Định nghĩa của chúng ta đối với "suy nghĩ" từ trước giờ đều có phần sai. Ta luôn mặc định rằng những gì xuất hiện trong đầu mình là của mình. “Tôi nghĩ ra nó, nên nó thuộc về tôi” — ta tin như vậy, và từ niềm tin đó, ta hành xử như thể mọi suy nghĩ đều là sự thật.
Nhưng có thật là như vậy không?

Nguồn gốc của suy nghĩ

You are not what you think, you are a thinker — Bạn không phải là những gì bạn nghĩ, bạn là người nghĩ ra nó
Để tôi nói cho bạn nghe điều này: thực tế, chúng ta không chủ động nghĩ nhiều như ta vẫn tưởng. Bạn có thể phản biện rằng: “Đương nhiên tôi suy nghĩ chứ, không phải tôi nghĩ thì ai nghĩ?”. Nhưng bí mật nằm ở chỗ này - không phải tất cả những gì bạn nghĩ đều là của bạn.
Một phần suy nghĩ đến từ những mô thức xã hội đã được lập trình từ khi ta còn bé; từ những khuôn mẫu mà xã hội nhồi vào ta theo năm tháng; từ tư duy của cha mẹ, thầy cô, môi trường sống mỗi ngày; từ những nỗi sợ vô thức kết nối với những thứ ta từng trải qua trong quá khứ; và đôi khi… từ vài tiếng thì thầm với ta nữa cũng nên :))).
Vậy có nghĩa là, trước giờ ta luôn nghĩ bản thân mình chủ động suy nghĩ những điều đó nhưng bây giờ có lẽ không hẳn là như vậy.
Source: Pinterest.
Source: Pinterest.
Con người từ nhỏ đã được “đồng bộ hóa” thông tin theo nhiều lớp - từ gia đình, nhà trường cho đến xã hội. Nhờ vậy mà chúng ta dễ hiểu nhau hơn, dễ trao đổi hơn, và có chung một vài khuôn chuẩn để nhìn nhận mọi thứ. Bởi thật ra, không ai có đủ thời gian hay năng lượng để tự đặt câu hỏi cho từng điều mình gặp trong đời. Nhiều khi, ta chỉ tin những gì được lặp lại nhiều lần vì nó giúp ta tiết kiệm sức.
Nhưng cũng chính vì vậy, đôi lúc chúng ta mang theo những suy nghĩ mà chưa từng tự kiểm chứng. Có những điều nghe quen thuộc đến mức ta tưởng đó là “sự thật hiển nhiên”, trong khi trải nghiệm cá nhân lại không giống vậy. Con người vốn phức tạp, đa tầng và bí ẩn hơn rất nhiều so với những khung suy nghĩ mà xã hội xây nên.
Và cũng bởi sự phức tạp ấy, đôi khi chúng ta vô thức dựa vào số đông để cảm thấy an toàn — tin một điều vì ai cũng tin, chọn một điều vì ai cũng chọn. Từ đó, thật khó để biết đâu là suy nghĩ thật sự của mình, đâu là điều ta chỉ quen tin vì thấy nó xuất hiện quá nhiều lần xung quanh.

Chúng ta đã bị "thao túng" suy nghĩ như thế nào?

Màu sắc và định vị giới tính

Trước thế kỷ 20, những màu sắc không gắn mác giới tính vì sự khó khăn trong quá trình tạo ra màu nhuộm vải. Hầu hết mọi người sẽ sử dụng vải trắng hoặc màu ngà, màu thực của vải trước khi nhuộm vì sự tiện lợi trong việc giặt giũ và bảo quản.
Vào thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20, khi các cuộc cách mạng về công nghệ kỹ thuật, bao gồm cả nghề may mặc, được phát triển rộng rãi, nhiều màu sắc được tạo ra nhằm đa dạng hoá và tạo nên nét đặc sắc riêng. Cũng trong giai đoạn đó, màu hồng -phiên bản sắc độ nhẹ hơn đỏ - được xem là màu của phái mạnh. Người ta quan niệm rằng màu đỏ là màu tượng trưng cho sức mạnh, nam tính, chiến tranh. Trong khi đó, màu xanh lại tượng trưng cho phái nữ - sự dịu dàng, nữ tính, trinh nữ từ Đức mẹ Maria.
Tạp chí TIME Magazine và The Guardian cũng nhắc đến sự thật thú vị này: "pink for boys, blue for girls" từng là chuẩn mực vào đầu thế kỷ. Những tạp chí thời đó thậm chí còn viết rất rõ: “Pink for boys, blue for girls.” Các tranh minh họa và quảng cáo cũng thể hiện điều này.
Màu hồng được xem là phiên bản “nhạt” của đỏ - gam màu mạnh mẽ, quyết liệt, gắn với sự dũng cảm và năng lượng nam tính. Trong khi đó, xanh nhạt lại được xem là màu của sự dịu dàng, thuần khiết. Source: Reddit
Màu hồng được xem là phiên bản “nhạt” của đỏ - gam màu mạnh mẽ, quyết liệt, gắn với sự dũng cảm và năng lượng nam tính. Trong khi đó, xanh nhạt lại được xem là màu của sự dịu dàng, thuần khiết. Source: Reddit
Mãi đến sau Thế chiến II, thị hiếu thời trang và văn hóa đại chúng bắt đầu đổi hướng. Giới truyền thông và ngành quần áo trẻ em đồng loạt chuyển sang gán màu hồng cho nữ giới và màu xanh cho nam giới. Từ đó, sự phân loại màu sắc theo giới tính trở thành “điều đương nhiên” đến mức nhiều người nghĩ nó là bản chất tự nhiên từ đầu, trong khi thực tế nó chỉ là một quy ước xã hội đã được đổi ngược lại.

Tôm hùm (Lobster) – Từ thức ăn cho tù nhân trở thành món sang chảnh

Vào thế kỷ 17–19 ở Mỹ, Tôm hùm bị xem như rác biển, bị sóng đánh dạt vào bờ thành đống trên các bờ biển dọc nước Mỹ. Họ lấy tôm hùm để cho tù nhân, ho trẻ mồ côi, thậm chí dùng làm phân bón cho cây vì… giá cả lúc đó rẻ tới mức không ai buồn ăn.
Ở bang Massachusetts, tù nhân còn kiện nhà tù vì bị đối xử tàn nhẫn - “bị cho ăn tôm hùm quá 3 lần/tuần.”
"Bị cho ăn tôm hùm quá ba lần một tuần” là một hình thức đối xử tàn nhẫn. Source: Pinterest
"Bị cho ăn tôm hùm quá ba lần một tuần” là một hình thức đối xử tàn nhẫn. Source: Pinterest
Mọi thứ chỉ thay đổi khi ngành đường sắt ở Mỹ phát triển. Những toa tàu bắt đầu phục vụ tôm hùm cho hành khách từ các vùng nội địa - những người chưa từng nhìn thấy sinh vật kỳ lạ này bao giờ. Họ nếm thử, thấy lạ và ngon. Và chính sự háo hức của nhóm khách này đã vô tình tạo ra một nhận diện mới cho tôm hùm.
Từ một món ăn “thường dân”, giá tôm hùm tăng theo nhu cầu, lan sang các thành phố lớn, rồi xuất hiện trong thực đơn của những nhà hàng sang trọng. Hình ảnh tôm hùm hiện tại được định vị như là món ăn đắt đỏ, giàu dinh dưỡng, được phục vụ trong các khách sạn và nhà hàng cao cấp.
Điều này cho thấy: ngay cả những điều ta tin là “chắc chắn đúng”, “ai cũng biết”, “tự nhiên phải vậy” hóa ra lại chỉ là thứ được lặp lại quá nhiều lần, đến mức ta ngừng đặt câu hỏi. Và thế là ta vô tình mang theo những niềm tin không thuộc về mình, chỉ vì chúng đã ở đó đủ lâu để trở thành quen thuộc.

Lấy lại quyền làm chủ suy nghĩ

Quay lại bản thân chúng ta, để có được sự sáng suốt trong việc phân biệt: điều đó liệu có phù hợp với mình hay không, liệu mình có hài lòng với suy nghĩ đó không hay vì "vốn dĩ phải như thế", ta phải có năng lực tự vấn. Hay hiểu đơn giản, đó là khả năng lắng nghe nhu cầu thật sự của bản thân và hiểu xem điều gì đang diễn ra bên trong mình.
Có hai cách rất hay mà tôi đúc kết được trong khi đọc cuốn sách "Letting go" của tác giả David Hawkins có thể giúp chúng ta đào sâu hơn suy nghĩ của chính mình:
Thứ nhất, dùng câu hỏi "Để làm gì?" để tìm ra suy nghĩ hay cảm xúc thật sự đang diễn ra trong bản thân. Câu hỏi được cần được lặp lại liên tục cho đến khi ta cảm thấy câu trả lời cuối cùng là hợp lý và ta hài lòng hoàn toàn.
Thứ hai, chia nhỏ vấn đề và bắt đầu tự vấn từng thứ nhỏ liên quan đến chủ đề lớn đó. Cũng có nghĩa là, khi xem xét từng khía cạnh nhỏ của vấn đề, ta làm rõ được suy nghĩ về khía cạnh đó có hợp lý với ta hay không và từ đó ta có quyền lựa chọn việc đồng ý với điều đó hay bác bỏ nó.
Theo tiến sĩ David Hawkins, mỗi cảm xúc mạnh thực ra là một phức hợp của nhiều cảm xúc phụ trợ.
Đây không phải là phương pháp tác giả đưa ra, mà là những điều tôi nhận ra khi quan sát bản thân trong lúc đọc. Hai cách này vốn được tác giả nhắc đến như một phần của việc buông bỏ năng lượng tiêu cực, nhưng với tôi, chúng còn là cách để ta học lắng nghe chính mình.
Khi hướng sự chú ý vào bên trong và thành thật quan sát từng lớp suy nghĩ, ta cũng đang bước những bước đầu tiên trên hành trình tìm lại hạnh phúc - hành trình tìm ra được suy nghĩ của chính mình.
-Hintt-