Khái lược

“Hagakure”, hay theo tên đầy đủ là “Hagakure Kikigaki” 葉隠聞書 (Diệp ẩn văn thư) là một tác phẩm do Tashiro Matazaemon Tsuramoto 田代又左衛門陣基 – đương thời là lãng nhân (浪人 ronin) cùng thuộc phiên Saga 佐賀 – ghi lại và biên tập từ những lời kể của Yamamoto Jin’emon Tsunetomo 山本神右衛門常朝, một phiên sĩ 藩士 cùng phiên Saga đã cạo đầu và dựng thảo am sống ẩn dật vào khoảng năm 1710. Nội dung chủ yếu của tác phẩm này là luận về đạo lý và tâm thế của võ sĩ, đặc biệt là sinh hoạt thường ngày và những phương pháp tu dưỡng của các phiên sĩ Saga.

Về tiêu đề tác phẩm

Về nguồn gốc của tên sách, tuy ngày nay ta không thể làm rõ ý định của hai người nói trên, song chúng ta có thể phán đoán dựa theo đoạn trích này: “Phàm việc có ích cho người khác thì phải làm sao để người ta không biết đó là công của mình; đối với chủ quân, phụng sự trong âm thầm mới là chân chính; khi nhận được báo đáp (từ chủ quân) thì nên cảm tạ tấm lòng ấy; cần ghi nhớ như vậy mà lấy ân báo oán, âm thầm mà chuyên tâm làm điều thiện, không nên mong cầu sự báo đáp hiển lộ” すべて、人の為になるは我が仕事と知れざるように、主君へは隠し奉公が真なり。その返報これあるときは志感じ、斯様に心得候て仇を恩にて報じ、陰徳を心がけ、陽報を存ずまじきなり (trích quyển 1, đoạn 141 [tại dưới xin viết tắt như 1-141]). Theo tư tưởng đấy, ta có thể hiểu văn bản này là “những ghi chép về cuộc sống cũ trong suốt bảy năm, khi đang núp dưới tán lá (葉隠 diệp ẩn), vừa nghe vừa chép (聞書).”
Nay xin trích dẫn vài giả thuyết khác được ghi lại trong cuốn Diệp ẩn nhập môn 葉隠入門 của tác giả Mishima Yukio.
- Thuyết đầu tiên cho rằng tiêu đề xuất phát từ ý của một bài thơ trong 山家和歌集 Tây gia hòa ca tập của pháp sư Saigyō 西行, tiêu đề 寄残花恋 (Ký tàn hoa luyến, gửi nỗi luyến tiếc hoa tàn), rằng: “はかくれに散り止まれる花のみぞ 忍びし人にあふ心地する” – tức mượn ý cảnh hoa ẩn trong lá mà gợi cảm giác như được gặp lại người mình hằng nhớ thương.
- Thuyết thứ hai nói rằng, gần thảo am của tác giả Tsunemoto có một cây hồng mang tên “はがくし” hagakushi, nên có thể tên sách được lấy từ tên của giống hồng ấy.
- Thuyết thứ tư lại cho rằng: vào thời Mạc phủ, thành trì của họ Nabejima ở Saga – thành Saga – do có nhiều cây cối nên còn được gọi là “葉隠城” (Hagakurejiro/Diệp ẩn thành, tức là “tòa thành ẩn dưới lá”) và các võ sĩ của phiên ấy cũng được gọi là “葉隠れ武士” (Diệp ẩn võ sĩ); từ đó mà sinh ra tên gọi “葉隠” Hagakure. Tuy vậy, trên thực tế, dù thành Saga quả thật có nhiều cây lớn mọc um tùm quanh hào thành, tạo cảm giác như được lá cây bao bọc, nhưng người bản xứ lại nói rằng họ chưa từng gọi nơi ấy là “Diệp ẩn thành”, nên thuyết này cũng chỉ là một suy đoán mà thôi.
“Phàm việc có ích cho người khác thì phải làm sao để người ta không biết đó là công của mình; đối với chủ quân, phụng sự trong âm thầm mới là chân chính; khi nhận được báo đáp (từ chủ quân) thì nên cảm tạ tấm lòng ấy; cần ghi nhớ như vậy mà lấy ân báo oán, âm thầm mà chuyên tâm làm điều thiện, không nên mong cầu sự báo đáp hiển lộ...”

Nội dung tác phẩm

Xét cho cùng, phần cốt lõi của cuốn sách nằm ở quyển thứ nhất và thứ hai, tức là những lời giáo huấn của chính Tsunemoto, nơi tư tưởng của ông biểu hiện một cách sinh động. Tuy nhiên, trình tự các buổi đàm thoại trong đó dường như không hoàn toàn theo thứ tự thời gian. Ở đầu quyển thứ nhất của ‘Hagakure’ có ghi: “Năm Bảo Vĩnh thứ 7, tháng 3, ngày 5, tôi lần đầu đến viếng… 宝永七年三月五日、初めて参会し……, đây chính là ngày kỷ niệm lần đầu tiên Tsuramoto đến thăm thảo am của Tsunemoto và bắt đầu ghi chép các buổi đàm thoại. Sau khi ghi lại những lời đó, người viết (tức Tsuramoto) lại còn được dặn rằng “toàn bộ mười một quyển này, về sau hãy đem đốt đi” この始終十一巻は追って火中にすべし. Một tác phẩm có nội dung nhạy cảm như vậy, với nhan đề ‘Diệp ẩn’, ắt tạo nên trong lòng mọi người đọc một vẻ u huyền sâu xa. Xét theo bối cảnh của tác phẩm, vào thời kỳ Genroku元禄, Hōei宝永, Nhật Bản đã trải qua hơn tám mươi năm kể từ khi thiên hạ thái bình; một mặt các học thuyết như Nho học, quân học, võ sĩ đạo phát triển, nhưng mặt khác cũng xuất hiện phong trào mang tính “phục hưng”: từ haikai(俳諧) đầy sinh khí, kịch của Chikamatsu 近松, cho đến tiểu thuyết của Saikaku 西鶴 – không chỉ giới thị dân mà cả võ sĩ cũng đắm mình trong ca vũ âm nhạc, khiến phong khí cương cường thời chiến quốc suy giảm rõ rệt; ngay cả võ sĩ đạo, Nho học, quân học cũng dần có khuynh hướng sa vào lý luận suông. Có lẽ, trong một bối cảnh như vậy, tự tác giả thấy tác phẩm của mình không thể được lĩnh hội nữa, nên mới ra lệnh như vậy.
Chú: 俳諧 (haikai) là một thể thơ liên ca mang tính trào lộng, phát triển mạnh thời Edo, tiền thân của haiku.
Tuy Tsuramoto được dặn là phải đem đốt nguyên bản, vậy mà cho tới giờ ta vẫn còn tồn tại khá nhiều bản sao của nó; tuy nhiên, bản tự bút của chính Tashiro Tsuramoto, dẫu ta không có chứng cứ rõ ràng là đã bị thiêu đốt, nhưng hiện nay không còn lưu lại. Trong phần giải thích của sách Hagakure thuộc bộ Nhật Bản tư tưởng đại hệ 日本思想大系 do nhà Iwanami xuất bản, học giả Sata Masahide 佐正英氏 đã nêu ra mười chín loại bản chép và tiến hành phân loại; theo ông, bản thuộc hệ Kōhaku 孝白本系 hiện lưu tại Thư viện Quốc hội Nhật Bản cùng với bản của gia tộc Nabeshima 鍋島 ở Nōgi 能木本 là những phiên bản có nguồn gốc rõ ràng và gần với nguyên bản nhất. Bản dịch Hagakure của Nhã Nam cũng lấy bản Kohaku làm để bản.
Gia tộc Nabeshima thuộc Mochiki 餅木 bắt đầu từ việc Izumi Tadashige 和泉忠茂, con trai thứ của Nabeshima Naoshige 鍋島直茂, được đưa lên Edo làm con tin, sau đó được làm cận vệ cho tướng quân Tokugawa Hidetada 徳川秀忠, và trở thành một hatamoto 旗本 được ban lãnh địa năm nghìn koku 五千石 tại Yahagi 矢作 thuộc Shimōsa 下総. Bản Kohaku 孝白本 là bản do Kamahara Kōhaku 蒲原孝白 chép tay và có kèm theo lời bạt.
Chú: Hatamoto (旗本, kỳ bản) là chức võ sĩ trực thuộc tướng quân Tokugawa, thường có bổng lộc dưới 10.000 koku, giữ vai trò cận vệ và quan chức Mạc phủ.
Koku (石, thạch) là đơn vị sản lượng lúa, dùng để biểu thị thu nhập (石高) của võ sĩ, và là tiêu chuẩn để quyết định diện tích lãnh thổ, mức cống nộp hàng năm, bổng lộc và số quân dịch của một đại danh (daimyo).
Kōhaku kém Tsunetomo hai mươi lăm tuổi, kém Tsuramoto sáu tuổi, song cũng là phiên sĩ Saga và có giao du với cả hai người; nhân vật Yasaburō 弥三郎 xuất hiện trong quyển 1 đoạn 29 và Kamahara Yasaburō 蒲原弥三郎 ở quyển 4 đoạn 69 được cho là chính người này. Nếu đây là bút ký của người từng biết Tsunetomo, thì trong bối cảnh bản tự bút của Tsuramoto không còn lưu lại đến ngày nay, ta có thể nói đây là phiên bản gần với nguyên bản nhất.
Tác phẩm được cấu thành bởi những quyển sau (xin được viết tắt là ‘Nghe chép’):
o Nghe chép quyển 1: Giáo huấn — 203 mục
o Nghe chép quyển 2: Như trên — 140 mục
o Nghe chép quyển 3: Như trên — 56 mục
o Nghe chép quyển 4: Ngôn hành 言行 (lời nói và hành động) của phiên chủ đời đầu Katsushige 勝茂 và đích tử Tadanao 忠直 — 82 mục
o Nghe chép quyển 5: Lời nói và hành trạng của đời thứ hai Mitsushige 光茂, đời thứ ba Tsunashige 綱茂, Ryōkan 了関 và các phu nhân — 98 mục
o Nghe chép quyển 6: Về gia tộc Nabeshima và tỉnh Hizen 肥前 — 189 mục
o Nghe chép quyển 7: Võ dũng, công trạng và khen chê đối với các gia thần nhà Nabeshima — 70 mục
o Nghe chép quyển 8: Như trên — 87 mục
o Nghe chép quyển 9: (Vô đề) — 41 mục
o Nghe chép quyển 10: Lời nói và hành trạng của võ sĩ các nhà khác và tạp lục — 164 mục
o Nghe chép quyển 11: Giáo huấn và phần bổ di — 169 mục
o Tổng cộng: Toàn bộ 11 quyển, 1.299 mục.

Thế giới của Hagakure

Thế giới của võ sĩ, hay là thế giới xuất hiện trong “Hagakure”, được thể hiện qua duy nhất một câu văn từng bị biến thành khẩu hiệu trong thời chiến: “Trong võ sĩ đạo, ta tìm thấy cái chết 武士道というは、死ぬ事と見付けたり…” (1-2). Mỹ học hành động của một võ sĩ được cô đọng trong câu này, tức là về vẻ đẹp trong chính cái chết – trong cái chết không phải là sự giải thoát hay là nỗi ô nhục, mà là danh dự khi được chết vì chúa công, là sự nhiệt huyết (hoặc còn là sự liều lĩnh bồng bột) và lòng trung thành được chứng tỏ khi một võ sĩ đã hoàn thành chức trách của mình; trong mọi hoàn cảnh, tâm trí của một võ sĩ, vì kế sinh nhai và vì trách nhiệm với chủ quân, phải luôn luôn suy niệm về cái chết, luôn sẵn sàng một quyết tâm để chết vào bất cứ lúc nào. “Nếu phải chết mà không đúng như dự liệu, thì đó là cái chết uổng, song không phải là điều đáng hổ thẹn…” 図にはずれて死にたらば、犬死気達なり。恥にはならず・・・・・・(1-2). Dẫu võ sĩ kia gặp bất hạnh mà chết, thì y bất quá là một kẻ xui xẻo, nhưng chết vì vận xui thì tuyệt không phải là điều đáng xấu hổ; còn kẻ bỏ cuộc không dám bước tới mới là kẻ đáng sỉ nhục.
‘Nghe chép’ lại nói (1-93): “Coi chức phận có điều nguy hiểm mà lảng tránh, đấy là tính đê hèn; mà phàm thân phận đã gắn với việc đấy [tức cái chết], thì thất bại vì việc đấy là điều tất nhiên; chỉ có thất bại vì việc riêng mới là điều đáng nhục…” 役儀をあぶなきと思うは、すくたれ者なり。その事に備わりたる身なれば、その事にて仕損ずるは、定まりたることなり。外の事、私の事にて仕損ずるこそ、辱にてあるべし…・・・・・. Võ sĩ bị giết trong lúc hành nghề thì không phải là nhục; còn nếu vất vưởng vì say rượu để rồi bị chém chết thì mới là nhục nhã.
Điều thú vị của Hagakure nằm ở lập trường và tâm ý của Tsunetomo. Một mặt, Tsunemoto nói rằng (1-45): trong tâm trí, ta đặt sự tu dưỡng lên đầu, thứ hai cũng là tu dưỡng, còn tính khoe khoang là điều tối kỵ; nhưng mặt khác, ông lại bảo: võ sĩ phải lấy võ dũng làm kiêu, lấy lòng cuồng chết làm cốt yếu (2-39), đi một quãng đường thì phải nói dối bảy lần – như vậy mới là đàn ông (11-42). Ông cũng có câu này thể hiện ý tán đồng với lời dạy của sư phụ: “Cả đời phải lao lực không ngủ, đến lúc ấy mới có thể ngang hàng với người khác…” 一代、夜も寝ずにかせぐべし。その時漸く人並にあるべし・・・・・・ (11-35), nhưng cũng có một câu trái ngược: “Đời người thực ra rất ngắn, nên sống theo điều mình thích… ta vốn thích ngủ… cứ ngủ mà sống thôi…” 人間一生誠にわずかの事なり。すいた事をして暮すべきなり……。我は寝る事が好きなり……。寝て暮すべしと思うなり。(2-85).\
Lại như “suy tính quá lâu thì hóa trì trệ” 分別も久しくすればねまる (1-122), hay “dù chỉ một bức thư, cũng nên nghĩ rằng nó cũng là một thứ đồ được trân quý [được treo lên], mà có dụng tâm trau chuốt ngôn cú” 手紙一通も則ち何様にて掛物になると思うて、嗜みて書くべきなり・・・・・ (2-42), đều là những lời khiến người hiện đại cũng phải gật đầu lĩnh hội.
“Nếu phải chết mà không đúng như dự liệu, thì đó là cái chết uổng, song không phải là điều đáng hổ thẹn…” 図にはずれて死にたらば、犬死気達なり。恥にはならず・・・・・・(1-2).

Tác giả của Hagakure

Yamamoto Tsunetomo sinh năm Manji 万治 thứ hai (1659), là con út trong số hai trai bốn gái của Yamamoto Jin’emon Shigesumi 山本神右衛門重澄. Năm Manji thứ hai, tính từ sau trận Sekigahara khi nhà Tokugawa nắm quyền đã là 59 năm, trong khoảng ấy đã trải qua hai trận Osaka mùa đông-mùa hạ 大阪冬夏, loạn Shimabara 島原の乱, tướng quân (shogun) đã đến thời thứ 4, chính quyền Tokugawa giờ đã vững chắc. Thiên hạ hưởng thái bình, trong năm ấy cũng không có biến cố lớn nào đáng ghi vào niên biểu. Tsunetomo được sinh ra khi Shigesumi đã bảy mươi tuổi; một người có thể có con ở tuổi ấy hẳn là rất dồi dào sinh lực, nhưng có lẽ vì tuổi già, Tsunetomo khi nhỏ lại là một đứa trẻ “thiếu thủy khí” 水気足らず, gầy yếu như “cái bóng” 影ぼうし, đến mức thầy thuốc cũng cho rằng y chẳng sống đến năm hai mươi tuổi; cha ông, có lẽ vì sĩ diện, thậm chí còn định đem y cho làm con một người bán muối.
Việc ấy được đại tổ đầu 大組頭 của gia đình Shigesumi là Taku Zusho 多久図書 ngăn lại nên mới thôi, rồi đặt tên là Matsu 松 mà nuôi dưỡng. Năm chín tuổi, ông được triệu vào làm tiểu đồng hầu cận cho phiên chủ đời thứ hai Mitsushige, và được đặt tên là Fushitsu 不ッ; khi ấy ông còn là một đứa trẻ khá nghịch ngợm, từng được cõng trên lưng thiếu chủ, thậm chí được cho trèo lên cả bàn sưởi. Năm mười một tuổi thì ông mất cha, sau đó theo người cháu (dù lớn hơn ông hai mươi tuổi) là Gorōzaemon 五郎左衛門 mà coi như anh, nhận nhiều lời dạy bảo.
Đến mười ba tuổi, khi trở thành thiếu niên để tóc chỏm, ông đổi tên là Ichijū 市十, ra làm tiểu đồng; lúc này nghe nói khuôn mặt lanh lợi không được chủ nhân ưa, nên suốt một năm soi gương mà tập làm bộ mặt ngờ nghệch. Hai mươi tuổi làm lễ trưởng thành, lấy tên Gonnojō 権之丞, giữ chức ngự thư vật thủ truyền 御書物役手伝 [nôm na là chức phụ tá cho viên quan phụ trách bảo quản sách vở]; một đứa trẻ từng yếu ớt như vậy mà trưởng thành được như thế cũng quả là đáng kể. Tuy nhiên, việc Tsunetomo cùng thiếu chủ Tsunashige xướng họa thơ ca bị phiên chủ Mitsushige khiển trách, khiến ông bị bãi chức. Không được theo hầu khi chủ lên Edo, ông phải ở nhà sống lêu lổng, không có bổng lộc, trở thành một lãng nhân đầy bất an.
Trong thời gian ấy, ông thường lui tới chùa Kōdenji 高伝寺, có trụ trì là hòa thượng Tanzan 湛然和尚, học đạo Phật và từng phân vân có nên xuất gia hay không. Nhờ sự vận động của thân tộc, ông lại được phiên cấp cho lương bổng; nhưng đối với một người từng được vào hầu cận bên phiên chủ, lại có một lòng cao mạn với tài năng của mình, thì địa vị ấy khiến ông cảm thấy “bị người đời coi thường như kẻ thân phận thấp kém, thật là nỗi nhục lớn” 小身者として人から見くだされるのは無念千万. Song cũng vào thời kỳ này, trật tự cai trị đã được xác lập và dần cố định, như chính ông nói: “từ khi còn nhỏ đã được định sẵn người thừa kế gia nghiệp, nên chỉ biết chăm lo phụng sự” 幼少にも家督相立てられ候に付て奉公に励みなし, khiến cho võ sĩ bình thường dù có tài và nỗ lực cũng khó mà thăng tiến hay được gia tăng bổng lộc.
Năm Tenna 天和 thứ hai (1682), khi ông 24 tuổi, ông kết hôn với con gái của Yamamoto Rokudayū 山本六太夫; đến năm 28 tuổi, cuối cùng cũng được triệu ra Edo làm thư tả vật ngự dụng 書写物御用 [là việc làm bản sao các văn bản được giao], rồi tiếp đó được lệnh đi Kyoto, tưởng như tiền đồ bắt đầu xán lạn, nhưng ngay năm sau, người cháu ( tức Gorōzaemon) vì chịu trách nhiệm một vụ hỏa hoạn mà phải tự sát, khiến Tsunetomo cũng bị vạ lây mà mất chức; sau một thời gian, ông giữ chức phụ trách thỉnh nguyện 請役付, rồi lại trở về làm ngự thư vật 御書物役.
Năm ba mươi ba tuổi, theo mệnh lệnh của chủ quân, ông kế thừa tên gọi Jin’emon 神右衛門; vào khoảng thời gian này, Tsunetomo tin rằng việc trung nghĩa nhất là can gián chủ quân để trị nước cho tốt, và nảy ý định tiến thân lên chức gia lão. Năm Genroku thứ tám (1695), khi ông ba mươi bảy tuổi, Mitsushige lui về ẩn cư, Tsunashige trở thành phiên chủ đời thứ ba; năm sau, ông được lệnh đảm nhiệm chức vụ tại Kyoto, một chức vụ chủ yếu là để phục vụ thú vui thi ca của Mitsushige sau khi ẩn cư, không còn phải e dè ai, vì vậy con đường tiến thân lên gia lão coi như bị cản trở. Trong Nghe chép 1-80 có câu: “nói rằng tài nghệ giúp ích cho thân là chuyện của võ sĩ phương khác; võ sĩ của bản gia thì tài nghệ lại làm hại thân; kẻ có một nghệ nào đó thì chỉ là nghệ nhân, không phải là võ sĩ…” 芸は身を助くると云うは、他方の侍の事なり。御当家の侍は、芸は身を亡はすなり。何にても一芸これある者は芸者なり。侍にあらず…・・・・・. Dường như trong đó ẩn chứa tiếng thở dài sâu sắc của chính Tsunetomo, người từng bị quở trách vì tài làm thơ khi theo hầu Tsunashige, và đồng thời cũng được Mitsushige yêu mến chính vì tài văn chương ấy.
Khi ở trọ tại Osaka, ông được Mitsushige ban cho chăn đệm và nói “coi như chút lòng” 志までにくるるぞ、年寄どもへ礼に及ばぬ, ông cảm khái mà rằng: “nếu là ngày xưa, hẳn đã trải đệm ấy, đắp chăn ấy mà theo chủ nơi suối vàng; nghĩ đến đó mà cảm kích đến tận xương tủy” あわれ昔ならばこの蒲団を敷き、この夜具をかぶり追腹仕るべきものと、骨髄有難く存じ暮り候なり, rồi càng thêm tận tâm phụng sự; Tsunashige cũng vì vậy mà tăng thêm mười koku bổng lộc cho ông, khiến ông trở thành một võ sĩ trung cấp với 125 koku.
Năm Genroku thứ mười ba (1700), ông bỗng sinh linh cảm, bèn mang theo một hòm sách Kokin denju 古今伝授 được coi là căn bản của ca đạo mà vội về Saga thì thấy Mitsushige đang lâm bệnh; sau khi tiếp nhận Kokin denju, mười lăm ngày sau Mitsushige qua đời. Theo lẽ thường, đến năm năm mươi tuổi, ông đáng ra phải trở thành gia lão, giữ vị trí trọng yếu trong việc trị quốc; nhưng đến năm bốn mươi hai tuổi thì chủ quân đã qua đời, khiến chí nguyện ấy rốt cuộc không thể thực hiện. Bản thân Tsunemoto đã quyết ý tuẫn tử theo chủ quân; nhưng Mitsushige trước đó đã nghiêm cấm tuẫn tử, lại hạ lệnh rằng nếu ai dám làm điều ấy thì sẽ bị tuyệt tự, đoạn tuyệt gia danh. Trong bối cảnh đương thời, khi con người còn coi trọng gia danh hơn cả sinh mạng cá nhân, ông rốt cuộc không thể tuẫn tử, đành xin xuất gia mà sống ẩn dật tại Kurotsuchihara 麓黒土原 dưới chân núi Kinryū 金立山 ở phía bắc Saga. Mười năm sau, năm Hōei thứ bảy (1710), khi năm mươi hai tuổi, ông được Tashiro Tsuramoto lần đầu đến thăm; năm Kyōhō thứ nhất (1716), năm mươi tám tuổi, Hagakure được hoàn thành; năm Kyōhō thứ tư, sáu mươi mốt tuổi, ông qua đời, vợ ông mất sau đó hai năm; trên đây là đại lược cuộc đời Tsunetomo. Ấn tượng chung là ông là một người thất chí, sự việc không như chí nguyện, nhưng ông không phải là kẻ xảo quyệt lưu manh; tuy có một tấm lòng tinh tế, ông cũng có một ý chí mạnh mẽ, được thể hiện từ việc 13 tuổi dần biết thay đổi nét mặt, đến việc cải biến thể chất vốn bị cho là không sống nổi đến hai mươi bằng dưỡng sinh và rèn luyện.
Ông từng khao khát xuất gia, học Phật, được truyền dạy giáo pháp khi hai mươi mốt tuổi, lại có một trước tác như Gukenshū 愚見集 (Ngu kiến tập), và cũng giỏi làm haiku và waka, cho thấy tài năng văn học phong phú. Khi đã trở thành người có thể phò tá chúa công, công việc ông nhận được lại chỉ là làm bạn tiêu khiển cho chủ sau khi về hưu; đối với chủ, đó có thể chỉ là giải khuây, nhưng với Tsunetomo, đó là việc ông dốc cả sinh mệnh mà làm, không chút hối hận, song đôi khi vẫn không khỏi buột miệng nói ra cảm giác trống rỗng. Bối cảnh thời đại cũng không hợp với ông; mang trong mình dòng máu của người ông, người cha “đánh bạc, nói lớn, sống ngang tàng”, nhưng thời ông sống lại là lúc phiên chính đã ổn định, võ sĩ trở nên quan liêu hóa, tự do và cá tính bị bóp nghẹt, trong khi xã hội lại thái bình, xa hoa, buông thả, võ sĩ say mê chuyện võ công, tính toán lợi hại, chăm chút y phục, đắm mình trong chuyện tình sắc. Hagakure chính là dấu vết linh hồn của Tsunetomo khi cố dung hòa chí hướng cao ngạo với một thế giới đáng than thở như vậy; có thể nói hơi quá, nhưng tôi cho rằng đây là một tác phẩm mang tính Nhật Bản sâu sắc, và vì thế cũng là thứ hiếm thấy ở đâu khác.