Tác giả: Ivan Nechuy-Levytskyi
*Moskal, Moskovka: Cách người Ukraina gọi người Nga, những ai đi lính cho Đế quốc Nga và vợ của những người phải đi lính cho đế quốc Nga.
Đó là một buổi chiều hè tĩnh lặng. Mặt trời đã đứng ở đường chân trời. Đàn gia súc rời đồng cỏ ra đường cái, nối dài về phía làng và kéo theo một làn bụi mờ. Trên đường, một người lính Moskal trẻ đang trở về nhà theo chế độ nghỉ phép. Sau lưng anh lủng lẳng chiếc ba lô và túi đựng bánh mì khô; ngang vai là chiếc áo khoác Moskovsky màu xám được cuộn lại tròn như vành bánh xe. Có lẽ anh chàng đã đi từ rất xa, vì anh có vẻ kiệt sức, cố lôi đôi chân mệt mỏi đi từng bước một.
Bụi lặng lẽ lắng xuống trên những gốc rạ, đàn gia súc đã vào đến làng. Ngôi làng khá lớn nằm bên khe núi; giữa làng nổi bật ngôi nhà thờ nhỏ mới xây sơn trắng. Phía dưới thấp lấp lánh hai cái ao, quanh ao và dọc theo con đập là những hàng liễu dày, cao vút, xanh mướt và rủ bóng.
Người lính Moskal dừng lại, nhìn ngắm ngôi làng, rồi ngồi xuống mép rãnh bên đường và bắt đầu nhồi thuốc vào tẩu.
“Lạy Chúa!” - anh nghĩ. - “Đã năm năm kể từ ngày ta rời Momotiv, mà mọi thứ đã cao lớn thế này rồi sao, nhà thờ đã mới, liễu bên ao cũng đã mọc cao đến thế... Chuyện gì đang diễn ra ở làng nhỉ? Mẹ già của mình có còn sống, còn khỏe không, hay có lẽ đã yên nghỉ ngoài nghĩa trang rồi?..” - người Moskal gục đầu xuống... - “Còn những chàng trai, cô gái mà mình từng chơi cùng ngày xưa! Chắc các chàng trai đều đã lấy vợ, các cô gái đã đi lấy chồng cả rồi. Không biết Nastia và Motria đã lấy chồng chưa? Họ từng là những cô gái xinh đẹp! Hẳn giờ đã thành những người đàn bà đẹp lắm...”
Người Moskal đứng dậy, cố lôi đôi chân mệt mỏi chầm chậm tiến về phía làng.
Trong khi đó, phía sau ao, dưới những tán liễu rậm rạp, trên ngưỡng cửa một ngôi nhà nhỏ, bà cụ Khomykha Varka đang ngồi. Ngôi nhà của bà Khomykha cũ kỹ và bé nhỏ, đứng trơ trọi giữa mảnh vườn. Quanh đó chẳng có kho lẫm, chẳng có hàng rào hay chuồng trại gì. Chỉ có một cái lán nhỏ tựa vào vách nhà, bên trong chất ít củi khô, một cái giá đập lanh cũ và hai cái hũ đất sứt mẻ nằm lăn lóc. Cả mảnh vườn mọc đầy cỏ cao và rậm. Trước nhà, trên những luống đất nhỏ, trồng ít khoai tây, củ cải đường và hành tây. Cách cửa vài bước là một gò đất xanh có nắp đậy - đó là hầm chứa đồ của bà cụ. Sau nhà có mười cây anh đào và hai cây lê - đó là tất cả gia sản của bà Khomykha...
Bà Khomykha ngồi trên ngưỡng cửa, mắt dõi ra con đường cái và mải mê làm việc. Bà đang khâu áo cho con trai. Có lẽ đôi mắt già nua không còn nhìn rõ nên bà cúi sát xuống tấm vải, đôi tay bà run run; chiếc mũ trùm đầu cũ kỹ tụt xuống gáy; từ dưới mũ, một lọn tóc bạc xõa ra, nhưng bà vẫn chăm chú vào cổ áo, đếm từng sợi chỉ màu để thêu. Làm sao người mẹ không chăm chút cho được, khi bà đang khâu áo cho đứa con trai Vasyl, người mà bà ngóng đợi mỗi ngày, người mà bà đã không gặp suốt năm năm qua kể từ khi anh bị bắt đi làm Moskal.
Bà Khomykha nhắm sợi chỉ vào lỗ kim nhưng không lọt. Bà đứng dậy, lấy tay che mắt, nhìn lên mặt trời rồi nhìn ra con đường cái...
“Lại một ngày nữa trôi qua, chiều đã buông rồi mà con trai ta vẫn bặt vô âm tín!” - bà Khomykha nghĩ. - “Những Moskal khác đã trở về từ lâu, còn Vasyl của ta chẳng thấy tin tức gì.”
Không một ngày nào bà Khomykha không ngồi trên ngưỡng cửa chờ con. Và giờ đây bà lại ngồi trên bậu cửa, tay chống cằm; mắt bà nhìn về con đường rộng, về cánh rừng xa, về bầu trời xa thẳm. Ý nghĩ của bà như cánh chim bay đến nơi đất khách quê người. “Nó còn sống hay đã mất,” - bà nghĩ, - “liệu có về được với mình không? Chuyện gì mà chẳng thể xảy ra với một Moskal nơi viễn xứ? Có lẽ nó đã tử trận, có lẽ bị thú dữ tấn công trong rừng sâu đêm tối, hay có lẽ đau ốm nằm một mình nơi xa lạ không ai chăm sóc.” Ý nghĩ của người mẹ bay qua những cánh đồng bao la, qua những khu rừng rậm rạp đêm khuya; lúc bà thấy anh đau ốm trong một ngôi nhà xa lạ giữa những người xa lạ, lúc lại thấy anh trên đường bị kẻ xấu tấn công. Trái tim người mẹ nhói đau. Bà cụ đứng dậy, làm dấu thánh, cầu nguyện cho con rồi lết vào nhà với tâm hồn và con tim đau đớn.
Vừa lúc đó, ở cửa sổ này rồi đến cửa sổ kia thấp thoáng chiếc cổ áo đỏ. Cửa ra vào kẽo kẹt, căn phòng mở ra, và trước mặt bà Khomykha, như thể từ dưới đất mọc lên, đứa con trai Vasyl xuất hiện.
Ánh nắng chiều chiếu qua cửa sổ lên người anh. Đứa con đứng trước mặt bà cao lớn và mảnh khảnh: mái tóc xoăn đen, gương mặt, quần áo - tất cả đều phủ đầy bụi đường.
Bà cụ đập tay vào vạt áo, người run lên bần bật.
- Chào buổi tối thưa mẹ! - Vasyl lên tiếng. - Mẹ có nhận ra con không?
Bà cụ thét lên một tiếng, lao về phía anh và khóc nấc lên...
- Con lớn quá rồi con ơi, sao con cao thế này! - Còn mẹ, mẹ già quá rồi, già đi nhiều quá! - Ôi, sắp đến lúc phải chết rồi con ạ! Nhưng giờ mẹ chẳng màng gì nữa! Mẹ đã thấy con, mẹ có chết cũng thấy nhẹ lòng.
Bà cụ vung tay vì vui sướng, lấy ống tay áo lau nước mắt.
- Đừng khóc mẹ ạ, - Vasyl nói. - Mẹ thấy đấy, tạ ơn Chúa, con đã trở về bình an vô sự.
Vasyl tháo ba lô và túi đựng bánh mì, đặt xuống dưới ghế dài. Bà cụ tất bật chạy quanh nhà như thể trẻ lại; bà không biết phải làm gì, bắt đầu từ đâu. Bà vơ lấy mọi thứ, mở hòm tìm kiếm cái gì đó rồi lại chẳng biết mình tìm gì; bà chạy ra ngoài hiên rồi lại quay vào trong. Vasyl xin ít nước để rửa mặt. Bà Khomykha đổ nước vào chậu, lấy trong hòm ra chiếc khăn trắng, tìm cho anh chiếc áo sạch: bà chỉ muốn tự tay rửa mặt và lau người cho con trai mình.
Ngôi nhà của bà Khomykha bỗng trở nên vui tươi! Lửa reo trong bếp, bữa tối đang sôi sùng sùng. Bà Khomykha thắp đèn dầu và ngồi cắt bánh bột luộc. Vasyl ngồi ở đầu bàn trên ghế dài. Mái tóc xoăn đen như nhựa cây nổi bật trên chiếc áo trắng có cổ thêu, và gương mặt trẻ trung sạm nắng, sau khi rửa bằng nước mát, bừng sáng dưới ánh đèn như bông hoa anh túc tươi tắn trong vườn. Chỗ vành mũ che đến đâu thì trán trắng đến đó, trên đó là hai hàng lông mày đen như hai con đỉa bám vào làn da trắng. Đôi mắt nâu lấp lánh như đôi nến. Vasyl Khomenko mới thật đẹp trai, tươi trẻ và căng tràn sức sống làm sao!
Bà Khomykha lăn bánh, nhưng mắt không rời khỏi con. Vasyl định vào giúp mẹ.
- Ngồi xuống đi con, nghỉ ngơi sau chuyến đường dài! - người mẹ nói. - Con là khách quý trong nhà này; cứ ngồi đó để mẹ được ngắm con cho thỏa thích... Kể mẹ nghe, con đã ở đâu mà lâu thế, có chuyện gì dọc đường không? Con đã đi những đâu, thấy những gì? Đi làm Moskal có tốt không con?
Cửa kẽo kẹt: một cô gái trẻ bước vào nhà.
- Chào buổi tối, - cô nói khẽ, - cho cháu mượn ít lửa với! - Nói đoạn, cô đặt hai cái nắp nồi lên bếp lò. Bà Khomykha đứng dậy, gạt ít than hồng bỏ vào nắp nồi cho cô, còn cô gái đứng bên cửa, rụt rè liếc nhìn Vasyl.
Hồi nãy khi đi đón đàn gia súc, cô đã nhìn thấy Vasyl ngồi bên rãnh đường; cô đã để ý đôi mắt nâu, hàng lông mày đen, dáng người thanh mảnh của anh, và đôi mắt ấy, hàng lông mày ấy đã in sâu vào tâm trí cô, khiến cô quên bẵng cả cừu, cả bò, cả đàn gia súc. Cô gái mải ngắm chàng trai mà để đàn cừu đi quá cổng nhà, chạy tán loạn vào bụi rậm, còn con bò thì đi lạc vào vườn nhà hàng xóm.
Cô gái rời khỏi nhà, nhưng Vasyl chẳng bận tâm! Anh thậm chí chẳng hỏi mẹ cô ấy là con nhà ai.
- Kể mẹ nghe đi con, đi làm Moskal có tốt không? - người mẹ hỏi.
- Có đủ cả mẹ ạ, nhưng phần nhiều là những điều không tốt. Buồn và lạ lẫm lắm khi người ta đưa con đi khám tuyển, khi họ cạo đầu con... Lúc đó con cứ ngỡ mình đang đi sang thế giới bên kia. Nhưng rồi cũng quen dần, đám tân binh bắt đầu cười đùa với nhau. Toàn những người trẻ và vui tính. Hễ có ai buồn là cả bọn lại đem ra trêu chọc. Nhưng chúng con chẳng được đùa lâu đâu! Họ giao chúng con cho một “lão thúc” - một Moskal già - để huấn luyện. Cái lão đó mới đáng sợ làm sao! Hung ác làm sao! Mặt to, tóc tai bù xù, đỏ gay và đầu thì bự! Đôi mắt lồi như cú vọ, ria mép đỏ quạch như mèo già, mặt một bên thì xanh, một bên thì đỏ lại còn đầy mụn. Đến tận bây giờ, mẹ ạ, hễ nhớ lại là con vẫn còn run bần bật.
Hồi đó, lão bắt chúng con xếp hàng để tập luyện. Chúng con đứng nghiêm như lão bảo: tay buông thõng, mặt ngửa lên trời đến mức gân cổ như muốn đứt ra. Thế mà vẫn không vừa lòng lão! Lão đi phía sau, rồi cứ thế nện nắm đấm vào lưng! Lão vòng lên phía trước - mặt giữ không đúng tư thế! Thế là lão tát một cái nẩy đom đóm mắt, đầu quay cuồng luôn! Còn lão, mặt đỏ gay gắt gỏng hét lên: “Đừng có xoay cái mặt ra! Giữ thẳng!” Rồi lại tát tiếp vào má bên kia! Thế đó mẹ ạ! Lão tát vào má, còn mình thì phải giữ chặt đầu như thể lão đang cho mình ăn bánh kẹo vậy.
Rồi chúng con bắt đầu tập với súng. “Chân phải bước tới!” - lão hét lên. Con đưa chân ra trước như một khúc gỗ. “Không phải thế!” - lão gầm lên rồi nện báng súng vào chân. Đôi chân tê dại, xương cốt kêu răng rắc, cái đau chạy dọc khắp người, nhói lên tận óc, nhưng vẫn phải đứng yên, không được nhúc nhích! Lạy Chúa, con đã phải cam chịu! Mệt lả người, đau đớn rã rời, khi về đến trại lính thì họ cho ăn món cháo loãng như nước, hạt ngũ cốc trong đó cứ đuổi nhau mà chẳng thấy đâu...
Bà Khomykha lắng nghe, từng giọt nước mắt cứ thế lăn dài từ khuôn mặt xuống đôi tay, xuống mảng bột...
- Đừng khóc mà mẹ, nếu không con chẳng kể nữa đâu. Mọi chuyện đã qua rồi. Giờ đây con vẫn bình an vô sự; giờ con đã ở đây với mẹ. Mẹ còn khóc làm gì?
- Nhưng con ở với mẹ được bao lâu... - người mẹ đáp.
Để không làm mẹ đau lòng thêm, Vasyl bắt đầu kể về những nơi anh từng đi qua, những con người anh từng gặp. Anh kể mãi, kể mãi. Bà cụ dọn bữa tối, họ cùng nhau ăn, nhưng người mẹ già không hề thấy mệt khi lắng nghe vị khách quý của mình.
Ánh đèn trong nhà đã tắt. Bà Khomykha nằm trên giường, còn Vasyl nằm ở gian ngoài. Ánh trăng rọi qua cửa sổ, những ô kính nhỏ với khung tối màu lấp lánh, ánh sáng lan tỏa khắp căn nhà. Lò sưởi trắng hiện lên, hàng nồi niêu đen sẫm trên kệ cũng rõ dần. Những bức thánh tượng trên bàn thờ mờ ảo trong bóng đêm. Bà cụ thao thức mãi, tay chống vào lòng bàn tay. Ý nghĩ này nối tiếp ý nghĩ kia, nỗi đau này chồng chất nỗi đau nọ, như từng đợt sóng dài cứ xô mãi ngay cả khi gió đã lặng. Bà nhớ về người chồng quá cố, nhớ về ngày bà đi lấy chồng, nhớ lúc Vasyl còn là một cậu bé chạy tung tăng, và nhớ cả lúc anh bị bắt đi làm Moskal. Cuộc trò chuyện với Vasyl đã khơi dậy trái tim già nua, khơi lại những vết thương cũ vốn đã được thời gian và tuổi già xoa dịu. Bà nhớ về những nỗi khổ cực mà mình đã phải chịu đựng suốt cuộc đời dài đằng đẵng. Thế nhưng cùng lúc đó, lòng bà vừa thấy nặng nề lại vừa thấy nhẹ nhõm! Bà cảm thấy trái tim đau đớn của mình vừa được tưới mát bằng một dòng nước thần; đó chính là ý nghĩ về đứa con trai Vasyl. Vasyl, đứa con trai cuối cùng còn sống của bà, đã trở về nhà. Giờ đây bà có thể nghỉ ngơi lúc tuổi già! Vasyl sẽ chăm sóc bà, cho bà ăn, cho bà uống, và chính Vasyl yêu quý sẽ là người chôn cất bà, khép lại đôi mắt bà bằng đôi bàn tay thân thương của anh.
Trong khi đó, trước đôi mắt sắp ngủ của bà cụ thấp thoáng gương mặt tươi tắn của Vasyl, như một đóa hoa vừa bừng nở, và sau đó từ một góc nào đó hiện ra gương mặt của một người phụ nữ trẻ. Bà cụ thấy mình đang ngồi trên giường đá và đu đưa đứa cháu nội nhỏ, còn người con dâu trẻ thì đang tất bật bên bếp lò. Lòng bà bỗng thấy nhẹ nhàng, thanh thản vô cùng, như thể những năm tháng thanh xuân tươi đẹp nhất đã trở lại, như thể bà được sinh ra trên đời một lần nữa. Và trong cơn mơ màng, bà thấy mình vẫn còn trẻ đẹp, đang lo liệu việc nhà, còn người chồng quá cố của bà, khi ấy cũng còn trẻ và hào hoa, đang ngồi trên ghế dài trò chuyện cùng bà. Bà cụ giật mình tỉnh giấc và làm dấu thánh. Một giờ sau, tất cả đều chìm vào giấc ngủ, ngay cả những giấc mơ cũng ngủ yên trong tâm hồn vốn đã bị nỗi đau và túng quẫn dày xéo. Chỉ còn tiếng một con dế mèn đang kêu rỉ rả trong góc nhỏ dưới sàn nhà...
Ngày hôm sau là một ngày lễ lớn. Ngoài trời tĩnh lặng và trong trẻo. Mặt trời đã lên khá cao, sương mù đã tan; trên những mặt ao, trên những khu vườn, một làn sương ảo ảnh run rẩy hiện lên. Chuông nhà thờ ngân vang. Trên các ngả đường, người người đi lễ; những người đàn ông mặc áo svyta (áo khoác dạ) mới và đội mũ bước đi bệ vệ, theo sau là những người đàn bà bế con nhỏ trên tay, bên cạnh họ là đám con gái nhỏ mặc váy của mẹ, lũ con trai đội mũ của cha và chỉ độc một chiếc sơ mi dài. Các thiếu nữ đi thành từng đôi, từng ba, đầu cài ruy băng và hoa, chân đi ủng đỏ, mặc váy vải nỉ hoặc áo korsetka.
Từ ngôi nhà của bà Khomykha, Vasyl bước ra và đi dọc phố đến nhà thờ. Anh mặc quân phục Moskovsky với cổ áo đỏ, chiếc mũ lưỡi sắt có dải băng đỏ bao quanh. Những chiếc cúc đồng sáng loáng dưới mặt trời, và trên ngực lủng lẳng hai tấm huy chương. Anh thấy vui sướng biết bao trên con phố nơi anh từng chơi đùa thuở nhỏ! Anh ngắm nhìn từng ngôi nhà, từng cái cây mọc trong vườn: mọi thứ đối với anh đều thân thương như ruột thịt, tất cả như đang mỉm cười và trò chuyện với anh. “Kìa là những rặng liễu dưới chân đồi, nơi chúng mình từng tụ tập đi chơi phố! Kìa là nhà của ông hộ giáo! Nastia con gái ông ấy ngày xưa mới đẹp làm sao! Giờ cô ấy ở nơi nào rồi nhỉ?”
Anh gặp những người dân làng, toàn là người quen cả. Anh cũng gặp lại đám bạn cũ, họ chào hỏi và trò chuyện với anh. Người thì đã lấy vợ, người thì vẫn còn độc thân. Các cô gái chăm chú nhìn người Moskal, người thì đi theo sau, người thì vượt lên trước để được ngắm nhìn anh cho rõ.
Đi phía trước Vasyl là hai cô gái. Đầu họ cài những bông hoa đỏ rực; những dải ruy băng bay phất phới trên vai xuống tận thắt lưng. Họ mặc áo korsetka giống nhau, đi ủng đỏ giống nhau, và những chiếc áo sơ mi thêu cùng một họa tiết hoa bia. Rõ ràng đó là hai người bạn thân.
- Sao chúng mình lại chạy nhanh thế này, - một cô bảo cô kia khi ngoái nhìn lại, - vẫn còn kịp giờ lễ mà. Đừng chạy thế, người chị em ơi! Và họ đi chậm lại, bởi họ đã nhìn thấy Vasyl phía sau. Họ muốn được ngắm nhìn anh.
Vasyl bắt kịp họ, cất lời chào “dobryden” (ngày tốt lành) và bắt đầu quan sát các cô gái, dĩ nhiên là với cái nhìn của một Moskal, lại còn là một Moskal trẻ tuổi. Anh nhận ra ngay một người: đó là cô gái tối qua đã chạy sang mượn lửa. Nhưng giờ đây, khi cài hoa và mặc chiếc áo korsetka xanh, cô mới xinh đẹp làm sao!
Còn các cô gái trông như thể chẳng thèm nhìn Vasyl, họ đáp lại “chúc mạnh khỏe” mà không hề ngước mắt khỏi mặt đất. Nhưng thực chất, họ lén nhìn rất kỹ để xem mắt Vasyl thế nào, lông mày anh ra sao. Chỉ có các cô gái mới biết cách quan sát kỹ lưỡng mà không cần nhìn thẳng vào mắt!
Hai cô gái ấy thực sự rất đẹp! Cô gái mượn lửa tên là Hanna, còn cô kia tên là Maryna. Hanna có dáng người nhỏ nhắn, khuôn mặt không lớn nhưng đầy đặn và tròn trịa. Chiếc cằm nhỏ của cô tròn như một hạt quả óc chó. Đôi lông mày màu nâu sẫm nằm thấp, ngay sát đôi mắt. Đôi mắt xanh nhỏ nhắn tỏa sáng dịu dàng mỗi khi cô ngước mi lên. Nhưng cô thường cụp mắt xuống, trông như thể đang suy tư điều gì. Hanna đẹp nhất là khi ngồi trầm tư, để đôi hàng mi dài và dày rủ xuống đôi gò má đầy đặn.
Cô bạn Maryna thì tóc đen nhánh, làn da hơi ngăm: hồi nhỏ người ta hay trêu cô là “đứa con gái Digan”. Những bím tóc đen dày quấn quanh đầu cô ba vòng. Khuôn mặt cô hơi dài, cằm nhọn và hơi nhô về phía trước, nổi bật nhất là chiếc mũi thanh tú và đôi môi đầy đặn đỏ rực như chuỗi hạt san hô hảo hạng. Trên vầng trán cao và phẳng, đôi lông mày đen mảnh như hai dải lụa xanh cong vút như hai nhịp cầu vồng phía trên đôi mắt đen láy sáng rực. Đôi mắt nhanh nhẹn đen như quả mận rừng lướt đi trên lòng trắng xanh xao. Trên gò má ngăm đỏ bừng lên như đóa hồng xuân, còn đôi môi đỏ nở rực như hoa mẫu đơn...
Maryna là người táo bạo và nhanh nhẹn. Không có cuộc vui nào trong làng mà thiếu cô. Từ nhỏ cô đã dẫn đầu các điệu nhảy mùa xuân, và hễ tiếng nhạc vang lên, Maryna không thể đứng yên. Cô lúc thì dậm chân rộn rã, lúc thì lướt đi nhẹ nhàng như con vịt trên mặt nước, nhịp nhàng theo dáng người và đầu. Mùa hè đến, những cuộc vui trên phố bắt đầu. Maryna luôn là người cất tiếng đầu tiên, hát vang khắp làng, tập hợp các cô gái và đặc biệt là các chàng trai quanh mình. Maryna rất bộc trực. Không phải các chàng trai trêu ghẹo cô, mà chính cô mới là người chủ động trêu ghẹo họ. Chính vì thế mà người ta sợ cưới cô, và những lời đồn thổi không hay về cô bắt đầu lan truyền giữa những kẻ ngồi lê đôi mách.
Hanna thì dịu dàng và u buồn. Cô thường ngồi giữa đám bạn, cụp mắt xuống và chìm vào suy tư. Họ yêu quý nhau và trở thành đôi bạn thân thiết.
Vasyl đã đi xa một đoạn nhưng vẫn ngoái nhìn các cô gái. “Cô gái tóc sáng màu kia mới xinh làm sao!” - anh thầm nghĩ. - “Mình phải hỏi mẹ xem cô ấy là con nhà ai mới được.”
Trong nhà thờ, người đông nghịt. Ở gian bên phải là đàn ông và thanh niên, gian bên trái là các cụ già, giữa nhà thờ là lũ trẻ con, còn ở gian phía sau dành cho phụ nữ là các bà mẹ và thiếu nữ. Vasyl, với tư cách là một Moskal, đứng ở hàng đầu tiên, nơi thường dành cho các quý ông, các quan chức và vợ con của linh mục.
Vị linh mục già tóc bạc trắng đang cử hành buổi lễ một cách chậm rãi. Trong nhà thờ nóng nực như trong lò sưởi. Vasyl nhìn ra phía sau, và ở đó, ngay cạnh mẹ anh, là hai cô gái ấy: Hanna và Maryna. Vasyl nhìn họ, và hòa vào trong một thế giới bỗng chốc trở nên rực rỡ hơn trong mắt cả hai cô gái! Họ thấy bà Khomykha thật là một bà cụ nhân hậu, trên đời không ai tốt hơn; họ thấy các thầy dâng kinh hát hay hơn, linh mục đọc kinh truyền cảm hơn. Khi các thầy bắt đầu hát một khúc ca bi ai, nước mắt Hanna bỗng lăn dài trên má...
Buổi lễ kết thúc. Đám thanh niên lao tới những lá cờ thánh và suýt chút nữa thì đánh nhau: ai cũng muốn được rước cờ quanh nhà thờ. Ông starosta mặc áo svyta xanh bưng từ bàn thờ ra kinh thánh và các bức thánh tượng phủ khăn lụa, trao cho những người có uy tín. Có người từ chối, có người đón nhận một cách bệ vệ như thể đó là điều hiển nhiên. Anh Moskal của chúng ta được giao rước một bức thánh tượng phủ khăn đỏ.
Đoàn rước rời khỏi nhà thờ, dân làng ùa ra theo sau. Mặt trời đã lên cao; ngoài trời sáng đến mức khó lòng nhìn thẳng mà không nheo mắt. Những cái đầu đàn ông không đội mũ đen sẫm như cánh đồng mới cày; các cô gái cài hoa, những người đàn bà quấn khăn đỏ, xanh mới tinh rực rỡ như hoa mẫu đơn trong vườn. Lũ trẻ con chạy nhảy khắp nghĩa trang, chơi trò đuổi bắt. Hanna và Maryna đứng cạnh tháp chuông, không rời mắt khỏi Vasyl. Mái tóc xoăn đen của anh bóng loáng dưới mặt trời, lông mày đen lại càng đen hơn, đôi mắt sáng lại càng sáng hơn.
Vasyl về nhà, ăn trưa cùng mẹ với những gì Chúa ban cho, rồi ngồi trên ghế dài trầm tư.
- Sao con lại thẫn thờ thế, con trai? - người mẹ hỏi. - Trong nhà với già này hẳn là buồn chán với một chàng trai trẻ như con. Hôm nay là ngày lễ, đi chơi đi con, đi ngắm các cô gái đi, còn mẹ già rồi, mẹ sẽ nằm nghỉ một lát.
- Mẹ ơi! Cô gái tối qua sang mượn lửa là con nhà ai thế?
- Đó là Hanna, con ông Vasyl Tykhonenko đấy con ạ, - người mẹ đáp rồi mỉm cười. “Sắp có con dâu rồi đây,” bà thầm nghĩ. - Cô ấy đứng cạnh mẹ trong nhà thờ đấy. Một cô gái xinh xắn và lịch thiệp! Cô ấy chào mẹ, sửa lại khăn trùm cho mẹ, trò chuyện rất lễ phép và nhìn mẹ với ánh mắt trìu mến. Chúa ơi, một cô gái thật nết na và nhanh nhẹn.
Vasyl lấy mũ và đi dạo trong làng. Giữa làng, cạnh bãi cỏ xanh rộng lớn có một quán rượu. Cạnh quán là những cây liễu già cao vút. Dưới những gốc liễu ấy, trai gái thường tụ tập vui chơi. Vasyl nhớ lại nơi đó, nhớ những cây liễu mà anh từng chơi đùa ngày xưa, và anh đi về phía tiếng nhạc dưới rặng liễu.
Trời sáng và ấm áp. Trên bầu trời xanh không một gợn mây. Những hàng liễu xanh ngắt, những khu vườn xanh tươi, bãi cỏ cũng xanh màu sự sống, còn dưới gốc liễu là một đám đông đen kịt như một đàn ong lớn vừa rời tổ đậu xuống cành liễu. Trên một khúc gỗ, ban nhạc đang ngồi với đàn vĩ cầm, đàn cimbalom và trống lục lạc. Trai gái vây quanh các nhạc công. Một ông lão tóc bạc đang chơi cimbalom, bộ râu bạc rung rinh và môi dưới trễ xuống. Những nhạc công vĩ cầm trẻ tuổi tóc đen ngửa đầu ra sau khiến chiếc mũ suýt rơi. Họ vừa kéo đàn vừa nháy mắt với những cô gái xinh đẹp. Các chàng trai thuê nhạc công cho bạn gái mình nhảy, giá ba xu một điệu.
Các cô gái tiến vào vòng tròn một cách duyên dáng, đi thành từng đôi khoác tay nhau, tiếng dây chuyền và những đồng tiền ducat trên cổ kêu leng keng. Đi đầu là Maryna, theo sau là các cô gái, lúc thì xoay vòng tay vịn vai nhau, lúc lại khoác tay nhảy thành vòng tròn. Rồi Maryna phá vỡ hàng lối, bắt đầu xoay tròn, và các cô gái khác theo sau cô bay lượn từng đôi một vừa nhanh vừa nhẹ như một đàn chim sáo bắt đầu xao động trên bầu trời xanh.
Như những con đại bàng lao xuống đàn vịt xám, như diều hâu lao xuống đàn bồ câu, các chàng trai xông vào - làm tan tác đám con gái như lũ chim én sợ hãi - và bắt đầu điệu nhảy Kozak. Đất dưới chân những chiếc ủng Kozak như gầm lên, như rên rỉ! Gót ủng cày nát đất, móng ngựa trên ủng nhổ bật rễ cỏ xanh! Các chàng trai chống nạnh, đội mũ lệch sang một bên, lúc thì nhảy ngồi, lúc thì dậm chân rộn rã, lúc lại vỗ tay rồi lại nhảy ngồi khiến mặt đất rung chuyển. Họ vung tay, đá chân, tiếng huýt sáo vang lên chói tai!
Đám con trai dừng lại, đến lượt đám con gái. Và dẫn đầu vẫn chính là Maryna! Đôi mắt đen rực cháy, tỏa sáng long lanh! Khuôn mặt bừng lên như lửa, đỏ rực như hoa mẫu đơn dưới nắng. Maryna nhảy múa và lôi kéo những người khác vào cuộc. Các chàng trai rỉ tai nhau bí mật thuê nhạc công chơi hăng hơn. Nhạc công đánh to hơn, nhanh hơn, Maryna bay lượn như một cơn lốc, càng nhanh và nhẹ bẫng!
Các cô gái thì thầm cười đùa, thúc khuỷu tay vào nhau. Các chàng trai hò hét, cổ vũ và huýt sáo. Vasyl quan sát các cô gái, từ người rất đẹp đến người bình thường, thậm chí cả người xấu, nhưng anh không thấy Hanna Tykhonivna ở đó. Tiếng nhạc dường như không còn hay nữa, điệu nhảy cũng chẳng còn làm anh thích thú. Vasyl nhìn vào mắt Maryna, nhìn lông mày cô, nhưng ý nghĩ của anh đã bay đi xa, tới tận rặng liễu trong vườn nhà Tykhonenko...
Trong khi đó, mặt trời đã lặn thấp; tay chơi nhạc đã mỏi, chân nhảy múa cũng đã chùn. Ban nhạc vừa đi dọc phố vừa chơi, lũ trẻ con chạy theo sau. Các cô gái tản đi gánh nước, nhốt cừu, nấu bữa tối. Vasyl cũng lững thững đi cùng đám con trai.
Mặt trời lặn hẳn, trời bắt đầu tối dần. Phía tây, bầu trời đỏ rực như than hồng trong lò; phía đông, trên cánh rừng xanh, bầu trời xanh thẫm gần như đen, trên đó thỉnh thoảng trôi những đám mây đỏ nhỏ xíu, âm ỉ cháy như than trong lò sưởi lúc chiều tà. Ngọn lửa phía tây tắt dần, những đám mây đỏ lịm đi, những ngôi sao sáng bắt đầu xuất hiện trên bầu trời. Đêm đen trải thảm nhung lên ngôi làng, những khu vườn và cánh rừng; chỉ còn những bức tường trắng của các ngôi nhà lấp lánh phản chiếu ánh hoàng hôn, và những cái ao dưới khe núi trông như những cửa sổ nhìn sang một thế giới khác với bầu trời xanh thẫm và những ngôi sao y hệt như vậy.
Trong làng bắt đầu vang lên tiếng hát của trai gái. Phố này ở đầu làng hát một bài, phố kia ở xa tít tắp lại hát bài khác. Đâu đó đằng xa, chỉ riêng tiếng hát của đám con trai đã lấn át tất cả. Qua mặt ao, các cô gái trêu đùa và hát đối đáp với nhau: Tôi ở bên này, Anh ở bên kia! Hãy sang đây với tôi! Tôi có gương mặt trắng, Anh có hàng lông mày đen: - Anh chính là người tôi yêu!
Dưới bìa rừng, một anh chàng Kozak đang đi chơi phố, bắt đầu hát bài “chumak” (bài hát của những người đi buôn muối) vang vọng và kéo dài, với nỗi lòng sâu thẳm, với niềm đau trong trái tim và giọng hát. Cả ngôi làng náo nhiệt như thể tất cả những gì đang sống ở đó đều đồng loạt cất tiếng hát đủ mọi loại bài ca.
Vasyl đi dọc phố mà không biết nên rẽ vào phố nào. Ai biết được Hanna Tykhonivna đang hát ở đâu? Phía sau nhà Tykhonenko, dưới tán cây lê cành lá xum xuê, Vasyl nhìn thấy hai cô gái: đó là Hanna và Maryna đang đứng đó.
- Chào buổi tối, - Vasyl nói và định đi tiếp, nhưng trong lòng lại muốn ở lại bên các cô gái. Đôi chân anh như tự giữ mình lại. Maryna giữ anh lại và nói liến thoắng: - Đi đâu mà vội thế, Vasyl! Chắc là đi chơi phố phải không? Đâu có con gái thì đó là phố rồi. Ở đây có hai chúng tôi; hãy ở lại với chúng tôi, và đây sẽ là buổi đi chơi phố của chúng ta; còn nếu anh muốn, chúng tôi sẽ chỉ đường cho anh đến phố của chúng tôi.
Trên một gò đất nhỏ dưới rặng liễu có một nhóm các cô gái đang ngồi, xen kẽ là các chàng trai đang ngồi hoặc đứng. Từ xa đã nghe thấy tiếng cười đùa vui vẻ của họ. Lúc thì cả nhóm cùng hát một bài, lúc lại đùa giỡn cười nắc nẻ. Từ nhóm đó, vài đôi trai gái tách ra ngồi riêng biệt, ôm nhau và trò chuyện. Vasyl tiến gần đến chỗ đám đông; các chàng trai nhận ra ngay người Moskal.
- Sao mày lại bén mảng đến đường của các cô gái chúng tao thế hả Moskal? - một người lên tiếng, - đi mà tìm mấy bà vợ Moskal ấy, đừng có mà đến đây, kẻo lại mang cái xác không hồn về nhà đấy!
Vasyl cùng với Hanna và Maryna ngồi tách ra một bên. Từ sau cánh rừng tối, mặt trăng ló ra với cái trán rộng sáng rực, rồi nhìn bằng đôi mắt, và cuối cùng hiện ra toàn bộ, tròn trịa như một cái thùng gỗ của gia chủ, đỏ như máu. Trăng lững lờ lên cao và đổ ánh sáng dịu nhẹ xuống ngôi làng. Những ngôi sao xấu hổ trước vẻ đẹp của trăng: vài ngôi trốn biệt vào bầu trời xanh, chỉ những ngôi táo bạo nhất mới ở lại. Dưới ao, phía sau đập và rặng liễu, một vầng trăng thứ hai hiện ra, từ đó một luồng ánh sáng rực rỡ lấp lánh trải dài gần như khắp mặt ao. Các cô gái hát bài ca gửi trăng: Ơi trăng, trăng ơi! Đừng soi sáng cho ai cả, Chỉ soi đường cho người yêu tôi, Khi anh ấy đang về nhà.
Vasyl nhìn Hanna, còn cả hai cô gái đều nhìn Vasyl. “Vasyl mới đẹp trai làm sao!” - Maryna thầm nghĩ. - “Đôi má đầy đặn như trẻ con, lông mày mảnh, mắt nâu, ria mép đen mới chỉ vừa nhú.” Hanna lén nhìn Vasyl và cứ thẹn thùng mãi, nhưng trái tim cô thì xốn xang. Dưới ánh trăng, khuôn mặt trắng trẻo của cô tỏa sáng như một đóa hoa trắng, còn Maryna ngay cả dưới ánh trăng cũng rực rỡ như hoa mẫu đơn. Đôi mắt Vasyl dừng lại ở đóa hoa trắng, ở gương mặt trắng ngần, ở đôi mắt đang khép lại dưới làn mi dài kia. Maryna nhận thấy điều đó và khẽ thở dài.
Mặt trăng đã lên đến giữa trời. Trong làng mọi thứ bắt đầu im ắng. Cuộc vui trên phố đã tan. Vasyl trò chuyện thêm một lát, đứng dậy tiễn các cô gái rồi quay về nhà mẹ. “Một cô gái như đóa hồng, cô kia như đóa hoa anh túc. Hoa anh túc đẹp thật đấy, nhưng chẳng có loài hoa nào đẹp hơn đóa hồng cả,” - Vasyl thầm nghĩ khi bước vào nhà.
Sau lễ lễ Sinh nhật Đức Mẹ, Vasyl đã cử người đến dạm hỏi Hanna Tykhonivna. Tin tức lan khắp làng, và Maryna cũng đã nghe thấy. Cô đi lại như người mất hồn!
Bà mẹ già Tykhonykha lúc đầu còn hơi do dự, nhưng ông bố thì đồng ý ngay. “Đi đi con,” - ông nói, - “cầu Chúa phù hộ cho con! Tuy con sẽ là một Moskovka, nhưng bù lại con sẽ được tự do, không phải đi làm nô cho địa chủ. Vasyl lại có nhà riêng. Sau này bà mẹ già mất đi, gia sản ấy chẳng để lại cho ai ngoài Vasyl cả.”
- Các chị em ơi, các bạn thân mến, tôi có nên lấy một Moskal không? - Hanna hỏi các cô gái trong làng.
- Lấy đi Hanna, - các cô gái khuyên, - đó không chỉ là chồng mà là định mệnh của bạn đấy: anh ấy vừa đẹp trai, tháo vát lại có hàng lông mày đen nhánh, dù có là Moskal đi chăng nữa.
- Maryna ơi, bạn thân ơi! Hãy cho mình lời khuyên như mẹ đẻ vậy: mình có nên lấy anh ấy không?
Maryna tái mét mặt mày, cô phải lấy hết sức bình sinh mới thốt ra được một câu:
- Bạn à, người ta đến hỏi cưới bạn, mà bạn cũng chẳng còn là trẻ con nữa, đừng đi hỏi mọi người, hãy tự hỏi lòng mình xem có muốn ở bên anh ấy hay không...
Đám cưới bắt đầu. Hanna cúi chào và mời Maryna:
- Bố tôi mời, mẹ tôi mời, và chính tôi cũng mời bạn, người chị em của tôi, đến dự đám cưới và làm phù dâu chính. Hanna hôn Maryna, và Maryna rùng mình ớn lạnh! Họ chẳng còn là đôi bạn thân thiết nữa khi cả hai cùng đem lòng yêu tha thiết một chàng Kozak trẻ tuổi!..
Vào chiều Chủ nhật, người ta dẫn Hanna lên ghế danh dự. Hanna ngồi ở góc trang trọng, mắt cụp xuống không nhìn ai. Cạnh cô là Maryna, xa hơn một chút trên ghế dài là các phù dâu ít tuổi hơn. Họ bắt đầu hát những bài ca buồn bã, tiễn biệt mái tóc đen, vẻ đẹp thời con gái, tiễn biệt cha mẹ. Maryna tái đi như chết trôi! Một giọt nước mắt lăn dài trên má cô.
Người ta đặt lên bàn một cành thông nhỏ trang trí bằng hoa kalyna và cây trường xuân, đặt thêm những chiếc bánh quy nhỏ và bánh mì cưới korovai. Người đến xem đông nghịt cả nhà. Lũ trẻ con leo lên cả những thanh xà nhà.
Các phù dâu hát bài ca cưới buồn bã:
Đàn chim sáo bay,
Thành ba hàng thẳng,
Chim cúc cu dẫn đầu.
Cả đàn chim sáo
Đậu xuống đồng cỏ,
Chỉ chim cúc cu đậu nhành kalyna.
Cả đàn chim sáo
Bắt đầu hót vang,
Chỉ chim cúc cu cất tiếng u sầu.
Đoàn phù dâu chạy,
Thành ba hàng thẳng,
Hannusia dẫn đầu.
Cả đoàn phù dâu
Ngồi trên ghế dài,
Hannusia ngồi ghế danh dự.
Cả đoàn phù dâu
Cất tiếng hát ca,
Nhưng Hannusia lại bật khóc.
Sao bạn lại khóc,
Nức nở đau thương?
Phải chăng định mệnh phũ phàng?
Và một người đã khóc nức nở, nhưng không phải Hannusia mà chính là Maryna. Cô khóc như mưa, nước mắt giàn giụa và lấy ống tay áo che mắt lại. Những người phụ nữ đứng tuổi thì thầm với nhau:
- Nó khóc vì muốn lấy chồng mà chẳng ai hỏi cưới đấy! Chẳng lỗi tại ai ngoài bà mẹ già cả! Nuông chiều con quá mức từ nhỏ mà ra.
Hai năm trôi qua kể từ đám cưới của Vasyl, ngôi nhà của bà Khomykha đã thay đổi biết bao! Ai đã thấy mảnh đất này lúc bà Khomykha còn ngồi trên ngưỡng cửa ngóng con trai, thì giờ đây hẳn sẽ không nhận ra nổi! Nơi xưa kia chỉ là một cái lối đi qua hàng rào đổ nát, giờ là một cánh cổng gỗ mới tinh. Hàng rào bao quanh cũng mới, cao ráo, ra dáng một gia đình nề nếp. Ngôi nhà cũ nhỏ bé của bà Khomykha giờ nép mình sau một ngôi nhà mới xây trắng tinh, trông như đang chơi trò trốn tìm: Vasyl đã sửa ngôi nhà cũ thành một căn phòng phụ. Trên sân có lán mới, một cái kho nhỏ mới. Ngôi nhà trắng nhìn ra mảnh vườn xanh mát bằng ba chiếc cửa sổ mới sáng loáng với khung gỗ sơn đỏ. Dưới cửa sổ, Hanna trồng tử đinh hương, cần núi, hoa diên vĩ và hoa mẫu đơn. Bên hiên nhà, một bụi hồng khoe sắc cùng đủ loại hoa: cẩm chướng, vạn thọ, yên chi và bìm bìm.
Vasyl không hề lười biếng, anh lo liệu việc đồng áng, và Hanna cũng chẳng thích nghỉ ngơi vào ngày thường; cô biết Vasyl vốn nghèo, và chính cô cũng chẳng mang theo của hồi môn gì ngoài cái hòm trống rỗng từ nhà mẹ đẻ. Chính bà mẹ chồng đã nhắc nhở điều đó. Bà mẹ chồng của Hanna rất tốt bụng, nhưng có một lần bà nói đùa rằng Hanna mang từ nhà sang một cái hòm nhẹ tênh.
Thuở ấy, hễ thu đến đông về, Vasyl và Hanna lại đi làm thuê ở nhà máy đường. Nhà máy nằm không xa làng, ngay cạnh mặt ao. Suốt cả ngày họ làm việc trong nhà máy, sau ca tối lại dắt tay nhau về nhà. Còn bà mẹ già ở nhà lo liệu mọi việc: dọn dẹp, trông nom và nấu sẵn bữa tối. Thật là phước đức cho con cái khi có một người mẹ già hiền từ, không bao giờ lớn tiếng trong nhà! Bà là người cho lời khuyên và là chỗ dựa lớn lao cho con cái.
Lũ trẻ tích cóp từng chút tiền mang về nhà, bà mẹ đếm, sắp xếp đâu ra đấy, phần dư bà giấu kỹ xuống tận đáy hòm.
Xuân đến, Vasyl đi cày thuê, bừa đất và gieo hạt cho những gia đình giàu có. Chỉ cần có thiện chí thì việc gì cũng có. Rồi củ cải đường bắt đầu lớn; những cánh đồng Ukraina xanh mướt lá củ cải như một biển xanh mênh mông. Mùa làm cỏ bắt đầu; người dân đổ ra đồng với những chiếc hái. Từ sáng đến tối, các thiếu nữ và thiếu phụ hát vang, còn những người quản lý cưỡi ngựa đi qua đi lại, cứ chỗ nào có các cô gái đẹp, có đôi mắt đen và hàng lông mày sắc sảo là họ lại ghé qua.
Vasyl và Hanna làm việc trên hai luống đất sát nhau, họ luôn đi tiên phong vượt xa mọi người, để lại sau lưng dải đất đen đã sạch cỏ với hai hàng củ cải thẳng tắp.
Mùa gặt đến, họ đi gặt thuê để kiếm ngũ cốc, gặt cả vụ chiêm lẫn vụ mùa. Rồi sau đó lại đào củ cải và chở đến nhà máy đường. Việc làm không bao giờ hết!
Còn bà mẹ già ngồi ở nhà, thỉnh thoảng quay sợi, khâu vá và ru đứa cháu nội nhỏ Ivas trong cái hốc lò ấm áp bằng bài hát ru “con mèo”. Cái lò ấm, đứa cháu nhỏ - đó là tất cả hạnh phúc của bà lão Khomykha. Bà chỉ còn chờ đợi một điều bình thản như chờ một người khách ghé thăm, đó là cái chết nhẹ nhàng, không báo trước.
“Giá mà Chúa cho tôi được chết ngay tại đây, bên cạnh các con! Tôi chẳng cầu xin Chúa điều gì hơn thế nữa. Chúng sẽ khép đôi mắt cho tôi, khóc thương tôi và chôn cất tôi.” - bà thường nói, - “dường như cái chết sẽ thanh thản hơn và nằm trong quan tài cũng nhẹ nhàng hơn khi có các con bên cạnh.” Đôi khi con người ta cần thật ít để thấy hạnh phúc! Nhưng bà lão tội nghiệp thậm chí còn chẳng được hưởng cái hạnh phúc giản đơn ấy!..
Vào một sáng Chủ nhật, ngay trước lễ Hiện xuống, thời tiết tĩnh lặng, trong trẻo và không quá nóng. Mặt trời đã lên khá cao. Đã đến giờ ăn trưa muộn nhưng người ta vẫn chưa tan lễ nhà thờ. Những ngọn núi, thung lũng, cánh đồng, vườn tược, ao hồ và những ngôi nhà đều ngập tràn và bao phủ trong ánh sáng trắng như bạc, trong suốt và thuần khiết. Ai bước ra khỏi nhà lúc đó đều phải nheo mắt vì chói. Trên mặt ao, trên những khu vườn, một ảo ảnh vàng óng lung linh, nhảy múa và tuôn chảy thành làn sóng, như thể có những dải sợi vàng mảnh mai đang lay động trong không trung. Phóng tầm mắt đi đâu cũng thấy vui tươi và đáng yêu! Màu xanh non của lá củ cải trong vườn, màu xanh của những cánh đồng, vườn tược, màu xanh của đám cỏ dại sum suê và cây cơm cháy. Phía trên mặt đất xanh tươi là bầu trời mùa hè sâu thẳm, xanh ngắt; và giữa trời đất là mặt trời vàng cùng làn sóng ánh sáng. Thật vui thay, đáng yêu thay, và rạng rỡ thay! Không chỉ với người vui, mà ngay cả với kẻ bất hạnh, vô phần, bầu trời vẫn mỉm cười, đất vẫn mỉm cười, mặt trời trong trẻo mỉm cười, còn cái ao nhỏ giữa những ngọn núi xanh, giữa những rặng liễu và vườn tược xanh rờn thì như thể đang cười sảng khoái!..
Lúc đó mặt trời chiếu sáng vui vẻ biết bao cho Hanna hạnh phúc và cả gia đình bà Khomykha già!
Mọi người tan lễ và tản về nhà. Trên bậc rào gỗ, hai tay bám vào hai chiếc cọc, Hanna hiện ra như mọc lên từ dưới đất. Đó không phải chim cu cu bay đến vườn nhà Khomykha, mà là Hanna nhảy qua bậc rào vào vườn nhà mình.
Cô băng qua vườn rau và vườn cây, diện đồ chỉnh tề, nhanh nhẹn và tươi vui, như thể ai đó vừa mang một bó quả kalyna đỏ mọng băng qua sân. Hanna quấn đầu lộng lẫy như một nàng công chúa bằng chiếc khăn lớn màu đỏ có những tua rua trắng và xanh. Trên chân cô, đôi ủng da đỏ rực lên như than hồng. Còn trên cổ là mười vòng chuỗi hạt tốt đã được mài giũa.
Chuỗi hạt kêu lanh lảnh! Hanna bay qua bậc rào thứ hai dưới hiên nhà, và trên bức tường trắng đối diện mặt trời như thể có một ngọn lửa bùng lên, lao vào hành lang, chỉ để lại một ánh đỏ thoáng qua.
Gương mặt Hanna trở nên đầy đặn hơn, dáng vẻ đường bệ hơn: khi làm vợ cô còn đẹp hơn thời con gái. Nắng cũng không làm cô cháy sạm. Cô không sợ mặt trời.
Trong nhà oi bức. Trong lò, những chiếc nồi đặt cạnh than hồng kêu xèo xèo. Giữa bàn, trên tấm khăn trải trắng tinh, có bánh mì và muối. Ống khói trắng muốt, không thấy một vết bẩn nhỏ nào! Chỗ nằm cạnh lò, cửa lò và bậc bếp như thể vừa mới được sơn bằng đất sét đỏ. Trong nhà sạch sẽ ngăn nắp, ghế dài và cửa sổ được rửa sạch, trên cửa sổ có những bông hoa cắm trong ca nhỏ. Trên bàn treo một bức tranh thờ mới, đẹp đẽ mang từ Kyiv về, có tới bốn vị thánh; trên các bức tranh là khăn thêu hình đại bàng và hoa bia. Hòm gỗ phủ thảm, còn chỗ ngủ và sàn gỗ phủ vải lanh trắng. Trong nhà thật sạch sẽ và ra dáng gia chủ.
Trong phòng, trên chỗ nằm cạnh lò, bà cụ đang ngồi, đung đưa đứa cháu nội đặt trong nôi và hát khẽ những bài hát ru trẻ con.
- Con ơi, múc đồ ăn đi, - bà mẹ nói.
- Để con đợi anh Vasyl về đã, mẹ ạ, - Hanna đáp.
Vừa lúc đó, Vasyl bước vào nhà trong chiếc áo khoác màu đen mới bằng vải nỉ nhà máy, thắt lưng màu xanh lá cây. Trên người anh không còn dấu vết gì của một người Moskal. Mái tóc đen, ria mép đen bóng loáng; gương mặt anh lộ rõ vẻ một người đàn ông khỏe mạnh, tươi tắn và đầy đặn, đúng độ sung sức nhất.
Hanna cởi áo khoác ngoài, xắn tay áo, quấn khăn và bắt đầu dọn bữa trưa. Bà mẹ già ngồi vào bàn - ở vị trí trang trọng nhất cùng đứa cháu nhỏ. Đồ ăn rất ngon. Hanna biết cách nấu và nướng bánh đúng chuẩn gia chủ.
Xong xuôi sau bữa trưa, Hanna ra xem vườn tược. Ở đó, dưới bóng râm cạnh bức tường đầu hồi, Vasyl nằm nghỉ, gối đầu lên chiếc áo khoác. Còn bà mẹ già, mặc chiếc áo lông cừu như giữa mùa đông, bế cháu ra trước cửa nhà ngồi đối diện mặt trời. Với bà lão thì mùa hè cũng chẳng phải mùa hè! Chỉ cần một cơn gió nhẹ thổi qua là bà đã run rẩy như chú cừu nhỏ.
Vasyl nằm xoài trên bệ đá trước nhà: mái tóc đen xõa tung xung quanh bệ. Hanna đến ngồi phía đầu anh.
- Năm nay vườn tược nhà mình lên tốt quá, - Hanna nói, - sẽ có đủ cả - có hành, có dưa chuột.
Thật đáng yêu mỗi khi nhìn vào, mọi thứ đều mọc lên đẹp đẽ! Đám cây bụi xanh mướt mọc lên như thảm lông cừu; những bụi cây nhỏ xòe tán, còn hành thì vươn ngồng; hạt giống nhú lên từ luống dày đặc như bàn chải. Cà rốt phủ kín mặt đất như đám rêu xanh. Dọc ngang khắp các luống, những hàng ngô lá nhọn và hướng dương lá rộng đan vào nhau xanh ngắt. Xung quanh các luống, trên thảm cỏ xanh, những dây bí ngô sum suê, mập mạp bò ra khắp phía như những con rắn dài và những chiếc roi, vươn những đầu xanh với tua cuốn xanh lên khỏi cỏ. Con gà mái cùng bầy con, kẻ thù tai hại của các bà nội trợ nông thôn, đang bới đất trong đám cà rốt, nằm lăn ra đối diện mặt trời. Ở tận góc vườn, một con bê nhỏ đang gặm cỏ, bị buộc bằng dây thừng vào một chiếc cọc.
Hanna đuổi con gà mái đi. Lũ gà con chạy tản vào bãi cỏ gần vườn anh đào.
- Vườn tược năm nay tốt quá, thực sự rất tốt, - Hanna lại nói.
- Sẽ có đủ cả... Nhưng liệu chúng ta có bánh mì không, mình ạ! Nhà mình không có ruộng.
- Người ta có thì mình cũng có. Chỉ cần có người làm thì sẽ có bánh mì, - Hanna đáp.
- Không, Hanna, - Vasyl nói tiếp, mắt vẫn nhắm nghiền, - nếu tôi có mảnh ruộng riêng, nếu tôi có vài đôi bò, lúc đó tôi mới biết chắc là nhà mình sẽ có bánh mì. - Biết làm sao được khi mình không có...
Vẫn nhắm mắt, Vasyl bắt đầu nói như thể đang nói với chính mình:
- Nhiều lúc nhìn thấy cái cày của gia đình nào đó đi trên đồng với ba đôi bò sừng cong màu xám, khi tôi đi sau cái cày của người khác và cắt từng tảng đất đen, ẩm ướt, lòng tôi cứ thắt lại! Tôi nghĩ, giá mà tôi có ba đôi bò như thế và một cái cày thật tốt, thì tôi chẳng cần vương quốc hay quyền quý gì cả. Tôi sẽ chăm sóc chúng như con đẻ của mình! Cho chúng uống nước, cho ăn, thà bản thân nhịn đói. Mùa xuân đến, ngay khi chim chiền chiện bắt đầu hót trên đồng, tôi sẽ chuẩn bị cái cày của mình, và trước tiên sẽ ngắm nhìn lũ bò sừng cong đi từ sân ra đồng, lắc lư đầu... Rồi tôi sẽ cày, cày mãi trên mảnh ruộng của mình hay của người khác, còn mình, em yêu, sẽ xua bò cho tôi và mang bữa trưa ra đồng.
Vasyl hơi mở đôi mắt ngái ngủ, ngước nhìn qua trán lên Hanna. Hanna ngồi đó, khoanh tay và cúi đầu. Có lẽ cô cũng đang khao khát một mảnh ruộng và ba đôi bò...
- Chỉ có Chúa mới biết tôi còn được làm chủ ở nơi đây bao lâu nữa! - Vasyl nói, tay chống cằm. - Không nay thì mai người ta cũng sẽ bắt tôi trở lại quân ngũ, tôi sẽ phải bỏ lại cả cơ nghiệp, bỏ lại mình, định mệnh của tôi, và ai biết được khi nào Chúa mới đưa tôi trở về nhà!
Hanna cảm thấy nhói ở lồng ngực ngay sát con tim; cô thở dài và cúi gầm mặt. Đây không phải lần đầu ý nghĩ đó hiện ra trong đầu cô, nhưng trước đây cô chỉ coi đó là một ý nghĩ suông, vậy thôi!
- Tôi không muốn đi lính lần nữa, - Vasyl nói. - Tôi không thích làm “Moskal”. Xem kìa, công việc của lính tráng cũng chẳng ra gì! Tập luyện xong là chơi bời bao lâu tùy thích. Những tay lính cứ chơi bời, đánh bài, uống rượu. Còn tôi chẳng màng đến chuyện chơi bời đó. Tôi không thích lang thang khắp thế gian, giữa những người xa lạ, trong những ngôi nhà xa lạ. Tôi yêu ngôi làng của mình, cơ nghiệp của mình, ngôi nhà của mình - và yêu mình, định mệnh của tôi.
- Nhưng Vasyl này, anh sẽ sớm trở về nhà lần nữa chứ? - Hanna hỏi.
- Có lẽ anh sẽ về trong chốc lát, còn để phục ngũ xong thì chắc phải đến tận lúc già!..
Ngay lúc đó, đằng sau nhà cạnh cổng, con chó Barbos bỗng sủa vang, như thể sủa đuổi một con sói chứ không phải một con người. Còn bà mẹ già chắc vội vã chạy ra ngăn cản, vì nghe tiếng bà nói: “Đi ra, đồ chết tiệt! Mày không đi đi à, đồ tồi!”. Barbos vẫn cứ sủa, sủa vang rồi tru lên, rên rỉ, như thể đang dắt ai đó bám vào vạt áo đi từ cổng vào đầu hồi nhà. Từ góc đầu hồi, Hanna nhìn qua hàng rào thấy mõm con Barbos há hốc, răng nhe ra, mắt dữ tợn. Con chó tru lên, gầm gừ, như muốn cắn nát hàng rào.
Trên bậc rào hiện ra một cái đầu đàn ông, to lớn, với ria mép dài uốn cong, gương mặt đỏ gay. Đó là viên osavul vùng Momotiv, người chuyên đốc thúc dân đi làm phục dịch cho lãnh chúa.
- Chào nhé, - hắn nói, không bỏ mũ cũng không cúi chào tử tế theo kiểu con người.
- Chào ông, - Vasyl đáp, mặt trắng bệch như tờ giấy.
Trong tâm Hanna cũng cảm thấy điều chẳng lành; cô đứng không vững trên chân. Viên osavul chưa bao giờ báo tin lành cho ai. “Tại sao osavul lại đến nhà mình nhỉ! - bà mẹ nghĩ. - Trong nhà mình, tạ ơn Chúa nhân từ, không có ai phải đi làm nô cả. Chúng ta là những người tự do. Nhưng thôi để ta đi hỏi.” Bà lão bế đứa trẻ đi tới, tựa vào hàng rào và bắt đầu lắng nghe.
- Thôi đừng có giỡn với vợ nữa, anh lính nhỏ! - viên osavul bắt đầu. - Có giấy từ quận gửi về, yêu lệnh ngày mai anh phải lên đường đi Kyiv, nhập ngũ. Liệu hồn đấy! Sáng sớm mai!
Vì những lời đó, ba con người vừa mới đây còn vui vẻ, hạnh phúc, nay đứng sững lại một chỗ như bị sét đánh. Viên osavul nhảy qua bậc rào. Barbos lao vào tiễn hắn ra tận cổng, vừa đi vừa cắn vào chiếc gậy của hắn.
Sau đám cưới của Vasyl, Maryna đã buồn bã suốt mùa thu, buồn bã cả mùa đông, nhưng đến lễ Giáng sinh thì cô đã vui trở lại! Cô lại là người dẫn đầu trong các đám cưới hay các buổi chơi nhạc. Các chàng trai bám lấy cô như ong bám mật, nhưng không ai dạm hỏi, vì các bà mẹ đã cấm họ gửi ông mai đến nhà Maryna.
Maryna lại tươi vui và hay hát! Với những chàng trai bảnh bao cô thường đùa cợt, đứng lại trò chuyện, còn với kẻ xấu xí, đôi khi cô còn tát kín một cái. Trong các buổi chơi nhạc hay đám cưới, Mykola - anh thợ dệt lông mày đen - luôn quẩn quanh bên Maryna, và bắt đầu năng tới lui nhà cô, dẫm mòn cả lối đi... Các bà vợ trong làng bắt đầu xì xào rằng Maryna thế này thế nọ. Maryna chỉ đứng với một chàng trai dưới gốc anh đào, mà tiếng xấu đã đồn khắp làng rằng đám trai làng muốn cắt tóc bím của cô (sỉ nhục gái hư), rằng Maryna sắp trở thành “pokrytka” (gái trẻ lầm lỡ có con hoang). Lưỡi người không để cho Maryna yên, và cô cũng chẳng được bình yên trước những lời đồn đại ấy! - Những kẻ ghen ghét tôi không ngủ, chẳng chợp mắt, - Maryna thường nói, - chúng làm nhục tôi khi còn trẻ. Cứ để chúng phán xét, cứ để chúng nói cho đến thời đến lúc! Tôi muốn thì sẽ có lúc tất cả chúng phải câm họng. Tôi sẽ lấy chồng, bất kể là ai! Để cho những kẻ thù độc ác của tôi phải tức tối, để cho anh thợ dệt phải tức tối, tôi sẽ lấy chồng!
Vào lễ Melanka, đêm trước năm mới, Maryna chạy đi nghe lén dưới cửa sổ với chiếc bánh xèo đầu tiên (tục lệ bói toán).
- Mày không đi đi à, đồ chết tiệt, - bà hàng xóm quát con mèo.
“Mình sẽ đi... sẽ lấy chồng trong mùa cưới này,” - Maryna nghĩ. Kể từ đó, hễ buổi tối đến, Maryna lại sửa soạn và chải chuốt. Chó sủa ngoài sân, cửa hành lang kêu kẽo kẹt là lòng Maryna lại lạnh ngắt... “Mình sẽ lấy chồng để cho kẻ thù và đám trai làng phải tức! Sẽ lấy người đầu tiên xuất hiện. Chẳng lẽ để lũ người độc ác cứ nhạo báng mình mãi sao?! Chẳng lẽ mình không phải là con gái, lại còn không xinh đẹp sao?!.”
Người đầu tiên xuất hiện với Maryna là một tên lính Moskal - kiểu người có rất nhiều trên đời, không xấu cũng không đẹp, đã không còn trẻ, và cô chẳng hề thích hắn. Nhưng Maryna đã nhắm mắt đưa chân, như thể nhảy từ trên cầu xuống nước... Maryna sống với chồng được một tháng, rồi tháng thứ hai, và cô nhận ra rằng mình lấy chồng không phải để làm kẻ thù và anh thợ dệt tức tối, mà là để chuốc lấy bất hạnh cho chính mình! Trẻ trung, tươi vui, hay đùa, cô chưa bao giờ nghĩ rằng sống cả đời với người mình không yêu lại khổ cực đến thế. Cô cứ tưởng chỉ trong những bài hát của phụ nữ người ta mới hát về việc sống với người không yêu, yêu người không yêu, trò chuyện với người không yêu là khổ sở thế nào. Khi đã đội chiếc khăn che đầu của phụ nữ có chồng (ochipok), cô mới thấy rằng đúng là yêu người không yêu thật sự rất khó!
Vào buổi tối, khi ông chồng Moskal của cô đi làm về, vui vẻ và hớn hở, thì với Maryna, cả thế giới như tối sầm lại! Cô buồn bã, trầm tư và đi lại trong nhà như kẻ không hồn, làm việc gì cũng uể oải! Ông chồng đùa cợt, nhìn vào mắt cô âu yếm, nắm lấy tay cô. Nhưng với Maryna, thế giới thật tẻ nhạt! Hắn đặt tay lên cổ cô, mà cô cảm giác như hắn đang quấn dây thừng quanh họng mình; hắn tựa đầu vào vai cô, cái đầu ấy nặng như đá; hắn ta hôn - như một con vật nào đó, lạnh lẽo và trơn trượt, chạm vào gương mặt nóng bỏng và trẻ trung của cô, còn bộ ria mép bù xù của hắn - như một con nhện khổng lồ bò trên mặt cô...
Maryna chỉ còn biết chống chọi lại người mình không yêu bằng ý nghĩ về người mình yêu. Khi ngăn cách giữa cô và chồng là ý nghĩ về Vasyl thân yêu, trong tâm trí cô thấy bộ ria đen, gương mặt trắng trẻo của Vasyl, chỉ khi đó, cô mới thấy bớt ghê tởm. Ý nghĩ nóng bỏng, ngọt ngào đó che chở cô khỏi những trò đùa không mong muốn, khỏi sự ve vãn đáng ghét như thể tránh khỏi một con rắn, ý nghĩ đó mỉm cười với cô và sưởi ấm tim cô như mặt trời mùa xuân. Maryna bắt đầu sống chỉ bằng ý nghĩ đó và ghen tị với Hanna. Nhiều lúc cô đi tới, nhìn Vasyl qua hàng rào, giữa những tán lá xanh của vườn anh đào, và lòng cô thấy nhẹ nhõm hơn. Còn khi chồng cô ra khỏi nhà, Maryna như thấy dễ thở hơn. Như thể vừa thoát khỏi tai họa nào đó! Cô dọn dẹp hăng hái hơn, ánh mắt tươi tỉnh hơn, Maryna tự nhủ:
- Khổ cái thân ta, số phận héo hắt của ta! Ta đã hủy hoại thời con gái tươi vui của mình, ta tự trói buộc đời mình! Chẳng biết khóc hay oán trách ai, chỉ biết trách mình. Đồ ngu ngốc, mày đã tự buộc đầu mình, - cứ tưởng chỉ một chốc lát, mà giờ đây không gỡ ra được suốt đời. Người ta nói phải yêu chồng và không được yêu ai khác. Còn ta thì ghét cay ghét đắng hơi thở của hắn, không chịu nổi dấu chân hắn; hắn ta bước đến đâu là dấu chân ấy cũng thật tồi tệ. Ngồi ăn cùng hắn, miếng bánh mì không trôi nổi vào miệng, nghẹn lại như cát nóng! Bữa tối đắng ngắt như thuốc đắng! Thật khó để sống cùng hắn, nói những lời không yêu, ngồi cạnh hắn!.. Để cho kẻ thù, cho nỗi khổ của ta và cho chồng ta phải tức tối, ta sẽ cứ yêu những chàng trai lông mày đen, ria mép đen!
Và Maryna bắt đầu hát, ngồi bên khung cửi một mình trong nhà. Bài hát ấy không ngắn ngủi, nhanh nhẹn hay tươi vui, mà ai oán, kéo dài, đẫm lệ. Maryna không hát - cô đang than khóc. Cô hát, giọng hát tuôn trào, và cùng với giọng hát là những giọt nước mắt tràn ra. Cô hát hết nỗi khổ, khóc hết nỗi đau, và lòng thấy nhẹ nhàng, tươi tỉnh hơn. Không ai nghe thấy những bài hát ai oán của người đàn bà ấy, không ai nghe lén nỗi khổ của cô để kể cho thiên hạ hay cho chồng cô. Những bức tường câm lặng, những cửa sổ câm lặng; chỉ có cơn gió mùa đông hung dữ, gào thét là mang những gì lọt ra ngoài tường, qua rặng liễu, mang bài hát của người phụ nữ, nỗi đau của người phụ nữ tản mác qua những cây anh đào... Maryna bắt đầu dùng mưu mẹo của đàn bà. Cô dùng những lời lẽ ngọt ngào dỗ dành chồng và tiễn ông ta ra khỏi nhà lúc chỗ này lúc chỗ kia, lúc thì vì công việc thật, lúc thì chẳng vì việc gì. Và ông chồng Moskal luôn phục tùng, vì hắn ta yêu Maryna.
- Anh Mykyta này, anh biết không? - Maryna nói một lần. - Ở các nhà máy vùng Shurshany người ta trả lương cho công nhân cao lắm đó, cao hơn nhiều so với nhà máy đường của mình. Kìa, anh Vasyl Khomenko, chồng chị Hanna, cũng định sang đó làm thuê đấy. Anh ấy làm lụng nên có của: đã mua được bò, lại còn sắp dựng nhà mới nữa.
Thực ra Vasyl chẳng hề nghĩ đến việc sang đó làm thuê, vì nơi đó cách xa tới mười verst, thậm chí hơn. Ông chồng Moskal suy nghĩ hồi lâu rồi nói:
- Nếu tôi đi tới đó, mình sẽ buồn khi không có tôi, còn tôi ở đó cũng sẽ nhớ mình.
- Ô kìa! Tôi có phải trẻ con đâu. Tôi sẽ chạy sang thăm anh, và anh cũng sẽ về thăm tôi. Anh làm ra tiền ở nhà máy, còn tôi ở nhà sẽ kéo sợi cho mình và cho người ta lấy tiền công. Đi đi anh! Tôi khuyên anh điều tốt thôi, - Maryna dùng lời đường mật dỗ dành chồng.
- Có lẽ vậy, - ông chồng nói; gã lấy túi bánh mì và rời nhà đi tới nhà máy. Maryna thấy trong nhà tươi vui hơn, lòng nhẹ nhõm hơn, như thể thế giới lại mở ra lần nữa vì cô. Ông chồng làm việc cả tuần, đến Chủ nhật mới về nhà. Còn với Maryna, ngày thường trở thành ngày lễ, Chủ nhật lại thành ngày thường... Đến Chủ nhật, ông chồng mặc chiếc áo sơ mi trắng, ngồi phía đầu bàn trò chuyện với Maryna. Còn Maryna vừa làm việc cạnh lò vừa nhìn xéo hắn ta, nhìn bộ ria mép hung hung bù xù, đôi môi nhợt nhạt dày cộp, đôi mắt xám và khuôn mặt rộng. “Chẳng lẽ mình từng mơ về người như thế này sao, - Maryna thường nghĩ. - Chẳng lẽ mình từng cùng người như thế này đi qua cầu trong mơ, đứng dưới rặng liễu, đưa đôi tay nhỏ cho hắn? Đâu phải vì một người thế này mà mình đã rửa mặt bằng sương sớm mai, tết bím tóc dài thật tỉ mỉ, chăm chút thêu những chiếc khăn trắng? Đâu phải vì người như thế này mà mình đã nuôi dưỡng vẻ đẹp thời con gái, gương mặt tươi tắn, đôi mắt đen!..”
Sáng thứ Hai, ánh đèn trong ngôi nhà nhỏ của bà Khomykha thắp lên rất sớm. Trong lò lửa cháy bập bùng, trên bậc bếp, những chiếc nồi lớn nhỏ đặt trên than hồng. Hai người phụ nữ trẻ là láng giềng thân thiết đang mổ lợn. Hanna bận rộn bên lò. Dì của Hanna đang làm bánh mì palianytsia trên bàn. Trong nhà oi bức; những người phụ nữ đều khóc sưng mắt. Một người lạ bước vào nhà Vasyl chắc hẳn sẽ nghĩ trong nhà có đám tang hoặc đang chuẩn bị lễ cầu siêu. Họ đang chuẩn bị bữa trưa, khóc lóc và than thở cho người lính sắp sửa lên đường đi xa, đầy hiểm nguy. Bà mẹ già đã khóc cạn nước mắt, giờ không còn khóc nữa. Bà mở hòm, lấy những chiếc áo sơ mi của Vasyl và xếp vào túi; bà áp từng chiếc áo vào mặt, vào đôi mắt khô khốc, không còn lệ. Bà thấy như với mỗi chiếc áo, một phần trái tim bà bị rứt ra và biến mất đâu đó mãi mãi. Trong một chiếc túi khác, bà mẹ xếp bánh mì khô và một ít lương thực. Làm xong mọi việc, họ cho bánh vào lò và ngồi ăn trưa. Vasyl ăn một cách gượng ép, Hanna thậm chí không nhúng thìa, bà mẹ già chẳng thèm nhìn đến bữa ăn. Tất cả ngồi đó và buồn bã. Trong nhà im lặng, không ai nói một lời. Nhìn từ bên ngoài, có cảm giác như những người này vừa mới chôn cất một người cha thân yêu tại nghĩa trang trở về. Một con ngựa nhỏ chạy vào sân, những người đi hành hương xách túi bước vào. Vasyl và Hanna sẽ đi cùng với họ lên Kyiv. Lúc đó, hai người đứng dậy khỏi bàn và bắt đầu sửa soạn lên đường. Những người phụ nữ khóc than như tiễn người chết. Họ đi khỏi cổng làng và bắt đầu từ biệt. Bà mẹ già lao đến bên Vasyl và kêu khóc:
- Vĩnh biệt con trai của mẹ, vĩnh biệt Vasyl! Ai sẽ chăm sóc mẹ lúc già yếu này, ai sẽ chôn cất mẹ đây!
- Đừng khóc, mẹ ơi. - Vasyl an ủi. - Con sẽ về, - mà chính anh cũng không thấy gì vì nước mắt nhòa lệ.
- Không, con ơi! Mẹ già rồi, mẹ sẽ chết mà không được gặp con đâu... - Bà không nói thêm gì nữa, chỉ làm dấu thánh cho con. Những người hành hương quay về phía làng, làm dấu thánh hướng về nhà thờ. Tiếng roi quất nghe vút một cái, con ngựa gồng mình kéo chiếc xe nhỏ. Mọi người lặng lẽ rời đi xuống dốc núi.
Bà cụ Khomykha lại ở lại một mình với đứa cháu nội nhỏ. Bà bước vào nhà, đặt đứa trẻ lên ghế dài, còn bản thân thì ngồi xuống nghỉ ngơi, tay chống lên ghế.
- Giá như mẹ, con ơi, - bà tự nói với mình, - đã không sinh ra con, để không phải chịu nỗi đau thế này vì con! Giá như mẹ đã chôn cất con khi còn nhỏ! Khóc hết một lần, đau khổ một lần rồi sẽ quên...
Trong lúc đó, khi người mẹ tiễn Vasyl ra khỏi làng, trong một khu vườn sát tận cánh đồng, Maryna đang đứng tựa vào hàng rào. Dưới cây lê cao lớn, sum suê, giữa vườn anh đào xanh mướt, người ta không thể nhận ra cô từ phía con đường. Ngược lại, cô nhìn thấy qua hàng rào, qua những cành lá xanh, cả cổng làng và con đường xa tít tắp lên núi, tận sát bìa rừng. Trước đó một hai tiếng, cũng qua cổng làng ấy, Maryna đã tiễn ông chồng Moskal của mình lên đường cùng những người hành hương khác. Cô cũng đã xếp đầy túi đồ cho gã đi đường, và cũng hơi buồn, vì chồng cô là người tốt, không độc ác. Nhưng cô không rơi nước mắt vì gã, mà vì một người khác, của người khác... Maryna đứng dưới cây lê và nhìn qua bụi cây cơm cháy về phía cổng làng, phía con đường. Từ sân nhà Khomenko, một nhóm người bước ra. Maryna bỗng tái mét, chết lặng và lạnh ngắt. Qua hàng rào, cô thấy tất thảy: thấy những người hành hương đứng ngoài cổng làng, thấy cảnh họ từ biệt nhau. Cô thấy nước mắt của Vasyl, qua chính những giọt nước mắt của mình đang chảy thành dòng từ đôi mắt đen. Không chỉ trái tim người mẹ, không chỉ linh hồn Hanna đau đớn vì Vasyl. Giữa rặng anh đào, sau bụi cơm cháy, còn có một linh hồn khác đang đau, một trái tim thứ ba đang nhức nhối. Và chỉ có Chúa mới biết, trái tim nào trong số họ đau đớn nhất.
Những người hành hương đã đi xa làng một chút, và Vasyl ngoái lại một lần nữa để nhìn ngôi làng, nhìn ngôi nhà của mình, nhìn bà mẹ già, nhìn đứa con trai yêu quý. Maryna lấy tay áo lau mắt và dán mắt vào gương mặt anh, vào đôi mắt, vào đôi lông mày của anh. Người yêu chưa bao giờ có vẻ yêu dấu, quý giá đến thế như vào chính giờ phút chia ly và mất mát! Maryna chưa bao giờ thấy Vasyl đẹp như lúc này. Cô sẵn sàng đổi tất cả trên đời để được đứng mãi sau hàng rào này và dù chỉ được nhìn anh từ xa. Và cô thầm nghĩ: “Giá mà có thể bùa chú hay bỏ ngải để anh ấy biến thành đá, đứng mãi ở nơi đó, còn mình cũng biến thành đá ở nơi này! Để mình chỉ được nhìn gương mặt trắng trẻo, mái tóc xoăn đen, đôi mắt đen của anh ấy; nhìn mãi mãi và không bao giờ ngừng nghỉ!..”
Nhưng Vasyl không biến thành đá; anh quay lưng đi và lặng lẽ bước theo mọi người trên con đường đắp. Đoàn người đã lên tới đỉnh núi và đang tới gần rừng, còn Maryna vẫn đứng đó, tựa vào hàng rào, không rời mắt khỏi Vasyl. Những người hành hương rẽ vào khu rừng thưa; sau những bụi cây xanh lúc ẩn lúc hiện bóng người, bóng ngựa, bóng xe. Maryna vẫn dùng ánh mắt đuổi theo người yêu của mình. Sau bụi cây, lúc thì cái đầu, lúc thì bờ vai, lúc thì mái tóc xoăn đen hiện ra, còn Maryna như bị ai bóp nghẹt trái tim. Sau đó con đường rẽ vào rừng rậm, và nhanh chóng tất cả như chìm nghỉm và đi xuống đáy ở đâu đó trong biển xanh. Maryna bám chặt vào cọc rào bằng cả hai tay, gục đầu xuống hàng rào và thổn thức thật lâu, than khóc, tưới đẫm hàng rào khô khốc bằng những giọt nước mắt nóng hổi...
Và rồi ngôi nhà của Khomykha lại trở nên tĩnh lặng và buồn bã. Một lần nữa vào lúc chiều tà, mặt trăng lại nhìn qua những ô cửa sổ nhỏ, ống khói trắng hiện ra, các vị thánh trên tranh thờ mờ ảo. Bà cụ Khomykha nửa ngủ nửa thức, nửa mơ nửa tỉnh. Không còn gương mặt của người vợ trẻ mỉm cười với bà từ góc nhà, không còn lũ cháu vui vẻ quấn quýt xung quanh. Mọi thứ đã qua đi đối với bà lão! Bà thấy như giữa ban ngày cảnh nhà máy Shurshany hiện ra, và xung quanh nhà máy toàn là những viên cai tổng và cai mười như một đội quân vây quanh. Một số kẻ đứng ở cửa ra vào, cửa sổ để bắt các chàng trai ở nhà máy đi lính. Bà nhớ ra rằng Vasyl dường như đang ở trong nhà máy đó, và linh hồn bà lạnh ngắt khi nhìn thấy một số chàng trai nhảy ra khỏi cửa sổ như lũ gà bị hoảng sợ nhảy khỏi chuồng. Giữa họ, bà nhận ra Vasyl của mình. Vasyl chạy hết sức bình sinh, còn các viên cai mười đuổi theo sau. Anh hướng về phía rừng, các viên cai mười đã sắp sửa bắt kịp... Một kẻ tóm lấy vạt áo. Vasyl ngã xuống đất, mười kẻ đè lên anh; chúng trói tay anh và đóng gông. Trái tim bà lão Khomykha lạnh ngắt; cả thế giới - cả nhà máy, khu rừng, bầu trời - tất cả đều rung chuyển quay cuồng. Bà cảm thấy như mình đang chết đi... và đã chết... Bà tỉnh dậy mà không phân biệt nổi mình còn sống hay đã chết, đang ở thế giới này hay đã sang thế giới bên kia.
Hanna trở về từ Kyiv, mặt tái nhợt như chết, gương mặt hốc hác, đôi mắt trũng sâu. Cùng với người chủ gia đình, Hanna như tiễn luôn cả vận may ra khỏi nhà, và rước lấy bất hạnh vào mình! Cô làm việc cho cả bản thân, cho con và cho bà mẹ già. Nhưng mang theo con thì người ta không nhận làm việc, cũng không thể vào làm ở nhà máy. Mà bỏ con thì chẳng biết gửi ai, thuê vú em thì không có tiền, cho người khác thì lòng mẹ đau xót! Bà mẹ già thì Chúa đã đón đi rồi. Hanna nhận gai và lanh của người ta về và bắt đầu kéo sợi đổi lấy bánh mì và tiền công. Liệu cái bánh mì đó có ích gì không, khi nó được xoay bằng những nắm sợi và thoi quay! Cần phải mặc, phải đi giày, nuôi mình và nuôi con, cần phải sưởi ấm ngôi nhà, và cũng thương xót cho Vasyl. Mỗi khi anh gửi tin về, Hanna lại tươi tỉnh hơn, như sống lại. Và nghĩ đến số phận của anh, cô lại lấy từ hòm ra một đồng rúp hoặc hai đồng để gửi đi. “Đây là thành quả của anh ấy, - cô thường nói, - hãy để anh ấy được hưởng dùng! Còn mình khỏe mạnh - mình sẽ làm ra. Có bán cả chiếc khăn cuối cùng mình cũng sẽ gửi cho anh ấy nơi đất khách quê người...”
Những ngày Mùa chay Thánh Philip không vui vẻ và ngắn ngủi, còn những đêm dài dằng dặc như biển khơi lại càng buồn hơn! Ngày giống như buổi chiều, còn buổi chiều lại giống đêm đen. Ở các góc nhà, từ sáng đến tối luôn có các linh hồn người già đứng đó; ngày này tối tăm, ngày hôm sau còn tối tăm hơn, đêm này đen đặc, đêm hôm sau còn đen đặc hơn. Trên trời mây dày, dưới đất sương mù đậm. Gió hú như thú dữ, rít dưới mái tranh, qua hàng rào, gầm gừ buồn bã nơi lỗ thoát khói. Hanna ngồi cạnh cửa sổ bên khung cửi, còn bé Ivas ngồi cạnh cô. Từ sáng sớm đến tối mịt, tiếng thoi quay vù vù trong nhà và tiếng lanh kêu răng rắc trên khung cửi. Chỉ có một bài hát để người phụ nữ trẻ tự an ủi mình. Nhưng bài hát đó mới buồn bã làm sao! Ai oán hơn cả nỗi đau, sầu thảm hơn cả nỗi buồn, đắng cay như chính nỗi khổ cực! Và không ít lần, vào một số bài hát, Hanna lại thêm vào những lời về nỗi khổ của mình, về người yêu lông mày đen của mình - người đã đi tới phương trời xa xôi.
Niềm an ủi duy nhất của cô là đứa con. Có lúc cô bỏ khung cửi, bế con vào lòng, vỗ về, ôm ấp, tưới đẫm nước mắt, trò chuyện với con. Còn đứa trẻ nhỏ, nhìn mẹ, cũng sẽ mếu máo, bĩu môi rồi oà khóc nức nở như người lớn. Và mỗi khi đến Chủ nhật hay ngày lễ, ngay khi tiếng chuông vang lên, Hanna lại đi đến nhà thờ trước tất cả mọi người. Ngoài trời thời tiết xấu và đêm tối, gió thổi mạnh, nhưng Hanna không màng, cô đi đến nhà thờ. Ởđâu đó trong một góc tối cô độc trong nhà thờ, trong khi thầy phó tế đọc kinh trên bục, cô quỳ lạy và cầu nguyện cho chồng mình.
Trong khi đó, trong nhà dần trống rỗng, trong kho và ngoài sân cũng trống rỗng, vì người ta vẫn nói rằng, không có gia chủ thì cái sân cũng biết khóc. Phận đàn bà chỉ còn lại cái móc bếp và thoi quay. Liệu xoay thoi được bao nhiêu? Bánh mì của góa phụ và trẻ mồ côi thật cay đắng! Từ đó đến cái chết vì đói chẳng xa. Hanna bắt đầu dần bán đi một số thứ trong gia sản. Cỏ khô và rơm đã hết: phải bán bò. Con bò thì gầy, gầy lắm, đứng không vững trên chân! Hai bên sườn lõm vào, lông dựng đứng như bàn chải, xương sườn hiện rõ có thể đếm được, chân gầy như ống sậy, đúng kiểu súc vật của nông dân vào mùa đông. Đến mùa xuân người ta phải dùng gậy bẩy nó mới đứng dậy nổi. Cô dắt bò ra chợ. Những người Do Thái xem xét con bò từ mọi phía và đưa ra cái giá khiến Hanna trào nước mắt. Chẳng còn cách nào khác! Khổ cực và túng quẫn bủa vây khắp phía. Bán mà như cho không!
Hanna bán hết những gì dư thừa trong hòm, vài chiếc khăn của bà cụ quá cố, vài chiếc váy, nhưng không có gì khiến cô tiếc nuối bằng những chiếc khăn thêu. Cô lấy chúng ra khỏi hòm, trải khắp mặt bàn, treo lên các bức tranh thờ, lên tường, để ít nhất được ngắm nhìn cho thỏa. Những chiếc khăn đều rất đẹp, trắng tinh, thêu hình đại bàng và hoa bia đỏ. Hanna đứng lùi lại, tay chống cằm, ngắm nhìn những chiếc khăn, nhớ lại thời con gái của mình:
- Những chiếc khăn thêu của ta ơi! Chẳng lẽ ta đã không làm trắng các ngươi đủ sao, mà ta phải dâng các người cho định mệnh và bất hạnh của mình, cho số phận héo hắt của mình! Ta đã dệt các ngươi, mất ăn mất ngủ, làm trắng các ngươi trên đồng cỏ xanh dưới tán kalyna đỏ; ta đã nhúng các ngươi khi chim họa mi bắt đầu hót. Ta đã trao các ngươi cho người yêu, nhưng có lẽ, bất hạnh của ta lúc ấy đã đứng trong nhà giữa những ông mai rồi!
- Những chiếc khăn của ta ơi, dệt bằng sợi tơ! Cùng với các ngươi, ta đã đợi người yêu lông mày đen của mình; ta đã trải các ngươi dưới ánh trăng tròn để người yêu ta đẹp như trăng trên trời, để cuộc đời ta trong sáng như những ngôi sao sáng. Ta sẽ không bao giờ bán các ngươi đâu! - Niềm vui duy nhất của ta là được nhìn các ngươi và nhớ lại thời con gái, thời được dạm hỏi, được ve vãn của mình. Ta không bán đâu, không bán đâu!..
Mùa thu đầy mây ngoài trời, trong ngôi nhà nhỏ của Hanna thật buồn bã. Hanna ngồi bên khung cửi và mải mê với những suy nghĩ. Trong nhà tĩnh lặng như một nơi hoang vắng. Con mèo ngồi trên lò, mắt nhắm nghiền, con gà trống nấp dưới sàn gỗ, lim dim ngủ, cánh rũ xuống. Ngay cả đứa trẻ cũng ngồi yên, không nghịch ngợm, trầm ngâm và cúi đầu. Những bức tường buồn bã, những ô cửa sổ đẫm lệ, cái lò sưởi cũng như đang mải mê suy nghĩ...
Đúng lúc đó, ở cả ba ô cửa sổ cùng lúc thấp thoáng bóng đầu một người phụ nữ quấn khăn đỏ. Cửa hành lang và cửa nhà cùng lúc kêu kẽo kẹt, và giữa nhà, trước mặt Hanna, Maryna hiện ra như một tia chớp rơi xuống từ ống khói.
- Chào buổi tối, Hanna! - cô cất tiếng lớn, vang dội khắp nhà, như tiếng một chiếc cốc thủy tinh rơi xuống đất.
Hanna run rẩy cả người, như thể bị dội nước lạnh. Đứa trẻ giật mình và khóc nấc lên. Con mèo từ trên lò nhảy bổ xuống dưới sàn, như thể bị ai quất roi, còn con gà trống thì kêu quang quác, vỗ cánh phành phạch và cất tiếng gáy. Đâu đó trong góc nhà một con ruồi vo ve. Maryna tươi vui đã làm xao động ngôi nhà đang ngái ngủ; mọi sinh linh trong nhà lại hồi sinh, thức tỉnh, xôn xao, ồn ã. Trên những bức tường buồn bã, nơi những góc tối tăm, sự vui vẻ tuôn trào như những làn sóng, như thể một tia nắng xuân vừa bay vào nhà và cùng lúc bừng sáng mọi ngóc ngách. Cái lò sưởi nhìn cũng vui hơn, cửa sổ trông cũng sáng sủa hơn. Vẻ đẹp của Maryna làm bừng sáng ngôi nhà nghèo nàn, như bụi kalyna đỏ thắm làm đẹp cả khu rừng xanh. Kể từ khi Hanna lấy Vasyl, giữa hai người bạn như thể đã bị một kẻ xấu nào đó dựng hàng rào ngăn lối. Có lần Hanna ghé thăm Maryna, nhưng cuộc trò chuyện giữa họ đã trở nên gượng gạo, không còn chân thành nữa.
Nhưng khi Hanna chỉ còn lại một mình trong ngôi nhà với số phận bất hạnh, Maryna lại tìm đến gắn bó với Hanna; cô thấy xót thương khi nghe tin Hanna cứ khóc lóc, buồn khổ thui thủi một mình trong ngôi nhà nhỏ. Không cầm lòng được - Maryna đã chạy đến!
- Này vợ trẻ! - Maryna nói liến thoắng. - Hãy sợ Chúa hay vị thánh nào đó đi chứ! Hãy nhìn lại mình xem, - Maryna vừa nói vừa xoay người Hanna về phía cửa sổ và nhìn thẳng vào mắt cô. - Gương mặt bạn hốc hác, mắt trũng sâu, bạn tái nhợt như cái chết. Vẻ đẹp của bạn đâu mất rồi? Chỉ còn cái bóng của bạn đang ngồi đây bên khung cửi thôi!..
- Vì tôi buồn, tôi khóc, tôi làm việc, đêm không chợp mắt, - Hanna đáp.
- Mặc kệ cái công việc chết tiệt ấy đi! Chẳng lẽ bạn muốn chôn vùi mình bên cái khung cửi này mãi sao?
Như một cơn lốc, Maryna giật lấy nắm sợi trên khung cửi và ném lên phía ống khói: nắm sợi mắc vào những thanh gỗ trên ống khói và rũ bộ râu dài của nó xuống một cách kỳ dị, khiến đứa trẻ bật cười. Cái lược dệt bay xuống dưới sàn, cái bàn dệt lăn lông lốc lên tận mái, đập vào xà nhà rồi rơi uỵch xuống trần.
- Maryna! Bạn làm cái gì thế, như trẻ con vậy! Tôi không thích những trò đùa như thế đâu, - Hanna nói.
Đỏ rực như lửa, vui vẻ như trẻ nhỏ, Maryna nắm lấy tay Hanna và bắt đầu đùa nghịch, xoay tròn khắp nhà.
- Maryna! Đồ vợ trẻ điên khùng! - Hanna vùng vẫy. - Hôm nay là ngày thứ Sáu thánh! Bỏ ngay cái trò nhảy múa ấy đi: lúc này tôi không tâm trí đâu mà nhảy múa!
Nhưng Maryna vẫn nhảy điệu tropak và còn hát theo: Khi tôi còn trẻ - còn là cô gái đoan trang, Tôi treo chiếc tạp dề bên ô cửa sổ. Ai đi qua cũng gật đầu, ai đi qua cũng nháy mắt!
- Hanna! Em gái ơi! Chẳng lẽ bạn muốn hủy hoại cuộc đời mình, phí hoài những năm tháng tuổi trẻ sao; chẳng lẽ bạn không tiếc vẻ đẹp của mình, gương mặt trắng trẻo, đôi lông mày thanh mảnh sao!
- Vẻ đẹp ấy để làm gì khi không có Vasyl của tôi ở đây. Nó sẽ nở rộ vì ai cơ chứ? Cứ để gương mặt tôi héo hon, đôi mắt tôi trũng sâu, lông mày tôi nhạt nhòa, vì chẳng còn ai nhìn chúng nữa.
- Ôi nghe này Hanna, nghe cái đứa khờ khạo này nói đây! Vasyl của bạn chưa chết, cũng chẳng mất đi đâu, có lẽ anh ấy sẽ sớm về thôi! Mà trên đời này đâu chỉ có một đôi lông mày đen, đâu chỉ có một đôi mắt rực lửa. Có đôi lông mày đen, lại có đôi đen hơn; có đôi mắt rực lửa, lại có đôi cháy bỏng như ngọn lửa; có một trái tim ấm áp, lại có trái tim khác ấm áp hơn.
Chính Maryna cũng thở dài sau lời mình nói, vì cô nhớ ra rằng trên đời này có một trái tim ấm áp nhất, một đôi mắt đen nhất, một linh hồn yêu dấu nhất.
- Chúa mới biết bạn đang lảm nhảm cái gì đấy, Maryna! - Hanna đáp. - Tôi chỉ thấy hạnh phúc khi đến nhà thờ và cầu nguyện với Chúa cho Vasyl của mình thôi...
- Còn tôi thì vừa cầu nguyện Chúa, vừa ngắm nhìn các chàng trai! Tôi thấy tiếc cho vẻ đẹp thanh xuân của mình, cho mái tóc bím của mình. Cứ để gương mặt tôi nở hoa, không được héo hon, lông mày không được nhạt nhòa! Hãy để những chàng trai trẻ đẹp yêu tôi! Tôi còn trẻ, tôi muốn tận hưởng cuộc đời này, muốn được hạnh phúc và vui vẻ. Đó mới là hạnh phúc của tôi, Hanna ạ, khi buổi tối tôi đứng dưới gốc cây anh đào chờ đợi người yêu lông mày đen của mình, khi anh ấy huýt sáo ba lần sau ao giữa những rặng liễu để báo tin cho tôi. Lúc đó tim tôi và hồn tôi đều lặng đi! Vừa thấy tuyệt vời, vừa thấy sợ hãi, tôi tựa mình vào cây anh đào... Rồi tôi nghe thấy tiếng xào xạc qua hàng rào, tiếng lá bí đỏ xì xào, những cây ngô cao và hướng dương đu đưa. Và người yêu tôi hiện ra từ đó, như vầng trăng sáng mọc lên, tiến lại gần tôi, trái tim tôi lịm đi, tan chảy... Chẳng lẽ đó không phải là hạnh phúc sao, Hanna, khi buổi tối được ôm người yêu, nghe chim họa mi hót? Chẳng lẽ đó không phải là định mệnh sao, khi người yêu ôm mình sát vào lòng, khi được nhìn vào mắt anh ấy, hôn lên đôi lông mày, đôi mắt anh ấy?
Maryna đặt cả hai tay lên vai Hanna và tựa đầu vào vai bạn.
- Thôi đi Maryna, - Hanna đáp. - Những trò đùa cợt ấy không dành cho tôi! Đôi lông mày đen và đôi mắt ấy không dành cho tôi. Tình yêu và sự ve vãn của tôi đã qua rồi! Hạnh phúc của tôi đã theo Vasyl đi tới phương trời xa.
- Nhưng bạn đã được sống với người mình yêu rồi, Hanna ạ! Còn tôi lấy chồng là người tôi không yêu, tôi sẽ không bao giờ biết được hạnh phúc như số phận đã dành cho bạn... Tôi chưa được yêu cho thỏa, chưa được vui cho trọn! Tạm biệt Hanna, - Maryna nói, - đến lúc phải về nhà rồi. Tối mai ghé nhà tôi nhé Hanna, chúng ta sẽ trò chuyện, đùa vui, tự an ủi mình một chút.
Sương mù mùa thu dày đặc bao phủ khu rừng vào lúc chiều tà. Trong làng tĩnh mịch, đường xá vắng tanh. Mặt trăng chiếu sáng như chỉ được lọc qua một chiếc rây; gió đung đưa những ngọn liễu trụi lá. Maryna mời các cô gái đến nhà mình tụ họp (vechornytsi):
- Các chị em ơi! Tối mai hãy đến nhà tôi tụ họp nhé! Tôi còn trẻ mà phải sống một mình trong nhà buồn lắm. Ngày lại ngày, năm lại năm trôi qua vô ích! Chỗ nằm trắng tinh, bức tường câm lặng, chẳng có ai để nói một lời. Ngày đến - tôi lo âu, đêm về - tôi buồn bã. Đến nhé các cô gái!
- Được thôi Maryna, chúng tôi sẽ đến! - các cô gái đáp.
- Tôi sẽ mời ban nhạc ba nhạc cụ đến, sẽ dụ các chàng trai đến đầy cả nhà, cả phòng, thậm chí đầy cả sân! Người này tôi gật đầu, người kia tôi nháy mắt, họ sẽ lao đến chỗ tôi như những con đại bàng, như những con chim ưng. Tôi sẽ mở to cổng, sẽ đợi các bạn, sẽ ngóng qua cửa sổ. Nhớ đến nhé, các cô gái yêu quý!..
- Được rồi Maryna, chúng tôi sẽ đến, sẽ đến!..
Sương mù dày đặc cuộn tròn nơi khe núi; trong làng càng tĩnh lặng hơn; mặt trăng khó khăn lắm mới ló ra sau đám mây dày, như thể chiếu sáng qua một tấm vải lanh. Maryna hễ gặp các chàng trai ở đâu là mời họ đến tụ họp:
- Các chàng trai ơi! Tối mai nhà tôi có tụ họp nhé! Nhà tôi ở rìa làng, nằm trong vườn anh đào, sân thì đầy cây anh đào ngọt, không có chó dữ đâu. Hãy ghé qua đó nhé các anh, đừng bỏ qua tôi! Nếu các anh bỏ qua nhà tôi - thì đừng có mà chạm vào tôi!
- Được thôi Maryna, chúng tôi sẽ đến nếu có các cô gái! - các chàng trai đáp. - Khu rừng không có chim họa mi hót thì không phải là rừng; buổi tụ họp không có các cô gái thì không phải là tụ họp! Nhà của tôi, còn âm nhạc của các anh. Bình và chén của chúng tôi, bữa tối của chúng tôi, còn rượu mật, rượu mạnh, bánh thuốc phiện và bánh gừng là của các anh. Bản thân tôi thì trẻ trung, luôn sẵn lòng vui chơi! Đừng nhìn chiếc khăn quàng trên đầu tôi nhé các anh! Trái tim tôi vẫn là con gái. Gương mặt tôi chưa héo hon, đôi lông mày chưa nhạt nhòa. Tôi yêu tiếng hát, yêu trò đùa, yêu bộ ria đen và ánh nhìn của đại bàng! Đừng bỏ mặc tôi nhé các anh! Nếu các anh bỏ qua nhà tôi thì đừng có mà chạm vào tôi!
- Được thôi Maryna, chúng tôi sẽ đến, sẽ đến!
Mặt trăng trôi ra từ sau làn sương dày lên bầu trời xanh; gió lặng dần, chỉ khẽ làm xào xạc những chiếc lá khô. Ngoài trời trở nên sáng và ấm hơn. Maryna mời Vasyl, chàng trai khôi ngô nhất làng, đến tụ họp:
- Hãy đến nhé Vasyl thân yêu, tối mai hãy đến chỗ em! Chỗ em sẽ có các cô gái nhiều như sao trên trời; sẽ có các chàng trai nhiều như hoa anh túc trong vườn. Chúng ta sẽ chơi đùa, hát ca, nhảy múa, tự làm mình vui vẻ. Hãy đến nhé, trái tim của em! Hãy đến nhé Vasyl thân yêu! Vì anh, em sẽ diện đồ như ngày lễ Phục sinh! Em sẽ rửa mặt ba lần trong chậu bằng nước mát, sẽ đeo mười vòng chuỗi hạt tốt với đồng tiền ducat, sẽ đi đôi ủng đỏ. Chúng ta sẽ nắm tay nhau, cùng đi dạo trong nhà. Hãy đến nhé, định mệnh của em! Hãy đến nhé, định mệnh của em! Chỗ em sẽ có đồ ăn đồ uống! Bữa tối của em ngon, ngôi nhà của em ấm.
Maryna nâng cằm chàng trai lên, hôn ba lần thật kêu vang đến tận những rặng liễu, rồi lao đi như gió qua những khu vườn, và cái bóng đen của cô chạy theo sát gót trên hàng rào.
Tối thứ Bảy, tiếng chuông làng Momotiv vang lên buồn bã và ai oán. Gió thổi mạnh trên các con đường, tuyết nhỏ rơi từ trên trời. Không có ai trong nhà thờ. Một mình Hanna bước ra từ nghĩa trang, như bóng của một thây ma, lảo đảo bước đi ven các hàng rào. “Maryna chẳng phải đã mời mình đến sao, - Hanna nhớ lại. - Mình sẽ ghé qua một chốc, ngồi chơi, trò chuyện. Hôm nay mà làm việc thì phải tội,” - Hanna nghĩ và rẽ vào nhà Maryna.
Trong lò nhà Maryna lửa cháy bập bùng, ánh sáng tỏa ra, tuôn trào thành từng làn sóng từ cả ba ô cửa sổ, soi sáng những rặng liễu và cây anh đào. “Maryna chắc đang đợi mình, - Hanna tự nhủ, - chắc là đang nấu bữa tối,”. Cô mở cổng và kinh ngạc. Trong nhà tiếng ồn ào như ong trong tổ. “Chẳng lẽ mình nhầm đường, - Hanna nghĩ và bước ra sân, - không!.. Đúng là sân và cổng nhà Maryna rồi. Vào nhà thôi.”
Hanna bước vào và đứng sững như trời trồng. Trong nhà sáng trưng như giữa ban ngày. Một chiếc đèn dầu và hai cây nến đang cháy, trong lò lửa cháy bập bùng và nhấp nhô những làn sóng vui vẻ trên các bức tường trắng. Trên ghế dài, trên sàn gỗ, trên lò sưởi, đám trai gái ngồi đông nghịt như một đám mây! Tiếng cười, tiếng cười sảng khoái, trò đùa và tiếng hát! Trên hòm gỗ các nhạc công đang ngồi. Giữa nhà, diện đồ như ngày lễ, Maryna đi lại kiêu sa như một con công và ngó vào lò sưởi.
- Ôi Hanna, tôi đợi bạn mãi! - Maryna reo lên. - Các nhạc công ơi, hãy chơi nhạc thật rộn ràng và tươi vui đi! Các cô gái ơi, hãy hát về vận may, về hạnh phúc đi.
- Cái gì thế này Maryna, - Hanna đáp. - Bạn đang tổ chức đám cưới hay sao? Bạn định gả ai, cưới ai thế?
- Tôi đang cưới vận may của mình, đang gả định mệnh của mình đây! Chơi đi các nhạc công, đừng ngơi nghỉ!
Các nhạc công chơi điệu metelytsia. Maryna, đang cầm chiếc móc bếp trong tay, cứ thế lao đi và kéo theo cả Hanna. Hanna đẩy cô ra và đứng xa một quãng.
- Nếu bạn không muốn thì tôi nhảy một mình! - Maryna nói. - Tôi sẽ dùng điệu tropak để xua tan nỗi khổ, sẽ dùng chân dẫm nát nó! Chơi đi các nhạc công, không thì trả lại tiền đây! - Và cô hát theo: Ôi tôi sẽ đi nghe nhạc, Nếu cha cho năm xu - Tôi sẽ xoay tròn mãi mãi Và nhảy điệu tropak! Dậm dậm đôi chân nhỏ, Kêu lanh lảnh những chiếc móng sắt! Hợp - chúc - ha! tropak! Vì từ khi sinh ra tôi đã thế rồi!
Mykola, anh thợ dệt, lao đến chỗ Hanna và muốn kéo cô vào nhảy.
- Cút đi, đồ tồi! - Hanna gắt lên dữ dội khiến cả nhà im bặt, cả đám trai gái đều nín lặng. - Đây là lần cuối cùng tôi đặt chân vào nhà bạn, - Hanna nói. - Tôi sẽ không bước qua ngưỡng cửa nhà bạn nữa đâu, Maryna!
Hanna sập cửa mạnh đến nỗi cửa sổ cũng rung lên bần bật. Đám con trai cười ồ lên, còn anh thợ dệt mở cửa và gọi với theo:
- Xì, đồ điên - đồ moskovka khùng! Chẳng lẽ bạn định tu hành hay định đi làm nữ tu đấy à!
Buổi tụ họp tan. Như một cơn lốc, Maryna lao vào dọn dẹp, quét tước, rũ bụi và lau rửa. Cô trải khăn lên bàn, dọn giường, đổ nước vào chậu gỗ để gội đầu, vì hôm đó là thứ Bảy. Maryna ngồi ở đầu bàn, chải bím tóc. Bím tóc đen dày xõa xuống như làn sóng đen trên chiếc áo sorochka trắng, trên khăn trải bàn. Cô chải tóc, và mái tóc dày bóng loáng lên. Maryna trầm ngâm; bàn tay cầm lược sượng lại trên bím tóc... Bên tai vẫn vang tiếng trống, tiếng vĩ cầm kẽo kẹt, trước mắt vẫn chập chờn những đôi lông mày đen, đôi mắt đen của các chàng trai. “Thời con gái tươi vui ngắn ngủi làm sao! Mình chưa chơi cho thỏa, chưa hát cho trọn! Hãy quay trở lại đi, những năm tháng tuổi trẻ con gái của ta! Giá mà ta biết loại cỏ nào có thể làm năm tháng quay lại, giá mà ta biết bà thầy cúng nào có thể hóa giải nỗi khổ của mình, trả lại thời con gái cho mình, ta sẽ đi tới tận cùng thế giới, không bao giờ dừng lại!”
Maryna thắp một cây nến, đặt chiếc gương nhỏ lên bàn, mở hòm và lấy ra chiếc khăn đội đầu (kybalka) có hoa, có ruy băng, có vòng hoa - chính là chiếc kybalka mà cô đã đội khi đứng làm lễ cưới trong nhà thờ. Trước chiếc gương nhỏ, cô đội chiếc kybalka lên đầu. Những dải ruy băng đỏ, xanh dương và xanh lá cây chìm vào bím tóc đã chải kỹ. Maryna nhìn mình trong gương, và nước mắt tuôn rơi. Trong gương là đôi mắt đen lấp lánh, đôi lông mày đen, và cái đầu nở hoa. Bông hoa anh túc đầu tiên trong vườn cũng không đẹp bằng Maryna trong hoa và ruy băng. Maryna xoay người sang một bên, bím tóc đen cùng những dải ruy băng phất phơ rồi xõa xuống vai và ngực. Trái tim Maryna lịm đi.
Maryna thấy ngột ngạt; ở thái dương như có ai dùng búa nhỏ gõ vào, đầu óc quay cuồng; cô muốn hát, muốn vui chơi, muốn đi đâu đó, tìm kiếm một hạnh phúc nào đó. Cô cảm thấy mình chưa chơi đủ, chưa nhảy múa đủ. Ánh trăng dịu dàng quyến rũ cô như tiếng hót của chim họa mi. “Mình sẽ ra vườn và nhớ lại thời con gái, thời được ve vãn của mình,” - Maryna nghĩ. Ngoài trời đã yên tĩnh và ấm hơn; làn gió nhẹ khẽ làm xào xạc những chiếc lá anh đào khô; mặt trăng tròn nhưng không sáng tỏ đang đứng trên cao. Maryna nhìn những cây anh đào trụi lá, chúng nhắc nhở cô rằng vẻ đẹp của cô cũng sẽ có lúc tàn phai như lá anh đào.
- Hỡi gió, hãy làm tung bẩy bím tóc đen ngang lưng tôi! Các ngôi sao ơi, hãy nhìn đôi lông mày của tôi, những bông hoa của tôi! Còn trăng ơi, hãy nhìn gương mặt tôi, vẻ đẹp của tôi. Và nếu trăng thấy người tôi yêu ở phương trời xa, hãy nhắc anh ấy nhớ về tôi, hãy mang đến cho anh ấy ít nhất một giấc mơ về tôi.
Ánh đèn vẫn cháy trong nhà. Maryna không ngủ được. Tiếng trống vẫn vang xa xả trong tai, tiếng vĩ cầm kẽo kẹt, trước mắt chập chờn những gương mặt tươi vui. Bỗng nhiên trong tâm trí cô hiện lên gương mặt giận dữ của Hanna. “Chúa ơi! Mình đã làm gì thế này, - Maryna nghĩ. - Bạn ấy đã nói sẽ không bước qua ngưỡng cửa nhà mình nữa. Mình đã làm người bạn cũ thân yêu của mình nổi giận rồi.” Maryna đứng dậy, cứ thế đội nguyên hoa và ruy băng, khoác vội chiếc áo da cừu và lao đến nhà Hanna giữa đêm muộn.
- Hanna, bạn ngủ chưa, - Maryna gõ cửa sổ hỏi.
- Chưa, tôi chưa ngủ; vào nhà đi, - Hanna đáp. Trong nhà sáng nhờ ánh trăng. Hanna nhìn và làm dấu thánh, cô cứ tưởng đó là bóng ma.
- Đừng sợ Hanna! Là tôi đang sống lại thời con gái dưới ánh trăng và các vì sao đây. Tôi quên chưa tháo hoa ra khi nhớ lại là đã làm bạn buồn: thế là tôi lao ngay đến chỗ bạn.
- Bạn đã nhạo báng tôi, Maryna ạ! - Hanna nói. - Mai là Chủ nhật thánh, tôi đã ở nhà thờ, - đã cầu nguyện Chúa cho mình, cho chồng, cho bạn và cho tất cả mọi người. Vậy mà bạn lại dắt tôi đến buổi tụ họp. Một nữ tu ở Lebedyn đã nói với tôi: kẻ nào không đi nhà thờ hoặc vui chơi trước ngày lễ, dưới kẻ đó đất sẽ bốc cháy sâu bảy tầm. Bạn đang làm gì thế Maryna? Hãy tỉnh lại đi! Chẳng lẽ bạn còn nhỏ hay sao? Bạn không biết rằng phụ nữ có chồng mà diện đồ con gái là có tội sao? Chẳng lẽ bạn diện ruy băng và hoa cho con quỷ perelesnyk sao?
- Tha lỗi cho tôi, Hanna thân yêu! Tôi mải chơi quá nên quên mất mai là Chủ nhật. Thật không biết phải làm sao...
- Bạn dắt tôi đến giữa đám con trai, - Hanna nói tiếp, - hãy để chúng xuất hiện trong mơ của các cô gái thôi... Mà bạn đã có chồng rồi. Anh ấy sẽ nói gì khi trở về nhà? Bạn là chủ gia đình trong ngôi nhà của mình mà! Mọi người sẽ phán xét bạn!
- Thì cứ để họ làm vậy, - Maryna nói. - Tôi không sợ lời đàm tiếu của thiên hạ. Tôi đùa vui vì tôi còn trẻ, vì tôi muốn sống cuộc đời mình thật vui vẻ, để những năm tháng tuổi trẻ không trôi qua vô ích.
- Còn tôi thì cho đến tận lúc này vẫn đứng trước các bức tranh thờ cầu xin Chúa nhân từ cho bạn, để Ngài dẫn lối bạn đến với lý trí tốt lành, để mọi người không nhạo báng bạn.
- Vậy hãy lượng thứ cho tôi và đừng giận tôi nữa nhé Hanna. Cảm ơn bạn. Chúc ngủ ngon.
Hạnh phúc đã không đến với Hanna trên con đường cái lớn bụi bặm ấy, cô chỉ mòn mỏi đôi mắt vì ngóng trông. Chẳng bao nhiêu năm trôi qua mà Hanna đã già đi, bởi lẽ trong nhung lụa con người ta nở rộ như hoa, còn trong túng quẫn thì héo hon và tàn tạ.
Cái lạnh bắt đầu ập đến, mà trên mình Hanna là chiếc áo da cừu - mảnh vá chồng mảnh vá. Gió lùa qua áo như lùa qua rây. Trên đầu cô không phải chiếc khăn quàng mà là một mảnh giẻ rách không hoa văn. Bùn đất chui tọt qua đôi giày cũ nát. Tái nhợt như chết, gầy gò với đôi mắt trũng sâu, Hanna thẫn thờ đi quanh những bãi rác để nhặt phân khô về làm củi đốt. Cầu cho kẻ thù cũng chẳng phải sưởi ấm bằng thứ nhiên liệu ấy!
Hanna ngồi bên khung cửi ngày đêm, các đầu ngón tay chai sạn đi để kiếm lấy mẩu bánh mì khô khốc đẫm nước mắt. Và không chỉ một hay hai lần trong nhà chẳng còn lấy một hạt muối, chẳng còn một miếng bánh khô.
- Ôi nỗi khổ cực của tôi, - Hanna thường than thở với Maryna. - Tuổi già và sự đau yếu đã ập đến với tôi rồi. Đôi chân cố lắm mới nhấc nổi mình đi, đôi tay cũng chẳng còn sức lực. Làm việc không nổi nữa. Đấy, như bạn thấy đấy! Trong nhà vừa đói vừa lạnh. Nước mắt đã vắt kiệt tôi, ngực tôi đau thắt, đầu óc quay cuồng, nhìn đâu mắt cũng thấy vàng đục. Như bạn thấy đấy, trên người tôi là chiếc áo sơ mi cuối cùng, mà nó cũng rách mướp rồi. Giá mà Chúa thương xót lấy tôi, rước tôi về với Ngài. Bạn có tin không? Tôi sống khổ sở quá, nặng nề quá, giá mà đất dày nứt ra, tôi sẽ chui xuống đó khi còn đang sống.
Maryna không bỏ rơi Hanna, cô giúp bạn làm việc, đôi khi cho bạn ăn bánh mì của mình, cho bạn mặc quần áo của mình, an ủi bạn hết mức có thể.
- Cầm lấy đi Hanna, - Maryna thường nói, - tôi không cho bạn như cho một kẻ ăn mày đâu. Con trai bạn trở về, làm lụng có tiền rồi trả lại sau.
Thế nhưng Hanna chỉ còn cách vác bị gậy đi làm hành khất, chìa tay xin bánh mì.
- Tôi cũng muốn đi làm hành khất lắm, - Hanna thường nói, - nhưng xấu hổ không dám chìa tay ra, vì tôi chẳng phải người tàn tật. Người ta sẽ nói: lúc trẻ không làm lụng để dành, chẳng tích cóp gì cho tuổi già. Người ta sẽ vừa cho bánh vừa quở trách rằng tôi, một moskovka, đã chẳng biết lo toan, chỉ lo chơi bời với các moskal, ngủ đến tận trưa. Nhưng có phải tôi không làm lụng đâu, có phải tôi không đau khổ đâu?
Mùa đông còn chưa qua, tuyết còn chưa tan, ngoài trời bùn lầy và giá lạnh. Hanna không còn một hạt muối, cũng chẳng còn bánh mì, cần phải đi chợ phiên, nhưng đôi ủng đã rách nát hoàn toàn. Hanna đi chân đất; đôi chân đỏ ửng lên, tê dại vì lạnh, cứng đờ như gỗ. Người ta cười nhạo Hanna và nói mỉa:
- Này bà già, sao diện đôi ủng đỏ sớm thế? Còn lâu mới đến lễ Giữa Chay, mà lễ Phục sinh thì còn chưa thấy đâu cơ mà!
Hanna từ chợ về thì đổ bệnh rồi không dậy nổi nữa. Maryna ở bên cạnh cô cả ngày lẫn đêm...
Vào nửa đêm, chiếc đèn dầu đặt trên một chiếc nồi lật úp trong nhà Hanna tỏa ra ánh sáng buồn bã. Lúc thì tim đèn lụi đi, chỉ còn leo lét một đốm lửa xanh nhỏ như hạt đậu, lúc lại bùng lên một lưỡi lửa rực rỡ. Đèn lóe sáng, và phía đầu bàn hiện ra bóng dáng Maryna đang buồn bã, trầm ngâm. Lửa lại lóe lên, vầng trán rộng với đôi lông mày đen của cô lại lộ ra, hiện rõ chiếc mũi thanh tú và đôi mắt đang nhắm lại dưới hàng mi dài, dày. Ngọn lửa lụi xuống, Maryna buồn bã lại từ từ chìm vào bóng tối, đôi mắt biến mất, đôi gò má biến mất; chỉ còn thấp thoáng vầng trán trắng và cánh tay xắn tay áo đâu đó như ở tận phương xa. Còn trong góc nhà, trên sàn gỗ, khi đèn lóe sáng, một hình hài khác hiện ra từ đêm tối, trông thật hãi hùng! Ngọn lửa bệnh tật đã thiêu đốt gương mặt cô, ăn mòn gò má và đôi mắt. Gương mặt đen sạm như dính đầy đất, môi nứt nẻ, đôi mắt trũng sâu, chiếc mũi nhọn hoắt báo điềm chẳng lành... Hanna nằm trên đống giẻ rách cũ, đắp chiếc chăn gai rách nát, không rên rỉ mà chỉ cố sức để thở... Bên cạnh cô trên ghế là một chiếc ca đất đựng nước - phương thuốc duy nhất của kẻ nghèo hèn...
Maryna đang chờ đợi cái chết của cô, vì trên bàn đã chuẩn bị sẵn hai cây nến sáp. Maryna miên man trong những suy nghĩ chẳng mấy vui vẻ khi nhìn vào những cây nến ấy. Cô nhớ lại quá khứ của mình và vô tình nghĩ về tương lai. Và trước tâm trí Maryna, cuộc đời hiện ra không phải với vẻ rực rỡ, vui tươi như trước kia; cuộc đời đã quay sang cô bằng một mặt khác - đen tối, trần trụi và tầm thường. Trong đầu Maryna bắt đầu bủa vây những ý nghĩ buồn bã - về tai họa, nỗi khổ, sự túng quẫn và ốm yếu... “Rồi ai sẽ chăm sóc mình,” - Maryna nghĩ, - “cầu Chúa cho mình đừng bệnh tật hay nghèo túng. Ai sẽ dọn giường cho mình, thấm nước cho đôi môi nứt nẻ, cho mình ăn bánh mì? Ai sẽ chuẩn bị nến cho mình khi hấp hối, mời linh mục đến giải tội cho mình?” Không phải là hình ảnh nở rộ như hoa thuốc phiện, không phải quấn quýt hoa trường xuân, không phải sự vui vẻ, nhảy múa trong chuỗi hạt đỏ, mà định mệnh đã hiện ra trước mắt cô héo hắt vì lạnh và đói, đầy những mảnh vá, với chiếc bị rách nát trên vai, trong manh áo rách và đôi mắt đẫm lệ - định mệnh của cô đã hiện ra như thế. Đầu Maryna cúi thấp hơn nữa, hàng mi đen dài rủ xuống che khuất đôi gò má. Trên vầng trán trắng, những ý nghĩ u sầu cứ cuộn trào như sóng, cái này đuổi theo cái kia. Và trên cánh tay cô, một giọt nước mắt lặng lẽ lăn xuống bàn như một hạt đậu, để lại một vệt nước dài phía sau.
Người ta đưa Hanna đi trong một chiếc quan tài làm từ những tấm ván cũ, cô mặc chiếc áo sorochka mượn của những người hàng xóm tốt bụng, quàng chiếc khăn mà Maryna đã lấy ra từ hòm của mình. Đi sau quan tài, Maryna khóc lóc thảm thiết như đang chôn cất mẹ ruột. Cô khóc cho người bạn, và cũng khóc cho chính mình, cho số phận mình. Đi cùng Maryna là hai ba người hàng xóm cùng lũ trẻ, bởi lẽ khi người giàu chết thì cả thế gian tụ hội, còn kẻ nghèo chết thì chỉ có linh mục và thầy trợ tế. Ngay cả linh mục cũng không đi theo sau Hanna: vì tiền chôn cất chẳng đáng là bao! Chỉ có mỗi thầy trợ tế Nychypir là cất tiếng hát... Còn ngoài trời, ánh nắng xuân rực rỡ, tươi vui đang tỏa sáng, làn gió nhẹ ấm áp thổi qua, mùi hương của mùa xuân, của cỏ non tươi mát phảng phất. Trên những luống đất cày xới, một làn hơi ảo ảnh mờ ảo rung rinh, chim sơn ca hót vang vui vẻ. Những người thợ cày hô vang, lùa đàn bò kéo cày.
Người ta chôn Hanna ngay bên cạnh bà mẹ chồng Khomykha. Chẳng mấy chốc ngôi mộ đã phủ đầy cỏ và xạ hương. Thậm chí cả những người hàng xóm gần gũi cũng sớm quên đi nỗi buồn của họ. Trên những ngôi mộ, cừu và chiên con gặm cỏ, đôi khi những chú bé chăn cừu nhỏ tuổi đùa nghịch, thổi sáo. Quanh nghĩa trang - lúc thì lúa mạch xanh mướt làm mát mắt, lúc thì lúa mì rì rào với những bông vàng óng. Và vào mùa hè, trong mùa gặt, người ta nghe thấy bài hát của người thợ gặt bất hạnh đang làm thuê để kiếm bó lúa thứ sáu, tưới mồ hôi và nước mắt xuống cánh đồng của người khác. Và nằm dưới đất, giữ lấy đất đối với những kẻ bất hạnh có lẽ còn bình yên và tốt đẹp hơn là sống và chịu khổ cực trên đời...
Kể từ đó, những buổi tụ họp không còn diễn ra ở nhà Maryna nữa. Những tiếng hát vui vẻ của các cô gái, trò đùa của các chàng trai đã tắt lịm; ban nhạc không còn chơi nhạc, những chàng trai trẻ đẹp không còn tụ họp, những cô gái trẻ không còn tỏa sáng như những vì sao. Trong những ngày thu và đông đầy mây, những ông lão đứng quanh các góc nhà, con mèo lim dim trên lò sưởi, những bức tường u sầu và cửa sổ đẫm lệ, từ sáng đến tối chỉ nghe tiếng quay tơ của Maryna. Và không ít lần, khi gió lạnh rít lên, tuyết nhỏ rơi đầy, vùi lấp con đường và tiếng chuông vang lên buồn bã khắp làng, khắp thung lũng, vào tối thứ Bảy, Maryna lại một mình đi đến nhà thờ băng qua nghĩa trang, như bóng của một hồn ma.
Trong nhà thờ chỉ có linh mục và thầy trợ tế. Những cây nến cháy lặng lẽ trước bức vách thánh mới và đẹp đẽ. Một chiếc đèn dầu nhỏ soi sáng gương mặt tuyệt đẹp như đang sống của Thánh Barbara với mái tóc dài. Phía trên bức vách thánh, dưới cây thánh giá vàng, hai thiên thần nhỏ đang quỳ, như hai cậu bé tóc xoăn nhỏ nhắn, đôi tay chắp lại. Một thiên thần như đang trầm ngâm, cúi cái đầu xoăn tít, còn thiên thần kia như đang mỉm cười, nhìn lên cao. Maryna đứng trong gian dành cho phụ nữ tối tăm, cầu nguyện, quỳ lạy và ngắm nhìn Thánh Barbara cùng các thiên thần nhỏ. Và chính cô cũng không nhận ra, không để ý thấy ý nghĩ của mình nhảy từ lời cầu nguyện sang một mái tóc xoăn nào đó, một gương mặt đẹp đẽ nào đó... Trên tượng Barbara có những bông hoa đỏ, và mái tóc xõa trên vai. Maryna, dù không cố ý, lại nhớ về vẻ đẹp thời con gái của mình, về bím tóc dài của mình. Những ý nghĩ của cô bay đi thật xa; cô quên mất mình đang đứng trong nhà thờ, cô nhớ về những đêm xuân sáng tỏ, về những cây anh đào và những rặng liễu... về lúc trái tim cô nở rộ như hoa kalyna, khi cô lần đầu thấy Vasyl, khi cô trò chuyện với con trai anh là Ivan, một chàng trai trẻ với mái tóc đen. Maryna nghe thấy những bài thánh ca như trong một giấc mơ, nhưng trong tâm trí cô lại hiện về những bài hát tuyệt vời mà cô từng dùng để bộc bạch, ca hát về tình yêu, sự say đắm và cả nỗi bất hạnh của mình. Hiện lên trước mắt cô là những buổi tụ họp vui vẻ, những tiếng hát, trò đùa, ban nhạc. Tiếng chìa khóa của người giữ nhà thờ vang lên, lúc đó Maryna mới bừng tỉnh, cô tỉnh dậy và nhớ lại rằng mình vừa mơ thấy một giấc mơ tuyệt diệu... “Chúa lòng lành ơi! - Maryna thường nghĩ. - Chắc là quỷ dữ đang cám dỗ con, mang đến cho con những ý nghĩ tội lỗi.” Maryna làm dấu thánh, cầu nguyện, và khạc nhổ để xua đuổi quỷ dữ...
Nhưng đồng thời, gương mặt Maryna héo hon dần, đôi lông mày đen nhạt nhòa đi. Các chàng trai trẻ không còn nháy mắt với Maryna nữa. Thời khắc đã đến; trái tim đông cứng lại và chìm vào giấc ngủ, bằng cách nào đó trở nên lạnh lẽo hơn. Cô không còn hay nhớ về những năm tháng tuổi trẻ vui vẻ, về đôi mắt sáng, đôi lông mày đen. Maryna ngồi bên khung cửi, xoay đôi bàn tay và con quay, nhưng ý nghĩ lại hướng về cuộc đời bất hạnh của Hanna nhiều hơn và thường xuyên hơn, về ngôi nhà hoang vắng nơi giờ đây sân đã mọc đầy cỏ dại và cây tầm ma, nơi những cây ngưu bàng lá rộng mọc cao trên bệ cửa và chìa lá, gai góc vào những ô cửa sổ vỡ vụn, nơi lũ quạ và chim én làm chủ trong bếp và trên lò sưởi. Chỉ khi cô cất tiếng hát bài ca về tình yêu của chàng Kozak trẻ và cô gái lông mày đen, đâu đó sâu thẳm trong trái tim đã bình lặng mới lóe lên một gương mặt ấm áp và thân thiết, một đôi mắt yêu dấu - đó là gương mặt của Vasyl, là đôi mắt của đứa con trai Ivan của anh ấy.
Một lần, có một người moskovka, một người hàng xóm không xa lắm, từ Kyiv về thăm người thân, ghé vào chỗ Maryna.
- Tôi không biết các chị sống thế nào ở làng này, - người phụ nữ đó bắt đầu liến thoắng. - Để mà tôi phải buồn chán với cái khung cửi này mỗi ngày, để mà phải xoay đôi bàn tay thế này à! Cầu Chúa phù hộ đừng để tôi phải thế! Chị đấy, Maryna, chị không phải người đi làm, chị là moskovka, chị tự do mà. Sao không nhấc mình lên mà bay đi như chim, đến bất cứ nơi nào linh hồn muốn! Ở Kyiv, chị muốn chọn chủ nào mà chẳng được! Bà chủ cáu kỉnh - tôi bỏ; không vừa ý - tôi chạy; gặp kẻ ngốc - tôi lừa. Ra chợ mà xem, ở đó bà chủ còn nhiều hơn cả người làm thuê. Việc ở thành phố không phải là việc làm, mà là đi chơi. Chúng ta ngủ cho đến khi mặt trời lên cao; chúng ta chẳng biết đến cánh đồng, chẳng biết làm cỏ hay mùa gặt. Ở đâu cũng vui!... Bỏ cái làng này đi Maryna, chúng ta đi Kyiv thôi! Tôi sẽ chỉ đường cho chị khắp nơi, mọi chốn, mà nếu muốn chị cũng tự tìm được thôi.
Trái tim Maryna xao động, linh hồn cô khao khát hạnh phúc, tự do và sự vui vẻ. Cô muốn chạy trốn khỏi nỗi buồn, sự u sầu, khỏi cái chết đói và lạnh, khỏi số phận bất hạnh của Hanna. Và định mệnh lại một lần nữa hiện ra với cô, nở rộ như hoa anh túc, quấn quýt hoa trường xuân, vui vẻ, nhảy múa trong chuỗi hạt đỏ.
- Tôi sẽ đi, - Maryna nói, - tôi sẽ chạy trốn khỏi tai họa! Tôi cũng chẳng phải kẻ ngốc nghếch gì! Tôi sẽ không đầu hàng tai họa ấy đâu...
Maryna cho người khác thuê nhà, bán đi những gì mình có và lên đường đi Kyiv. Cô bước chân vào đó, và kể từ đó cô như chìm nghỉm dưới đáy sâu của dòng Dnipro.
Nhiều năm trôi qua. Nước sông Dnipro đã chảy đi không biết bao nhiêu mà kể. Ở Kyiv, vùng Podil, vào lúc nửa đêm trong một quán rượu, tiếng đàn thùng vang lên một âm giọng kỳ lạ. Những người moskal ngồi đầy quán rượu, và giữa họ, Maryna bay lượn như gió, nhảy múa hết mình. Quần áo trên người cô rách nát, mái tóc xõa ra từ dưới khăn quàng và rũ xuống thành từng lọn, chiếc khăn tuột xuống tận sau gáy. Gương mặt cô đen sạm, đôi môi tím tái. Chỉ có đôi mắt đen to lớn là tỏa sáng một cách lạ lùng, như mắt của một con sói cái trong đêm tối.
Các moskal vừa tán thưởng, vừa huýt sáo, và liên tục rót rượu mạnh cho cô.
Maryna đổ gục xuống ghế như chết, đầu gục lên bàn... Qua cửa sổ mở toang, một làn gió nhẹ từ sông Dnipro thổi vào, ấm áp như nước tắm mùa hè; vầng trăng tròn và sáng soi vào Maryna, những vì sao lấp lánh nhìn xuống cô. Trăng bàng hoàng, sao chẳng nhận ra một Maryna từng dạo chơi trong vườn anh đào với bím tóc đen dài, với hoa và ruy băng, người từng thủ thỉ với chúng những lời yêu thương về mái tóc, về sắc đẹp của mình và hồi tưởng về người yêu.
Giấc ngủ nặng nề khiến đầu cô gục xuống bàn, bên những chai lọ vỡ và rượu mạnh đổ lênh láng nồng nặc. Làn gió ấm thổi qua gương mặt đen sạm vì cháy nắng, qua đôi môi xanh xao nứt nẻ của cô, y hệt như ngày xưa nó từng thổi qua gương mặt đỏ hồng tươi tắn, đôi môi mọng đỏ của cô.
Maryna nằm mơ thấy mình như đang đi chợ, tay xách giỏ, đi từ trên đồi dưới chân Vườn Hoàng Gia xuống phố Khreshchatyk. Mặt trời đã lên cao trên bầu trời xanh ngắt; những tòa nhà lấp lánh tường và cửa sổ. Những ngôi nhà thờ, những bức tường rực rỡ đến mức không thể nhìn thẳng vào được. Thật sáng sủa và lung linh! Mặt trời đốt cháy cô bằng lửa, mồ hôi đầm đìa mắt và mặt, nhưng làn gió từ phía Dnipro lại nhẹ nhàng thổi qua gương mặt nóng bừng... Đã giữa trưa mà phố xá lặng thinh, không người qua lại, không xe cộ; tĩnh lặng và buồn bã như lúc nửa đêm vắng vẻ; tĩnh lặng và buồn đến mức như thể mọi người trong thành phố đã chết hết cả. Mặt trời thiêu đốt, xuyên thấu vào tận ngực cô, xuyên qua toàn bộ con người cô, giống như vào những ngày hè gặt hái nóng bỏng giữa trưa...
Khi Maryna nhìn xuống phố Khreshchatyk, cô thấy đường phố không lát đá mà mọc đầy lúa mì cao vút, dày đặc, hạt trĩu nặng khiến bông lúa cong xuống. Maryna đi xuống thấp hơn, khắp nơi trên phố là lúa mì. Những bông lúa mì dày, cao và sạch sẽ như vàng ròng, đứng lặng im không một tiếng xào xạc. “Đã đến lúc gặt lúa rồi,” - Maryna nghĩ - “vậy mà chẳng thấy thợ gặt đâu; không một bóng người! Lúa mì đứng đó như kẻ mồ côi...”
Maryna ngước mắt nhìn về phía Kyiv Cổ. Nhà thờ Sophia và Mykhailivsky rực rỡ mái vòm vàng trên nền trời xanh. Giữa chúng và đằng sau chúng là cơ man nào là nhà thờ, tất cả đều cao vút với vòm vàng và thánh giá, những tháp chuông cao đến mức như dùng cái đầu vàng của mình chống đỡ bầu trời xanh. Quanh nhà thờ Sophia, lúa đông xuân mọc xanh tốt, lúa mạch và lúa mì chín rộ; quanh tượng thánh Barbara là lúa mùa, kê và yến mạch xanh mướt, những cánh đồng kiều mạch trắng lấp lánh như bạc đang độ nở hoa; và trên những cánh đồng kiều mạch ấy, như trong làn nước trong vắt, in bóng những mái vòm vàng và nhà thờ trắng... Maryna không đi trên vỉa hè sát các tòa nhà mà đi giữa những luống cày; cỏ xanh, hoa kinh giới thơm ngát, hoa cỏ thi trắng và đủ loại thảo mộc quấn quýt dưới chân.
“Đây là cánh đồng hay là thành phố đây,” - một ý nghĩ lóe lên trong đầu Maryna. Cô quay sang những tòa nhà cao tầng, nhìn vào những tấm kính lớn ở cửa sổ. Trong những ô cửa sổ ấy, như trong những tấm gương, cũng là cánh đồng lúa mì dày đặc và chín mọng, cũng là ngày hè nắng cháy rực rỡ ấy. Qua cửa sổ, lấp ló đủ loại hoa và vải vóc trang trí, đủ loại phục sức đắt tiền. Đằng sau chúng lại thấy lúa mì và lúa mì; những dải ruy băng, vải vóc và hoa như thể được trải ra và rắc trên những bông lúa dày, như thể giữa những bông lúa đang nở rộ những loài hoa tuyệt diệu. Maryna cảm thấy rằng mình cần phải gặt số lúa mì đó. Nhưng mặt trời cứ thế thiêu đốt, sự ngột ngạt làm cô nghẹt thở, cổ họng, miệng và ngực khô khốc... “Giá mà có chút nước uống trước khi bắt tay vào việc,” - Maryna nghĩ.
Cô đưa mắt tìm kiếm những khe rãnh xanh tươi nơi thường có mạch nước ngầm, nơi cỏ lác dày che phủ thung lũng nhỏ và làn nước lấp lánh hiện ra. Cô ngước mắt nhìn lên Kyiv Cổ, nhưng ở đó chỉ có những mái vòm vàng và thánh giá treo lơ lửng trên bầu trời xanh, lặng lẽ trôi như một đàn chim trời lông vàng đang lặn ngụp dưới ánh mặt trời. Những tòa nhà cao tầng lùi xa dần, đứng thành hàng phía sau ao, như thể đang nổi trên mặt nước. Maryna nhìn kỹ lại, hóa ra đó là cái ao nhỏ ở làng Momotiv của họ, cạnh đó là bãi chăn thả xanh tươi của cha cô. Bên ao là những rặng liễu và bụi cây dày đặc. Qua bãi chăn thả xanh, một con đường mòn nhỏ chạy thẳng ra ao, con đường mà chính cô đã dẫm mòn bằng đôi chân thiếu nữ khi đi gánh nước. Maryna quay lại nhìn quanh, dưới chân đồi là những ngôi nhà nhỏ trắng tinh của làng Momotiv với những vườn anh đào và anh đào dại, xa hơn nữa là cái ao thứ hai, trên đồi là ngôi nhà thờ trắng nhỏ của làng. Những mái vòm vàng và thánh giá vươn cao hơn nữa lên tận trời, lặn ngụp và thấp thoáng như những đàn sếu bay hàng dài.
Cô cảm thấy mình đang đứng giữa bãi chăn thả, là một thiếu nữ trẻ trung và xinh đẹp. Làn gió thổi vào mặt và nhẹ nhàng mơn trớn bím tóc đen dài xõa tung, cùng ruy băng và hoa, nhưng trên vai cô không phải chiếc giỏ mà là đòn gánh với những chiếc xô. Cô như cần phải chạy ngay ra ao gánh nước... Khi nhìn sang, sau những rặng liễu xanh, trên thảm cỏ là ba mảnh vải đang được phơi trắng. Hanna đang trông vải, cô mặc bộ đồ y hệt lúc làm lễ cưới với Vasyl, cô ngồi dưới cây kalyna không nhúc nhích, trông như một bức tượng gỗ: tay đặt trên đầu gối, mắt nhìn xuống, đầu hơi cúi như đang trầm ngâm.
“Maryna, con gái ơi! Maryna, chim bồ câu của mẹ! Lại đây con, mẹ có chuyện muốn nói!..” - Maryna nghe thấy mẹ gọi mình... Cô quay lại nhìn - đó là nhà của họ, ngôi nhà đứng giữa những cây anh đào, sân đầy anh đào dại, ngoài cổng là cái giếng và rặng liễu. Trong vườn xanh mướt: hoa cẩm chướng và hoa cúc vạn thọ đang nở, gà đi lại trong sân, và dưới nắng trên bệ cửa, con mèo đang sưởi ấm. Mẹ cô bước ra khỏi nhà và đứng nơi ngưỡng cửa. Bà là một phụ nữ trẻ, cao ráo và tóc đen. Có vẻ bà vừa ở bên lò bếp, vừa làm việc xong: ống tay áo xắn cao, thắt lưng bằng một chiếc khăn đen, gương mặt đỏ hồng vì hơi nóng từ lò...
“Lại đây con ơi,” - mẹ lại gọi và vẫy tay. Maryna quay người định bước đi. Cô nhìn vào cánh cửa hầm tối đang mở toang, từ đó lóe lên hai con mắt sáng rực như hai vì sao. Tim Maryna thắt lại... Đôi mắt ấy tiến lại gần từ phía trong hầm tối, phía trên chúng hiện ra vầng trán trắng, và trên trán là đôi lông mày đen lá liễu như hai con đỉa bám chặt; đôi môi đỏ rực, mái tóc xoăn đen nhánh... Vasyl bước ra khỏi hầm, đẹp trai, rực rỡ như mặt trời, trong manh áo trắng, thắt lưng xanh, đầu trần. Gương mặt anh bừng sáng dưới nắng, mái tóc xoăn đen bóng loáng... Tim Maryna như bị thiêu đốt bởi một ngọn lửa vừa nóng cháy vừa ngọt ngào. Cô đứng không vững, cố lắm mới giữ được đôi xô trên vai. Vasyl tiến về phía cô dưới những cành anh đào dại xanh mướt. Từ đôi mắt anh, ngọn lửa như rơi thẳng vào tim Maryna, như thể tia sét đã đánh trúng trái tim cô. Ngọn lửa chạy khắp cơ thể, lan tỏa khắp huyết quản. Cô buông rơi đôi xô và ngã xuống thảm cỏ.
- Ôi Chúa ơi, cứu tôi với, ai tin Chúa thì cứu tôi với! - Maryna hét lên khi tỉnh dậy. - Ôi tim tôi đau cháy lên rồi! Cứu tôi với, Vasyl ơi! Ôi mẹ ơi, bồ câu ơi, Hanna ơi, Vasyl ơi! Ôi tôi đang cháy trong lửa, hãy dập tắt lửa cho tôi!
Maryna lăn lộn trên mặt đất rồi nằm dài ra. Những tên Moskal đùa cợt rằng Maryna ngay cả khi ngủ cũng nhắc tên gã Vasyl nào đó, còn gã chủ quán rượu, để tránh rắc rối, đã nắm chân lôi Maryna ra ngoài rồi vứt xuống phố.
Mặt trời đã mọc và lên cao trên bầu trời. Mọi người bắt đầu nhộn nhịp trên phố như bầy côn trùng; những phụ nữ thành thị xách giỏ chạy ra chợ, tiếng xe ngựa lọc cọc trên đường lát đá. Maryna nằm dưới quán rượu, không còn nghe thấy gì nữa. Nếu người mẹ ruột có sống lại từ nấm mồ, bà cũng chẳng thể nhận ra Maryna ấy - cô gái vui vẻ, hay đùa, nhanh nhẹn như gió, người từng là đóa hoa rực rỡ nhất làng Momotiv. Maryna nằm đó, như nhành hoa kalyna bị giẫm nát bên đường, như bông hoa đồng nội bị cắt gục dưới ánh mặt trời gay gắt. Cô ngủ giấc ngủ ngàn thu; không thấy mặt trời tỏa sáng trên bầu trời, không nghe thấy tiếng ồn ào, náo nhiệt của thành phố. Người ta vứt Maryna lên một chiếc xe bò, và không ai biết mộ cô ở đâu; không một giọt nước mắt nào nhỏ xuống cho cô.
(Những người dân thành thị đi qua - đùa cợt, những người Do Thái đi qua - khạc nhổ, những tên Moskal đi qua - cười nhạo. Một quý bà nào đó phóng qua trên chiếc xe hai ngựa như hai con rắn, bà ta chiếm trọn cả chiếc xe cho riêng mình, rồi quay đi và che mặt lại.)
Tin đồn truyền về làng Momotiv rằng Maryna đã chết. Ngay cả những kẻ ganh ghét Maryna cũng làm dấu thánh và đọc kinh “Lạy Cha” cho linh hồn người quá cố. “Cô ta không chạy thoát khỏi định mệnh của mình,” - họ nói, - “thậm chí ở Kyiv cô ta cũng không thể vui chơi, ca hát hay nhảy múa để xua đuổi nó.”