Đối với phần lớn các quốc gia, dù lựa chọn mô hình thể chế nào, các quyết sách của họ đều chịu ảnh hưởng sâu sắc từ cách nhìn nhận lịch sử của dân tộc mình.

Sự định hình phong cách ngoại giao của Iran hiện đại

Mặc dù Iran là nơi sản sinh ra nền văn minh Ba Tư cổ đại rực rỡ huy hoàng. Nhưng quốc gia này đã trải qua những đứt gãy lịch sử nghiêm trọng, ngôn ngữ và tôn giáo hiện nay của họ đã hoàn toàn khác biệt so với Đế chế Ba Tư cổ đại cách đây 2.500 năm.
Thứ ảnh hưởng mạnh mẽ hơn cả đến các giá trị của Iran hiện đại không phải là Đế chế Ba Tư cổ, mà chính là Vương triều Safavid ở thời cận đại. Dù vương triều này không quá nổi tiếng, nhưng nó lại định hình sâu sắc các hành vi chính trị và ngoại giao của Iran ngày nay.
Vào đầu thế kỷ 16, sau khi phải chịu đựng ách cai trị luân phiên của người Arab, người Turk và người Mông Cổ, người Iran cuối cùng cũng giành lại được độc lập. Họ lập nên Đế chế Safavid, đánh dấu sự thức tỉnh của chủ nghĩa dân tộc bản địa. Dưới thời Abbas Đại đế (Abbas I), lãnh thổ Iran phát triển đến đỉnh cao hưng thịnh, vươn vòi bạch tuộc kiểm soát các vùng đất rộng lớn bao gồm vùng Lưỡng Hà (Iraq ngày nay), Azerbaijan, Afghanistan và Balochistan (thuộc Pakistan).
Vương triều Safavid ở thời kì đỉnh cao
Vương triều Safavid ở thời kì đỉnh cao
Tuy nhiên, môi trường địa chính trị của Vương triều Safavid lại cực kỳ khắc nghiệt.
- Án ngữ ở phía Tây là Đế quốc Ottoman hùng mạnh, hai bên thường xuyên xảy ra xung đột vũ trang khiến cố đô Tabriz của Iran nhiều lần thất thủ.
- Ở phía Đông, Vương triều Safavid ban đầu phải giao tranh với Đế quốc Mughal, sau đó lại vấp phải sự xâm lăng của người Afghanistan, dẫn đến việc để mất vô số đất đai.
- Ở hướng Tây Bắc, vương triều này phải giáp mặt với một kình địch đáng sợ là Đế quốc Nga. Trước một đội quân chính quy hiện đại của người Nga, Iran đành ngậm ngùi cắt nhượng vùng Azerbaijan trù phú.
- Phía Nam cũng chẳng hề yên ả khi các thế lực thực dân phương Tây liên tục quấy nhiễu đường bờ biển, rắp tâm thâu tóm eo biển Hormuz - một yết hầu thương mại cực kỳ quan trọng thời bấy giờ.
Vào thời Trung Cổ, gia vị từng là một trong những mặt hàng xa xỉ bậc nhất tại châu Âu, đắt giá hơn cả vàng. Đôi khi, chỉ cần vài chục Kilôgam gia vị cũng có thể đổi lấy cả một tòa thành. Khi kỷ nguyên Đại Hàng hải mở ra, người Bồ Đào Nha đã vươn lên độc quyền mạng lưới thương mại gia vị và biến eo biển Hormuz thành trạm trung chuyển cốt lõi.
Gia vị xuất khẩu từ Đông Nam Á sau khi tới Hormuz sẽ được chia làm hai tuyến:
- Một phần đi qua Tây Á để vào thị trường Nam Âu (tuyến Địa Trung Hải).
- Phần còn lại vòng qua Mũi Hảo Vọng để tiến vào thị trường Tây Âu (tuyến Đại Tây Dương).
Nói cách khác, từ cách đây 500 năm, eo biển Hormuz đã là một trong những tuyến hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới.
Người xưa có câu: "thất phu vô tội, hoài bích kỳ tội". Chính vì tọa lạc ngay sát huyết mạch giao thương này, Vương triều Safavid nghiễm nhiên trở thành miếng mồi ngon trong mắt các thế lực thực dân phương Tây. Người Bồ Đào Nha đã dùng vũ lực cưỡng chiếm đảo Hormuz và nã pháo vào cảng Abbas, đẩy Iran vào tình cảnh bi đát "có biển mà không có phòng tuyến". Sau khi người Hà Lan trỗi dậy và thay thế vị thế của Bồ Đào Nha. Tại Tây Á, hải quân Hà Lan cũng tiến hành phong tỏa vịnh Ba Tư, o ép Vương triều Safavid phải ban cho họ đặc quyền miễn thuế. Người Iran rơi vào thế hết sức bất lực: dù nằm trên nút giao của "tuyến đường Gia vị", phần lớn lợi nhuận từ tuyến hàng hải này lại rơi vào tay phương Tây.
Trong quá trình va chạm với các thế lực thực dân phương Tây, người Iran đã thấu hiểu sự tráo trở và tàn bạo của họ. Từ những kẻ tiên phong như người Bồ Đào Nha, Hà Lan, cho đến người Anh và người Mỹ sau này, cái gọi là "tinh thần tôn trọng khế ước" của họ vốn dĩ không dành cho những quốc gia khác biệt về đức tin. Một khi đụng chạm đến lợi ích, các hiệp định có thể bị xé bỏ không thương tiếc bất cứ lúc nào.
Đơn cử như Công ty Đông Ấn Hà Lan, họ từng ký kết hàng chục thỏa thuận thương mại với Vương triều Safavid, nhưng hầu như không hiệp định nào được thực thi nghiêm túc.
Chính những trang lịch sử này đã ăn sâu vào tiềm thức, khiến người Iran mang một nỗi hoài nghi tận xương tủy đối với phương Tây. Vì vậy những nhân vật như ông Trump, đối với họ, thực ra không hề xa lạ.
Bước sang thời kỳ Cách mạng Công nghiệp, sự suy yếu của Iran càng lộ rõ. Đầu thế kỷ XX, Anh và Nga đạt được thỏa thuận phân chia phạm vi ảnh hưởng tại Iran: vùng ven biển Caspi ở phía bắc rơi vào tay Nga, còn Anh kiểm soát lối ra Vịnh Ba Tư, khiến Iran gần như đánh mất quyền tự chủ. Trong Thế chiến II, chỉ vì quốc vương Iran bộc lộ khuynh hướng thân Đức, Anh và Liên Xô đã ra tay phủ đầu và tiến hành chiếm đóng quân sự tại đây.

Cảm giác bất an và Khát vọng tự vệ

Hệ tư tưởng của Iran hiện đại được định hình từ thời Safavid, không còn nhiều liên hệ với Đế chế Ba Tư cổ đại.
Điều đó khiến cách nhìn lịch sử của người Iran mang hai đặc điểm nổi bật:
- Cảm giác bất an sâu sắc.
- Rất khó tin tưởng các quốc gia khác.
Điểm thứ nhất có nét tương đồng với Hàn Quốc và Triều Tiên. Từ xa xưa, bán đảo Triều Tiên nhiều lần bị người Mông Cổ, Mãn Châu, Nhật Bản và Nga xâm lược, trở thành chiến trường cho các cường quốc tranh giành ảnh hưởng. Vì thế, Triều Tiên dù phải “thắt lưng buộc bụng” vẫn quyết tâm phát triển vũ khí hạt nhân; thậm chí một bộ phận cánh tả tại Hàn Quốc còn ngầm ủng hộ việc này, cho rằng kho vũ khí hạt nhân của Triều Tiên có thể bảo vệ an ninh cho toàn bộ bán đảo.
Lý do Iran theo đuổi chương trình nghiên cứu hạt nhân cũng xuất phát từ khát vọng đảm bảo an ninh địa chính trị chiến lược.
Thời Safavid, họ phải đối mặt với môi trường bên ngoài vô cùng khắc nghiệt, lần lượt bị người Ottoman, Afghanistan, Nga và các thế lực thực dân phương Tây xâm lược, lãnh thổ bị thu hẹp đến một nửa. Những trải nghiệm ấy in đậm trong tâm thức người Iran hiện đại, khiến họ khao khát sở hữu công cụ tự vệ hiệu quả. Cái gọi là “vành đai Shia” mà Iran xây dựng, mặc dù có nhiều ý kiến trái nhiều, nhưng mục đích thực sự không nhằm mục đích kinh tế, mà là để có đòn bẩy răn đe Mỹ và Israel.
Khác với người Triều Tiên, người Iran không muốn bị ràng buộc về mặt ngoại giao với bất kỳ cường quốc nào, dù là Mỹ, Nga hay thậm chí Trung Quốc. Trong lịch sử, Safavid nhiều lần bị thực dân phương Tây lừa dối, tổn thất nặng nề về kinh tế; Nga thì “thừa nước đục thả câu”, thôn tính vùng Azerbaijan giàu tài nguyên. Ngay cả trong thế giới Hồi giáo, phần lớn lãnh thổ mà Safavid đánh mất cũng rơi vào tay các thế lực Sunni.
Vì vậy, bất kể ai cầm quyền ở Iran, miễn là theo đuổi chủ nghĩa bản địa, đều sẽ không dễ dàng ngả hẳn về một cường quốc nào. Triều đại Pahlavi, dù đạt được những thành tựu kinh tế nhất định nhờ sự hậu thuẫn của Anh - Mỹ, nhưng vì quá thân phương Tây và thúc đẩy chính sách thế tục hóa không được lòng dân, cuối cùng cũng phải rời vũ đài chính trị trong im lặng. Khẩu hiệu của Khomeini: “Không phương Đông, cũng chẳng phương Tây” mới thực sự phản ánh sự đồng thuận xã hội tại Iran.
Ngược lại, dân tộc Triều Tiên tồn tại được giữa thế kẹt là vì các cường quốc xung quanh đều muốn biến bán đảo này thành vùng đệm. Từ cuối thời Minh, cuối thời Thanh cho đến thời Trung Quốc mới thành lập, nhiều chính quyền sẵn sàng đối đầu với Nhật Bản hoặc Mỹ vì vấn đề Triều Tiên. Kinh nghiệm lịch sử đó khiến cả Triều Tiên lẫn Hàn Quốc đều rất coi trọng việc liên minh với các cường quốc.
Sau khi xung đột Nga - Ukraine bùng nổ, Triều Tiên ký thỏa thuận liên minh quân sự với Nga, còn Hàn Quốc thúc đẩy hợp tác ba bên Mỹ -Nhật - Hàn. Trái lại, Iran từ chối ký hiệp ước phòng thủ chung chính thức với Nga, nhằm duy trì quyền tự chủ chiến lược. Sự khác biệt trong tư duy ngoại giao này phản ánh khác biệt về tính cách dân tộc: bên thì tin rằng phải sớm chọn phe mới có cơ hội thắng, bên kia lại cho rằng chọn phe quá sớm rất dễ trở thành “bia đỡ đạn”.
Tính cách dân tộc ấy thể hiện rõ trong các quyết sách đối ngoại của Iran. Dù quan hệ với Mỹ và Israel luôn căng thẳng, Iran vẫn giữ kênh đối thoại với Washington và hy vọng khôi phục thỏa thuận hạt nhân. Trong quan hệ với Trung Quốc, Tehran lại tỏ ra đặc biệt thận trọng: họ muốn nhận được hỗ trợ kinh tế, nhưng lại e ngại bị cuốn vào vòng xoáy cạnh tranh Trung - Mỹ.
Để cân bằng, Iran đề xuất chiến lược “hướng Đông”, thúc đẩy hợp tác với Ấn Độ, song điều này có thể làm tổn hại quan hệ với Pakistan và gián tiếp gây khó xử cho Bắc Kinh. So với sự “được ăn cả, ngã về không” của Triều Tiên, chính sách ngoại giao của Iran tỏ ra giằng co và đầy tính lưỡng lự - họ muốn đứng giữa nhiều hơn là chọn hẳn một bên.

Vòng lặp bế tắc: Khủng hoảng - Đàm phán - Khủng hoảng

Từ năm 2022 đến nay, kinh tế Iran rơi vào tình trạng khủng hoảng, người dân ngày càng bất mãn với chính quyền tôn giáo. Khi Trump lên nắm quyền, ông từng phát tín hiệu muốn tái ký thỏa thuận hạt nhân, Tehran đã tỏ ra khá tích cực, bởi gốc rễ bất ổn trong nước nằm ở kinh tế - nếu không giải quyết được lạm phát và thất nghiệp, sự bất mãn xã hội sẽ không thể xoa dịu. Iran muốn dùng việc đóng băng nghiên cứu hạt nhân làm con bài mặc cả để đổi lấy việc phương Tây dỡ bỏ các lệnh trừng phạt kinh tế. Đây thoạt nhìn là một lựa chọn đôi bên cùng có lợi.
Ông Trump cũng có lý do để đàm phán: Iran sở hữu chiều sâu chiến lược rộng lớn, không thể giải quyết tận gốc chỉ bằng không kích, còn triển khai bộ binh lại dễ sa lầy vào một cuộc chiến mới. Tuy nhiên, ông kiên quyết yêu cầu đạt được thỏa thuận “không làm giàu uranium” và buộc Iran hạn chế tầm bắn tên lửa đạn đạo, qua đó chứng minh mình thành công hơn Obama và có câu trả lời với cử tri.
Nhưng đề xuất “không làm giàu uranium” của Mỹ là điều Iran khó thể chấp nhận. Trong quá khứ, họ đã quá nhiều lần chịu thiệt khi giao thiệp với phương Tây. Theo cách nhìn của Tehran, thỏa thuận này chỉ là kế hoãn binh; nếu thực sự từ bỏ năng lực hạt nhân, Iran có thể bị Mỹ và Israel trở mặt bất cứ lúc nào, khi ấy sẽ mất đi công cụ răn đe và rơi vào thế bị động.
Điều kiện cần (nhưng chưa đủ) duy nhất để đàm phán hạt nhân là Iran chuyển kho uranium làm giàu sang Nga bảo quản. Nếu Mỹ và Israel vi phạm thỏa thuận trong tương lai, Nga sẽ hoàn trả số uranium này. Đây là phương án mà cả Washington lẫn Tehran có thể miễn cưỡng chấp nhận.
Tuy nhiên, Nga không làm việc “không công”: Moscow yêu cầu Mỹ gây sức ép để Ukraine nhượng bộ lãnh thổ, coi đó như cái giá cho việc làm trung gian giữa Mỹ và Iran. Vì vậy trước đây, đàm phán hạt nhân Iran và đàm phán Mỹ - Nga - Ukraine thường được sắp xếp cùng thời điểm, bởi hai vấn đề này có liên hệ với nhau.
Thế nhưng đàm phán Nga - Ukraine không hề suôn sẻ, hai bên vẫn bất đồng về vấn đề lãnh thổ và nhà máy điện hạt nhân. Ukraine yêu cầu Mỹ bảo đảm an ninh trong 30 năm, trong khi Washington chỉ sẵn sàng cam kết 15 năm. Kiev cũng muốn Nga rút quân tương ứng và thiết lập khu phi quân sự tại Donbass (điều mà Moscow khó có thể chấp nhận). Nga còn phản đối việc châu Âu triển khai quân tại Ukraine và yêu cầu hoàn trả 300 tỷ USD tài sản bị phong tỏa.
Vì tiến trình hòa đàm Nga -Ukraine bế tắc, Ông Putin không có động lực tích cực hòa giải vấn đề hạt nhân Iran. Dưới sự thúc giục của Ông Netanyahu, Trump phê chuẩn các cuộc không kích vào Iran và tiêu diệt lãnh tụ tôn giáo tối cao Khamenei. Tuy nhiên, điều này chỉ khiến tình hình thêm rối ren. Khác với Venezuela, Iran có cấu trúc xã hội hình kim tự tháp điển hình: tầng lớp giáo sĩ và Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo cùng kiểm soát phần lớn dân chúng. Do độc quyền nắm giữ các công cụ bạo lực, bất kể chính trường Iran xoay vần theo hướng nào, bất kỳ thế lực nào muốn lên nắm quyền đều bắt buộc phải có sự hậu thuẫn của IRGC.
Bản thân ông Khamenei thực chất cũng chỉ là người đại diện do tầng lớp cầm quyền Iran lựa chọn, là kết quả của sự thỏa hiệp giữa các phe phái. Sau khi ông Khamene bị hạ sát, quyền lực hoặc sẽ rơi vào tay một nhân vật quân sự cứng rắn, hoặc được các thế lực tôn giáo tiếp quản; còn nhóm quan chức dân sự thân phương Tây gần như không có khả năng giành quyền, bởi họ không nắm quân đội, truyền thông hay nguồn lực tài chính.
Trump có thể muốn lặp lại “kịch bản Venezuela”, nhưng chỉ dựa vào chiến lược “chặt đầu” thì rất khó tạo ra thay đổi chế độ tại Iran.

Đòn phản công và Lợi thế bất đối xứng của Iran

Để đáp trả, Iran đe dọa phong tỏa eo biển Hormuz - một trong những đòn răn đe có sức sát thương lớn nhất của họ (biện pháp còn lại có thể sẽ là phóng “bom bẩn” chứa uranium làm giàu về phía Israel).
Trong lịch sử, cả người Bồ Đào Nha lẫn người Hà Lan từng phong tỏa eo biển Hormuz nhằm buộc Đế chế Safavid phải nhượng bộ lợi ích thương mại. Dù điểm hẹp nhất của eo biển rộng khoảng 50 km, nhưng chỉ cần kiểm soát chuỗi đảo nằm giữa, việc phong tỏa không quá khó khăn. Về mặt kỹ thuật, Iran đã xây dựng căn cứ hải quân tại cảng Abbas và kiểm soát những đảo then chốt ở cửa ngõ eo biển, đủ khả năng ngăn chặn tàu buôn qua lại.
Không chỉ vậy, do sự chênh lệch độ mặn giữa vịnh Ba Tư và biển Arab, eo biển Hormuz luôn có dòng hải lưu trao đổi rất mạnh. cộng thêm nhiều bãi đá ngầm phân bố dày đặc, khiến toàn bộ tuyến hàng hải thực tế chỉ còn hai luồng chính rộng khoảng 3 km để tàu thuyền qua lại. Luồng sát phía Iran là đường vào, còn luồng gần Oman là đường ra. Có thể hình dung đây như hai tuyến cao tốc hai chiều: một thuộc về Iran, một thuộc về Oman. Iran không cần phong tỏa toàn bộ eo biển; chỉ cần đặt chướng ngại tại hai luồng chính này cũng đủ làm tê liệt nguồn cung dầu thô toàn cầu.
Iran thiếu những công cụ có thể trực tiếp đe dọa lãnh thổ Mỹ, vì vậy việc phong tỏa eo biển sẽ gây thiệt hại lớn hơn cho các quốc gia sản xuất dầu ở vùng Vịnh. Iran muốn thông qua việc làm suy giảm nguồn thu của các nước này để tác động gián tiếp đến quan hệ Mỹ – Iran, buộc Washington phải nhượng bộ về mặt ngoại giao, bởi Mỹ có lợi ích thương mại rất lớn tại khu vực. Không chỉ vậy, việc phong tỏa eo biển cũng sẽ gây tác động tới các quốc gia công nghiệp khác, khiến họ phải gây sức ép lên Mỹ.
Hiệu quả của đòn bẩy ngoại giao này tỷ lệ thuận với thời gian phong tỏa. Trong trường hợp phong tỏa nghiêm ngặt, nếu eo biển Hormuz bị đóng cửa quá một tháng, lợi ích kinh tế của các nước sản xuất dầu vùng Vịnh sẽ chịu tổn thất nặng nề, buộc họ phải dựa vào việc vay nợ để duy trì hoạt động tài chính của chính phủ.
Nếu việc phong tỏa kéo dài quá ba tháng, các quốc gia công nghiệp trên lục địa Á – Âu sẽ rơi vào khủng hoảng nguồn cung năng lượng. Mức độ tác động sẽ không kém gì cú sốc mà ngành sản xuất châu Âu phải chịu sau khi nguồn năng lượng từ Nga bị cắt giảm. Không chỉ nhiên liệu, mà cả các sản phẩm như nhựa, phân bón, mỹ phẩm và nhiều loại vật tư khác cũng sẽ rơi vào tình trạng khan hiếm.
Nếu việc phong tỏa kéo dài hơn nửa năm, thế giới có thể đối mặt với một cuộc khủng hoảng kinh tế quy mô lớn. Nền kinh tế Mỹ sẽ một lần nữa rơi vào tình trạng lạm phát đình trệ (stagflation) và Đảng Cộng hòa gần như chắc chắn sẽ thất bại thảm hại trong kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ. Đây cũng là mục tiêu cao nhất mà Iran mong muốn đạt được: nếu có thể khiến Trump thất bại trong bầu cử giữa nhiệm kỳ, thì trong tương lai sẽ khó có tổng thống Mỹ nào dám dễ dàng thực hiện các chiến dịch “chặt đầu lãnh đạo” nhằm vào Iran.
Tuy nhiên, với Iran, phong tỏa Hormuz là con dao hai lưỡi. Giá dầu tăng cao có thể đẩy lạm phát ở Mỹ và ảnh hưởng đến cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ, nhưng việc gián đoạn tuyến hàng hải cũng gây thiệt hại cho các quốc gia xuất khẩu dầu theo dòng Sunni.
Khi đó có thể xảy ra hai kịch bản:
- Một là các nước Sunni đe dọa sử dụng vũ lực buộc Iran gỡ bỏ phong tỏa.
- Hai là họ liên kết gây sức ép lên Mỹ yêu cầu chấm dứt tấn công quân sự nhằm vào Iran.
Rõ ràng Tehran đang đặt cược vào kịch bản thứ hai bởi vì ở thời khắc sinh tử này, họ không hề muốn ngửa bài lật mặt với Saudi Arabia. Do đó, chiến lược tối ưu của Tehran là lựa chọn hình thức phong tỏa linh hoạt, nhằm ngăn giá dầu vượt qua ngưỡng có thể khiến kinh tế thế giới sụp đổ. Cách làm này vừa buộc các nước sản xuất dầu vùng Vịnh và các đồng minh của Mỹ như châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc phải trả giá, vừa tránh để bản thân rơi vào tình trạng bị cô lập về ngoại giao.
Trong mô hình phong tỏa linh hoạt này, giá dầu tuy sẽ tăng, nhưng thứ tăng mạnh hơn có lẽ là phí bảo hiểm hàng hải. Điều này đồng nghĩa với việc bất kỳ tàu hàng nào ra vào Vịnh Ba Tư cũng sẽ phải trả một khoản phí bảo hiểm khổng lồ và gánh nặng chi phí sẽ bị chia đều cho cả bên bán lẫn bên mua. Đồng thời, cách phong tỏa linh hoạt cũng giúp Iran tiết kiệm tên lửa.
Do thiếu năng lực phòng không hiệu quả, Iran gần như chỉ có thể chịu đựng các đợt không kích của Mỹ và Israel. Tuy vậy, họ sở hữu lợi thế bất đối xứng khi có thể sản xuất ba loại vũ khí tấn công tầm xa:
- Tên lửa đạn đạo tầm trung: Là "vũ khí để dành" chủ yếu dùng để răn đe Israel.
- Tên lửa hành trình tầm ngắn: Nhắm đến các căn cứ quân sự Mỹ ở Trung Đông.
- UAV cảm tử: Những chiếc máy bay không người lái giá rẻ này đặc biệt phù hợp để tấn công các mục tiêu giá trị cao như mỏ dầu hay tàu thương mại. Một chiếc UAV chỉ tốn vài chục nghìn USD, nhưng mỗi quả tên lửa đánh chặn của Mỹ lại ngốn đến hàng trăm nghìn USD. họ chỉ cần định kỳ đánh chìm một số ít tàu hàng là đã đủ để làm tăng đáng kể chi phí vận tải biển.

Toan tính chiến lược của các bên

Việc Iran phong tỏa eo biển Hormuz có ba tầng mục tiêu.
Mục tiêu tầng thấp là đánh mạnh vào nguồn thu của các quốc gia sản xuất dầu ở vùng Vịnh, từ đó buộc họ phải gây sức ép lên Mỹ. Điều này đồng nghĩa với việc phong tỏa cần kéo dài ít nhất hơn một tháng mới có thể phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, thái độ của các nước sản xuất dầu vùng Vịnh khá phức tạp. Ả Rập Xê Út đang nỗ lực thực hiện “Tầm nhìn 2030”, mong muốn có một môi trường phát triển hòa bình. Nhưng đồng thời Riyadh cũng muốn nhân cơ hội Iran rối loạn nội bộ để loại bỏ "mối đe dọa từ dòng Shiite". Đáng chú ý, năm ngoái Pakistan vừa ký thỏa thuận liên minh quân sự với Saudi Arabia, và Thổ Nhĩ Kỳ cũng bày tỏ ý định tham gia. Nếu Saudi Arabia có ý định can thiệp quận sự, Hiệp ước Phòng thủ chung Saudi - Pakistan rất có thể sẽ được kích hoạt. Một khi Pakistan bị lôi kéo vào vòng xoáy, cục diện sẽ trở nên cực kỳ nghiêm trọng, kéo theo cả Nam Á, thậm chí là Đông Á vào lò lửa.
Trong vấn đề Iran, các nước vùng Vịnh chắc chắn sẽ diễn lại bài "gió chiều nào che chiều ấy" truyền thống. Nếu Tehran tỏ ra đuối sức, họ sẽ lập tức giậu đổ bìm leo, xúm vào chia chác chiến lợi phẩm (đơn cử như việc UAE vốn có tranh chấp lãnh thổ với Iran tại các hòn đảo thuộc eo biển Hormuz). Ngược lại, nếu Iran trụ vững qua cơn sóng gió này, họ sẽ ngoan ngoãn giữ thế trung lập, thậm chí cân nhắc việc quay sang gây áp lực cho Mỹ.
Mục tiêu trung tầng của Iran là kéo các quốc gia công nghiệp khác trên lục địa Á - Âu tham gia vào cuộc chơi. Điều này không chỉ bao gồm các đồng minh của Mỹ như Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc, mà còn cả những cường quốc mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ. Đối với châu Âu và Nhật Bản, dù không hài lòng khi eo biển Hormuz bị phong tỏa, họ lại thiếu khả năng can thiệp. Châu Âu ngay cả vấn đề Nga ngay sát “cửa nhà” còn chưa giải quyết xong, càng không thể tự mình triển khai lực lượng lục quân tới Vịnh Ba Tư để tác chiến, nhiều nhất chỉ có thể tham gia các chiến dịch không kích. Ấn Độ hiện vẫn duy trì quan hệ tốt với cả Iran lẫn Israel, nên nhiều khả năng sẽ chọn thái độ trung lập và đứng ngoài cuộc.
Trung Quốc tuy trước đây chưa trực tiếp can dự vào các cuộc đối đầu Mỹ - Iran, nhưng lần này có thể sẽ khác. Trước đây, mỗi khi bị tấn công, Iran thường tỏ ra rất kiềm chế vì vẫn hy vọng có thể khôi phục đàm phán về thỏa thuận hạt nhân. Nhưng lần này Iran dường như đã thực sự quyết liệt. Trung Quốc có thể lợi dụng tình hình để gây sức ép gián tiếp lên Mỹ. Ví dụ họ sẽ gộp chung vấn đề Iran và Đài Loan để đưa vào bàn đàm phán với Mỹ. Thậm chí có thể cân nhắc trì hoãn chuyến thăm Trung Quốc của Trump cho tới khi khủng hoảng Iran hạ nhiệt.
Mục tiêu cao nhất của Iran là đẩy lạm phát tăng mạnh, qua đó làm suy yếu các “kho phiếu” của Đảng Cộng hòa và khiến Trump thất bại trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Tuy nhiên, điều này chứa đựng nhiều yếu tố bất định. Giá dầu tăng cũng có thể mang lại lợi nhuận lớn cho các công ty dầu đá phiến của Mỹ; đồng thời, tâm lý yêu nước do xung đột địa chính trị kích thích cũng có thể khiến cử tri Mỹ ủng hộ Trump nhiều hơn. Vì vậy, trong tính toán này vẫn tồn tại không ít biến số.
Đối với Washington và Israel chiến dịch quân sự nhằm vào Iran có ba mục tiêu chiến lược.
- Mục tiêu tối đa: thúc đẩy thay đổi chế độ tại Iran, đưa phe thân Mỹ lên cầm quyền. Như đã phân tích, giới quan chức dân sự ở Iran hầu như không có khả năng giành quyền lực, còn người dân thiếu điều kiện để nổi dậy. Trong ngắn hạn, khả năng phe thân Mỹ lên nắm quyền là cực kỳ thấp.
- Mục tiêu tầm trung: phá hủy toàn bộ cơ sở hạt nhân còn lại của Iran, đưa họ về mức “không làm giàu uranium”. Dù chiến dịch “Midnight Hammer” năm ngoái đã làm tê liệt một số cơ sở then chốt, Iran vẫn giữ được năng lực nghiên cứu vũ khí hạt nhân. Lần này, Mỹ và Israel muốn giải quyết dứt điểm khủng hoảng hạt nhân bằng biện pháp quân sự thay cho ngoại giao.
- Mục tiêu tối thiểu: làm suy yếu nghiêm trọng sức mạnh quốc gia của Iran, khiến họ trong thời gian dài không thể đe dọa Israel. Nếu hai mục tiêu trên không đạt được, thì ít nhất cũng khiến bộ máy quyền lực trung ương của Iran tê liệt, rơi vào tình trạng bất ổn kéo dài và không còn khả năng mở rộng chiến lược.
Nếu Mỹ không triển khai bộ binh, khả năng đạt được mục tiêu cao là rất thấp. Mục tiêu tầm trung phụ thuộc vào năng lực tình báo và độ chính xác của không kích, bởi các điểm lưu trữ uranium của Iran đã được phân tán và được chôn sâu trong lòng núi. Mục tiêu tối thiểu có vẻ khả thi nhất, nhưng nó cũng là một trò chơi xác suất. Hậu thời kỳ Khamenei, Iran hoàn toàn có thể thai nghén một chính phủ quân sự, từ đó xuất khẩu chủ nghĩa phục thù nhắm thẳng vào Mỹ và Israel.

Lệnh phong tỏa eo biển Hormuz khi nào mới có thể đi đến hồi kết?

Kết hợp với những phân tích ở trên, tác giả xin đưa ra một số nhận định sơ bộ :
- Khủng hoảng Iran nhiều khả năng sẽ kéo dài ít nhất hơn một tháng, khả năng kết thúc trong ngắn hạn là không cao.
- Iran có thể sẽ áp dụng chiến lược phong tỏa linh hoạt, không để giá dầu tăng lên mức có thể đẩy kinh tế toàn cầu tới ngưỡng sụp đổ.
- Trên cơ sở đó, Iran sẽ cố gắng kéo dài thời gian phong tỏa, nhằm tạo điều kiện để các quốc gia khác phải can dự vào cuộc khủng hoảng.
Vậy khi nào việc phong tỏa có thể kết thúc? Có một số kịch bản như sau:
Kịch bản 1: Trump có đủ nguồn lực chính trị để triển khai lực lượng bộ binh.
Do phong trào MAGA có xu hướng phản đối chiến tranh, nên Ông Trump rất thận trọng với việc điều động quân đội trên bộ. Ông lo ngại rằng nếu không thể kết thúc nhanh chóng, Mỹ có thể sa lầy vào một “vũng lầy Iraq” mới. Tuy nhiên, hướng gió chính trị tại Mỹ luôn thay đổi khó lường. Nếu các biện pháp trả đũa của Iran kích động chủ nghĩa dân tộc tại Mỹ, hoặc gây ra suy thoái kinh tế toàn cầu, Ông Trump hoàn toàn có thể quyết định triển khai bộ binh, thậm chí tập hợp liên quân đa quốc gia để can thiệp.
Tuy nhiên, Đạo luật Quyền lực Chiến tranh (War Powers Resolution) của Mỹ quy định: các chiến dịch quân sự do Tổng thống phát động chỉ được kéo dài tối đa 60 ngày, sau đó phải có sự phê chuẩn của Quốc hội. Do đó, nếu Ông Trump muốn "tiền trảm hậu tấu" qua mặt Quốc hội, ông bắt buộc phải đánh nhanh diệt gọn, chẳng hạn như điều động Thủy quân Lục chiến đánh chiếm các hòn đảo của Iran dọc vịnh Ba Tư nhằm phong tỏa toàn bộ đường bờ biển nước này. Kịch bản 2: Phương Tây và các nước vùng Vịnh lùi bước.
Sau một thời gian dài bị phong tỏa, các quốc gia sản xuất dầu vùng Vịnh hoặc các nước công nghiệp Á - Âu sẽ liên thủ gây sức ép, buộc Mỹ phải nhượng bộ trên bàn ngoại giao.
Ví dụ như gây áp lực bằng cách xem xét lại các khoản đầu tư ở nước ngoài của họ, buộc Washington phải cam kết không tiến hành các chiến dịch “chặt đầu” nhằm vào lãnh đạo Iran nữa, và từ bỏ mục tiêu thay đổi chế độ. Chỉ khi cảm thấy an ninh của mình được đảm bảo, Iran mới dần dỡ bỏ việc phong tỏa eo biển Hormuz.
Kịch bản 3: Nước cờ lật ngược từ bên trong Iran.
Iran bùng phát bạo loạn nội bộ. Chính phủ mới thiếu uy tín, không kiểm soát được tình hình. Bạo loạn lan rộng tại nhiều thành phố và phát triển thành phong trào nổi dậy trên toàn quốc. Các nhóm sắc tộc như người Kurd và người Baloch tìm cách ly khai, trong khi Vệ binh Cách mạng Hồi giáo không đủ khả năng duy trì trật tự xã hội, tạo cơ hội để các thế lực bên ngoài can thiệp. Kịch bản 4: Mỹ và Iran rơi vào thế giằng co kéo dài.
Cuộc giằng co Mỹ - Iran rơi vào thế bí. Mỹ không thể khôi phục tự do hàng hải tại eo biển Hormuz, còn Iran thì phải gánh chịu áp lực kinh tế và ngoại giao rất lớn. Trong tình huống này, Nga có thể xuất hiện như một bên trung gian. Moskva có thể dùng việc hòa giải xung đột Mỹ - Iran làm con bài mặc cả, yêu cầu Mỹ gây sức ép buộc Ukraine nhượng bộ lãnh thổ. Dưới sự thúc đẩy của Nga, đại diện Mỹ và Iran có thể quay lại bàn đàm phán, từ đó tạm thời hạ nhiệt xung đột.
Cuộc đối đầu Mỹ - Iran lần này phức tạp hơn bất kỳ lần nào trước đây, bởi số lượng bên liên quan quá nhiều. Phần lớn các quốc gia trên lục địa Á - Âu đều bị cuốn vào vòng xoáy lợi ích. Diễn biến tiếp theo sẽ còn đầy biến số.
Iran đã đặt cược gần như toàn bộ quân bài của mình, giờ chỉ còn chờ xem Trump có “theo cược” hay không.
Ở một góc độ khác, cả Iran và Israel đều là quốc gia ở ngưỡng hạt nhân, nghĩa là họ đều có khả năng gây ra sự hủy diệt lẫn nhau. Nếu tình hình vượt khỏi tầm kiểm soát, nguy cơ xung đột hạt nhân giữa Iran và Israel thậm chí còn cao hơn cả kịch bản trong cuộc chiến Nga -Ukraine.