kiểm soát những đảo then chốt ở cửa ngõ eo biển, đủ khả năng ngăn chặn tàu buôn qua lại.
Không chỉ vậy, do sự chênh lệch độ mặn giữa vịnh Ba Tư và biển Arab, eo biển Hormuz luôn có dòng hải lưu trao đổi rất mạnh. cộng thêm nhiều bãi đá ngầm phân bố dày đặc, khiến toàn bộ tuyến hàng hải thực tế chỉ còn hai luồng chính rộng khoảng 3 km để tàu thuyền qua lại. Luồng sát phía Iran là đường vào, còn luồng gần Oman là đường ra. Có thể hình dung đây như hai tuyến cao tốc hai chiều: một thuộc về Iran, một thuộc về Oman. Iran không cần phong tỏa toàn bộ eo biển; chỉ cần đặt chướng ngại tại hai luồng chính này cũng đủ làm tê liệt nguồn cung dầu thô toàn cầu.
Tuy nhiên, với Iran, phong tỏa Hormuz là con dao hai lưỡi. Giá dầu tăng cao có thể đẩy lạm phát ở Mỹ và ảnh hưởng đến cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ, nhưng việc gián đoạn tuyến hàng hải cũng gây thiệt hại cho các quốc gia xuất khẩu dầu theo dòng Sunni.
Khi đó có thể xảy ra hai kịch bản:
- Một là các nước Sunni đe dọa sử dụng vũ lực buộc Iran gỡ bỏ phong tỏa.
- Hai là họ liên kết gây sức ép lên Mỹ yêu cầu chấm dứt tấn công quân sự nhằm vào Iran.
Rõ ràng Tehran đang đặt cược vào kịch bản thứ hai bởi vì ở thời khắc sinh tử này, họ không hề muốn ngửa bài lật mặt với Saudi Arabia.
Do thiếu năng lực phòng không hiệu quả, Iran gần như chỉ có thể chịu đựng các đợt không kích của Mỹ và Israel. Tuy vậy, họ sở hữu lợi thế bất đối xứng khi có thể sản xuất ba loại vũ khí tấn công tầm xa:
- Tên lửa đạn đạo tầm trung: Là "vũ khí để dành" chủ yếu dùng để răn đe Israel.
- Tên lửa hành trình tầm ngắn: Nhắm đến các căn cứ quân sự Mỹ ở Trung Đông.
- UAV cảm tử: Những chiếc máy bay không người lái giá rẻ này đặc biệt phù hợp để tấn công các mục tiêu giá trị cao như mỏ dầu hay tàu thương mại.
Một chiếc UAV chỉ tốn vài chục nghìn USD, nhưng mỗi quả tên lửa đánh chặn của Mỹ lại ngốn đến hàng trăm nghìn USD. Nếu xung đột kéo dài hơn một tháng, kho dự trữ tên lửa đánh chặn vốn không nhiều của Mỹ sẽ nhanh chóng bị bào mòn và đó có thể là biến số lớn của cuộc chiến.

Toan tính chiến lược của các bên

Đến thời điểm này, cả Mỹ và Iran đều rơi vào thế “cưỡi hổ khó xuống”. Chính quyền Trump có thể phải cân nhắc lại cái giá và lợi ích của việc loại bỏ Khamenei. Đối với Washington và Israel chiến dịch quân sự nhằm vào Iran có ba mục tiêu chiến lược.
- Mục tiêu tối đa: thúc đẩy thay đổi chế độ tại Iran, đưa phe thân Mỹ lên cầm quyền. Như đã phân tích, giới quan chức dân sự ở Iran hầu như không có khả năng giành quyền lực, còn người dân thiếu điều kiện để nổi dậy. Trong ngắn hạn, khả năng phe thân Mỹ lên nắm quyền là cực kỳ thấp.
- Mục tiêu tầm trung: phá hủy toàn bộ cơ sở hạt nhân còn lại của Iran, đưa họ về mức “không làm giàu uranium”. Dù chiến dịch “Midnight Hammer” năm ngoái đã làm tê liệt một số cơ sở then chốt, Iran vẫn giữ được năng lực nghiên cứu vũ khí hạt nhân. Lần này, Mỹ và Israel muốn giải quyết dứt điểm khủng hoảng hạt nhân bằng biện pháp quân sự thay cho ngoại giao.
- Mục tiêu tối thiểu: làm suy yếu nghiêm trọng sức mạnh quốc gia của Iran, khiến họ trong thời gian dài không thể đe dọa Israel. Nếu hai mục tiêu trên không đạt được, thì ít nhất cũng khiến bộ máy quyền lực trung ương của Iran tê liệt, rơi vào tình trạng bất ổn kéo dài và không còn khả năng mở rộng chiến lược.
Nếu Mỹ không triển khai bộ binh, khả năng đạt được mục tiêu cao là rất thấp. Mục tiêu tầm trung phụ thuộc vào năng lực tình báo và độ chính xác của không kích, bởi các điểm lưu trữ uranium của Iran đã được phân tán và được chôn sâu trong lòng núi. Mục tiêu tối thiểu có vẻ khả thi nhất, nhưng nó cũng là một trò chơi xác suất. Hậu thời kỳ Khamenei, Iran hoàn toàn có thể thai nghén một chính phủ quân sự, từ đó xuất khẩu chủ nghĩa phục thù nhắm thẳng vào Mỹ và Israel.
Nga và các quốc gia xuất khẩu dầu theo dòng Sunni là những biến số then chốt quyết định mức độ và thời gian kéo dài của xung đột Mỹ -Iran.
Nga hưởng lợi từ giá dầu tăng, nhưng Ông Putin cũng không muốn Iran bị Mỹ đánh gục. Moscow đang chờ thời cơ để ra mặt hòa giải, nhằm thu về lợi ích tối đa. Rõ ràng, chỉ khi các yêu cầu lãnh thổ ở miền Đông Ukraine được đáp ứng, Nga mới sẵn sàng hỗ trợ giải quyết khủng hoảng hạt nhân Iran.
Với Iran, phong tỏa eo biển Hormuz là một canh bạc chính trị tất tay. Họ hy vọng các nước xuất khẩu dầu Sunni vì không chịu nổi áp lực kinh tế sẽ thuyết phục Mỹ dừng tay. Nhưng cũng có khả năng những nước này chọn “đau ngắn còn hơn đau dài”, chấp nhận thiệt hại tài chính để loại bỏ mối đe dọa từ Iran. Nếu vậy, việc tiếp tục phong tỏa sẽ trở nên vô nghĩa và Tehran buộc phải thỏa hiệp.
Đáng chú ý, năm ngoái Pakistan vừa ký thỏa thuận liên minh quân sự với Saudi Arabia, và Thổ Nhĩ Kỳ cũng bày tỏ ý định tham gia. Để đối trọng, quan hệ Ấn Độ và Israel đang nồng ấm lên trông thấy, minh chứng là chuyến thăm cấp nhà nước tới Israel vừa kết thúc của Thủ tướng Modi. Nếu Iran tiếp tục nã pháo vào các mỏ dầu của Saudi Arabia, Hiệp ước Phòng thủ chung Saudi - Pakistan rất có thể sẽ được kích hoạt. Một khi Pakistan bị lôi kéo vào vòng xoáy, cục diện sẽ trở nên cực kỳ nghiêm trọng, kéo theo cả Nam Á, thậm chí là Đông Á vào lò lửa.
Về phần Trung Quốc, dù nhập khẩu một nửa lượng dầu thô từ vịnh Ba Tư, Nhưng ý định của Bắc Kinh rõ ràng vẫn không muốn can thiệp trực tiếp vào Trung Đông, khu vực vốn là sân sau truyền thống của Mỹ và Nga.