Dyslexia and the Reading Wars - Chứng khó đọc và Cuộc chiến Dạy đọc
Bài báo mình đọc từ hồi tháng 12 với chủ đề mà mình rất quan tâm về Dyslexia. Âm ỉ ý định thử vừa đọc hiểu rồi vừa dịch nhờ mọi người...
Bài báo mình đọc từ hồi tháng 12 với chủ đề mà mình rất quan tâm về Dyslexia. Âm ỉ ý định thử vừa đọc hiểu rồi vừa dịch nhờ mọi người vừa đọc vừa thẩm định vừa xin comment bây giờ mới xong ạ. Rất mong mọi người nếu quan tâm chủ đề này có thể cho thêm ý kiến về phần dịch - đọc hiểu do chưa phải một người dịch chuyên nghiệp nên chắc chắn là còn có lỗi ạ. Trân trọng cảm ơn mọi người.
Giải pháp cho những đứa trẻ chật vật nhất với con chữ đã có từ hàng chục năm nay. Cớ sao chúng vẫn mãi bị bỏ quên?

Ảnh từ bài báo gốc (link phía dưới) từ The New Yorker.
Năm 2024, cô cháu gái Caroline của tôi đã nhận bằng Tiến sĩ chuyên ngành vật lý sóng hấp dẫn. Các hướng nghiên cứu của con bé bao gồm “tác động của sự thiếu chính xác trong mô hình lên các sai lệch của tham số thu được từ dữ liệu sóng hấp dẫn” và “phân loại Petrov, các hướng không chính, và các tensor Killing của lỗ đen quay chậm trong thuyết hấp dẫn bậc hai.” Tôi đã theo dõi một phần buổi bảo vệ luận án của con bé qua Zoom, và hoàn toàn “mù tịt” ngay khi con bé vừa dứt lời giới thiệu bản thân. Caroline và chồng hiện đang sống tại Ý, nơi con bé đang đảm nhận vị trí nghiên cứu sau tiến sĩ.
Những thành tựu học thuật của Caroline sẽ càng ấn tượng hơn gấp bội nếu bạn biết rằng cho đến tận lớp ba, con bé gần như không biết đọc: đối với nó, những con chữ trên trang giấy trông như một khối hỗn độn phập phồng. Caroline từng theo học một trường tư thục ở Connecticut, nơi có quy định một khung giờ cố định mỗi ngày để học sinh tự chọn sách và tự đọc. “Cháu chẳng nhớ khoảng thời gian đó kéo dài bao lâu, nhưng cảm giác như là vô tận vậy,” con bé kể lại với tôi. Caroline che giấu khiếm khuyết của mình bằng cách lật trang sách mỗi khi thấy bạn cùng lớp lật, và xung phong vẽ minh họa trong các dự án viết truyện theo nhóm. Một ngày nọ, con bé tâm sự với bà nó rằng nó có thể đánh vần từng chữ cái riêng lẻ, nhưng khi đọc đến “cuối dòng” thì nó chẳng thể nhớ nổi những từ đã xuất hiện trước đó. Đến một ngày, một chuyên gia tâm lý đã xác định tình trạng của con bé là mắc chứng khó đọc (dyslexia).
Những người đọc thành thạo đôi khi đôi khi lầm tưởng chứng khó đọc chỉ đơn thuần là thói quen tráo đổi trật tự chữ cái hay viết ngược, nhưng thực tế nó phức tạp hơn nhiều. Người mắc chứng khó đọc gặp khó khăn ở nhiều mức độ khác nhau, không chỉ trong việc đọc và viết mà cả trong việc phát âm từ mới, nhớ lại những từ đã biết, nhận diện vần điệu, phân tách từ thành các âm tiết, và đọc hiểu văn bản. Chứng khó đọc thường có yếu tố di truyền, và nó tồn tại ngay cả ở những người nói các ngôn ngữ không sử dụng bảng chữ cái Latinh, chẳng hạn như tiếng Trung. Nó thường xuất hiện kèm theo các vấn đề về lời nói và ngôn ngữ, cũng như chứng lo âu, trầm cảm, rối loạn chú ý, và cái gọi là các "bệnh đồng mắc" (comorbidities) khác; mặc dù vậy, bản thân chứng khó đọc có thể gây ra những tác động sâu sắc về mặt tâm lý và cảm xúc, đến mức việc coi một số tình trạng kể trên là hệ quả có lẽ sẽ chính xác hơn.
Các ước tính về tỷ lệ mắc chứng khó đọc trong dân số nói chung rất khác nhau, dao động từ mức cao tới 20% cho tới xuống tới mức thấp nhất là con số không tròn trĩnh — con số được đưa ra bởi Sally Shaywitz, đồng sáng lập Trung tâm Sáng tạo & Chứng khó đọc ở Yale, cùng nhiều chuyên gia khác. Con số 0% này được gợi ý bởi Richard Allington, một giáo sư giáo dục đã nghỉ hưu tại Đại học Tennessee, Knoxville; người mà vào năm 2019 đã phát biểu với những người tham dự một hội thảo về năng lực đọc viết rằng, các nhà lập pháp ủng hộ biện pháp can thiệp cho học sinh khuyết tật đọc "đáng bị đem đi xử bắn". Nadine Gaab, một giáo sư tại Trường Giáo dục Cao học Harvard, lại chia sẻ với tôi rằng các ước tính chính xác nhất hiện nay rơi vào khoảng từ năm đến mười phần trăm.
Sự không thống nhất này đều có nguyên do của nó. Tình trạng khó đọc rất đa dạng về thể loại, mức độ nghiêm trọng và cách biểu hiện triệu chứng, trong khi các kỹ năng đọc viết đầu đời từ trước đến nay vốn dĩ rất khó đo lường. Nhiều đứa trẻ mắc chứng khó đọc (và cả cha mẹ chúng) không bao giờ biết mình mắc phải hội chứng này. Bởi vì một chiến thuật phổ biến để trốn tránh nỗi xấu hổ khi phải đọc to trước lớp là cố tình quậy phá để bị đuổi xuống phòng hiệu trưởng, nên học sinh mắc chứng khó đọc thường bị xem là những "học sinh cá biệt" cần học cách kỷ luật hơn là cần sự hỗ trợ. Ở mọi cấp lớp, các em có nguy cơ bị đình chỉ học, đuổi học hoặc đưa vào trại giáo dưỡng cao hơn, đặc biệt nếu gia đình các em có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Theo một nghiên cứu năm 2011 trên 4.000 học sinh trung học do Donald J. Hernandez, khi đó là giáo sư xã hội học tại Đại học Hunter, thực hiện, hơn 60% số học sinh không tốt nghiệp được phát hiện là đã có những khiếm khuyết về kỹ năng đọc ngay từ lớp ba. Thường thì các trường học không có sự can thiệp hiệu quả, đôi khi do thiếu hiểu biết, đôi khi do tư duy sư phạm sai lầm, và cũng có khi vì sợ phát sinh thêm chi phí giảng dạy hoặc pháp lý.
Hậu quả đối với cá nhân và xã hội có thể rất thảm khốc, bởi ngay cả để làm những công việc với mức lương tối thiểu, người ta cũng cần phải biết đọc. Bi kịch này càng trở nên trầm trọng hơn bởi một thực tế: các phương pháp đã được kiểm chứng để dạy học sinh khó đọc—những phương pháp mà đã giúp Caroline trở thành một người mê đọc sách khi vào cấp hai—vốn đã được biết đến từ hàng chục năm nay. Hơn thế nữa, các nguyên tắc cốt lõi của những phương pháp đó cũng chính là nền tảng để dạy đọc thành công cho tất cả học sinh, dù các em có mắc chứng khó đọc hay không. (Một quản lý tại trường chuyên biệt dành cho học sinh khuyết tật đọc nói với tôi rằng: “Những gì hiệu quả với học sinh của chúng tôi thực ra đều hiệu quả với tất cả mọi người. Vấn đề chỉ nằm ở liều lượng mà thôi.”) Tuy nhiên, nhiều trường học ở Mỹ không áp dụng các phương pháp giảng dạy có cơ sở khoa học, và một phần vì thế, thật khó để phân biệt đâu là chứng khó đọc thật sự (dyslexia), và đâu là thứ mà một hiệu trưởng tiểu học mô tả với tôi là “dystaughtia” – hay còn gọi là “chứng khuyết tật do kỹ năng giảng dạy kém”. Nếu kỹ năng đọc được dạy tốt hơn, gần như tất cả học sinh đều sẽ được hưởng lợi, và những học sinh có khác biệt về hệ thống thần kinh sẽ dễ dàng được nhận diện và điều trị hơn trước khi những khó khăn trong việc đọc làm trật bánh cuộc đời các em. “Có một khoảng thời gian chính là 'cửa sổ cơ hội' để can thiệp,” Mark Seidenberg, một nhà khoa học thần kinh nhận thức, nói với tôi. “Đó là thời điểm mà bạn tuyệt đối không muốn bỏ lỡ.”
Trong cuốn sách "Overcoming Dyslexia" (Vượt qua chứng Khó đọc), Shaywitz dẫn lại một ghi chép được xuất bản bởi một bác sĩ người Đức vào năm 1676 về "một cụ ông 65 tuổi" bị mất khả năng đọc sau một cơn đột quỵ. Vị bác sĩ viết: "Ông ấy không nhận biết được một chữ cái nào cũng như không thể phân biệt chữ này với chữ kia." Đây có lẽ là mô tả đầu tiên được công bố về cái ngày nay gọi là chứng khó đọc mắc phải (acquired dyslexia), gây ra bởi tổn thương não bộ. Hai thế kỷ sau, một bác sĩ ở Anh đã viết một bài báo về trường hợp mà ông gọi là "mù chữ bẩm sinh" (congenital word blindness). Trường hợp này liên quan đến một cậu bé 14 tuổi không thể đọc dù đã được các giáo viên và gia sư dạy dỗ trong nhiều năm. Cậu bé có thể nhận ra các từ "and", "the", "of" và một vài từ đơn âm tiết khác, cậu cũng biết các chữ cái trong bảng chữ cái, nhưng khi bác sĩ đọc chính tả các từ vựng cho cậu viết, cậu đã viết sai gần như tất cả, viết "shilling" thành "sening" và "subject" thành "scojock". Vị bác sĩ viết rằng khuyết tật của cậu bé rất dễ nhận thấy, bởi vì thầy hiệu trưởng từng nói cậu sẽ là "cậu học trò thông minh nhất trường nếu việc giảng dạy hoàn toàn bằng lời nói."
Ngôn ngữ nói đã xuất hiện cách đây ít nhất năm mươi nghìn năm, và bộ não con người đã tiến hóa cùng với nó. Hệ quả là, hầu hết trẻ em học nói rất sớm và dễ dàng mà không cần sự hướng dẫn một cách chính quy. (Trẻ khiếm thính cũng học ngôn ngữ ký hiệu một cách nhanh chóng). Đọc và viết thì khác. Hai kỹ năng này chỉ mới được phát minh cách đây khoảng năm nghìn năm, và chọn lọc tự nhiên chưa kịp cấu hình bộ não để thuận lợi cho việc đó. Gaab nói với tôi: "Bạn không thể cứ nhốt một nhóm trẻ mẫu giáo vào thư viện và mong đợi chúng bước ra vài tuần sau đó như những người biết đọc. Nó giống như việc học một nhạc cụ hơn. Bạn có thể nghe nhạc Mozart cả đời, nhưng nếu tôi đặt bạn trước một cây đàn piano và bảo 'Hãy chơi nhạc Mozart đi', bạn vẫn chịu chết."
Để có thể đọc thông viết thạo, con người buộc phải điều chỉnh chức năng của những vùng não vốn được tiến hóa để thực hiện các nhiệm vụ khác, chẳng hạn như nhận diện vật thể và xử lý âm thanh. Gaab chia sẻ: “Trong quá trình học đọc, điều chúng ta cần làm là phối hợp để các vùng não này giao tiếp với nhau, từ đó xây dựng nên cái mà ta gọi là một ‘mạng lưới đọc’.” Các khu vực này được kết nối bởi những bó sợi trục thần kinh, thứ mà bà ví von như những tuyến đường cao tốc. Nhà thần kinh học người Pháp Stanislas Dehaene, trong cuốn sách “Reading in the Brain” (tạm dịch: Bộ não đọc sách), đã viết: “Các nhà khoa học có thể theo dõi hành trình của một từ ngữ in trên giấy khi nó đi từ võng mạc qua một chuỗi các giai đoạn xử lý, mỗi giai đoạn được đánh dấu bằng một câu hỏi sơ cấp: Đây có phải là các chữ cái không? Chúng trông như thế nào? Chúng có tạo thành một từ không? Từ đó nghe ra sao? Nó được phát âm thế nào? Và nó có nghĩa là gì?”
Đôi khi, những tuyến cao tốc sợi trục ấy dường như tự hình thành một cách dễ dàng. Con gái tôi, Laura, bỗng nhiên biết đọc vào mùa hè trước khi vào mẫu giáo. (“Thật khó tin là từ ‘knock’ lại bắt đầu bằng chữ ‘k’,” con bé nói khi dõi mắt theo trang sách tôi đọc cho nghe trước giờ đi ngủ, một câu chuyện về Cô Lợn Amanda.) Nhưng ngay cả chính con bé cũng không trở thành một người đọc sách hoàn toàn do tự lực. Tất cả trẻ em đều phải học được mối liên hệ giữa các mặt chữ và những âm thanh có nghĩa. Với một số người, việc này gian nan hơn những người khác. Gaab nói: “Có thể thay vì bốn làn xe, bạn chỉ có hai, hoặc thay vì mặt đường bằng phẳng, bạn lại phải đi trên đường gồ ghề.” Caroline có vốn từ vựng phong phú, và cũng thường xuyên được nghe đọc sách nhiều như Laura, cả ở nhà lẫn ở trường. Trong bếp nhà con bé cũng có những chữ cái nam châm bằng nhựa đầy màu sắc dính trên tủ lạnh nhiều y hệt như thế. Nhưng Caroline cần những giáo viên hiểu được rằng năng lực đọc viết không đến một cách tự nhiên, đặc biệt là đối với những trẻ mắc chứng khó đọc (dyslexia).
Mười năm trước, Emily Hanford, một phóng viên cao cấp tại American Public Media, khi đang thực hiện bài phóng sự về các lớp học đọc bổ trợ cấp đại học, đã bắt đầu quan tâm đến chứng khó đọc và sau đó là vấn đề năng lực đọc viết nói chung. Đến năm 2022, cô sản xuất một loạt podcast có sức ảnh hưởng to lớn mang tên “Sold a Story” (tạm dịch: Những câu chuyện được thêu dệt), xoay quanh việc dạy đọc tại các trường học ở Mỹ.
Luận điểm trung tâm của loạt bài là: giáo viên trên khắp đất nước đang sử dụng các phương pháp và tài liệu giảng dạy mà từ lâu đã được chứng minh là không những không hiệu quả mà còn phản tác dụng. Hanford đã chỉ ra rằng những phương pháp này bắt nguồn từ một sự hiểu lầm cơ bản về cách trẻ em học đọc. Những phương pháp này hướng dẫn những đứa trẻ mới tập đọc tìm kiếm gợi ý từ hình minh họa và đưa ra suy luận dựa trên ngữ cảnh, độ dài từ, cốt truyện cùng các manh mối khác, trong khi chỉ dựa rất ít vào các âm thanh mà chữ cái đại diện. Tư duy ở đây là: khi trẻ trở nên thành thạo trong việc suy luận, thì khía cạnh kỹ thuật của việc đọc sẽ tự động đâu vào đấy.
Kỹ năng đọc thành thạo bao gồm nhiều yếu tố. Một hình ảnh ẩn dụ phổ biến là “Mô hình dây thừng tập đọc” (reading rope), do nhà tâm lý học Hollis Scarborough tạo ra vào năm 2001. Mô hình này mô tả tám “sợi dây nhỏ” mà người đọc sẽ bện lại với nhau khi họ trở nên thành thạo. Các sợi này không chỉ bao gồm việc hiểu các âm thanh được đại diện bởi chữ cái và tổ hợp chữ cái, mà còn cả các yếu tố thuộc về năng lực hiểu ngôn ngữ như từ vựng, ngữ pháp, tư duy lập luận và kiến thức nền.
Tất cả các sợi đều cần thiết. Theo quan điểm của Hanford, các sợi liên quan đến nhận diện từ, bao gồm nhận thức âm vị (phonological awareness) và kỹ năng giải mã (decoding), thường bị bỏ quên. Điều đó gây hại cho nhiều học sinh và là một thảm họa thực sự đối với trẻ mắc chứng khó đọc.
Sự ác cảm đối với việc giải mã ngữ âm đôi khi được truy nguyên về Horace Mann, nhà giáo dục người Mỹ thế kỷ 19, người đã mô tả các chữ cái trong bảng chữ cái là "những bóng ma hình bộ xương, vô sắc và vô hồn". Ông lập luận ủng hộ việc dạy trẻ nhận diện từ ngữ như những đơn vị riêng biệt.
Một nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn hơn xuất hiện sau này là Marie Clay, một giáo viên kiêm nhà nghiên cứu người New Zealand. Vào những năm 1960, sau khi nghiên cứu trẻ em học đọc, bà kết luận rằng việc hiểu mối quan hệ giữa chữ cái và âm thanh là không thiết yếu. Hanford, trong tập hai của podcast "Sold a Story", kể lại: "Ý tưởng cơ bản của bà ấy là: những người đọc giỏi là những người giải quyết vấn đề giỏi. Họ giống như các thám tử đi tìm manh mối vậy." Theo lý luận của Clay, những manh mối tốt nhất chính là ngữ cảnh và cấu trúc câu.
Frank Smith, một nhà tâm lý ngôn ngữ học người Anh, cũng đi đến kết luận tương tự. Ông cho rằng đối với một người đọc giỏi, một từ in trên giấy giống như một ký tự biểu ý (ideogram). Năm 1992, ông viết: "Những người đọc kém nhất chính là những người cố gắng đánh vần các từ lạ dựa theo các quy tắc ngữ âm."
Tất nhiên, sẽ luôn có những tiếng nói phản biện cho ý kiến trên. Năm 1955, Rudolf Flesch xuất bản cuốn "Why Johnny Can’t Read" (Tại sao Johnny không biết đọc), một bản cáo trạng đanh thép nhắm vào các phương pháp "từ nguyên khối" (whole word). Flesch viết: "Nếu cứ làm theo ý họ, giáo viên của chúng ta sẽ chẳng bao giờ dạy cho trẻ biết rằng có sự tồn tại của các chữ cái và mỗi chữ cái đại diện cho một âm thanh."
Để minh họa cho vấn đề này, ông kể lại câu chuyện từ một nhà nghiên cứu xóa mù chữ, về một cậu bé có thể đọc được từ "children" (trẻ em) trên thẻ từ (flash card) nhưng lại chịu chết khi gặp từ đó trong sách. (Cậu bé giải thích rằng cậu nhận ra tấm thẻ từ đó là vì ai đó đã làm lem mực trên thẻ). Cuốn sách của Flesch nằm trong danh sách bán chạy nhất suốt nhiều tháng trời, nhưng những phương pháp giảng dạy mà ông tưởng chừng như đã tiêu diệt được lại vẫn tiếp tục được sử dụng rộng rãi.
Ngày nay, hai trong số những chương trình dạy đọc phổ biến nhất là Units of Study (tác giả chính là Lucy Calkins, giáo sư tại Trường Sư phạm thuộc Đại học Columbia) và Fountas & Pinnell Classroom (của Irene Fountas và Gay Su Pinnell). Cả hai chương trình này đều bắt nguồn từ công trình của những người như Clay và Smith, và đều được phân phối bởi cùng một nhà xuất bản giáo dục. Chúng vẫn cắm rễ sâu trong các hệ thống trường học mặc dù các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng nền tảng lý thuyết của chúng bị lỗi.
Chẳng hạn, công nghệ cho phép các nhà nghiên cứu theo dõi chuyển động mắt của con người khi đọc đã chứng minh rằng: những người đọc giỏi thực chất có giải mã từ ngữ bằng cách nhìn kỹ lưỡng – dù rất nhanh – vào các chữ cái và tổ hợp chữ cái. Dehaene viết rằng: “Chữ ‘eight’ (viết thường) và ‘EIGHT’ (viết hoa), vốn được cấu tạo từ những đặc điểm thị giác khác biệt, ban đầu được mã hóa bởi các nơ-ron khác nhau trong vùng thị giác sơ cấp, nhưng sau đó dần dần được tái mã hóa cho đến khi chúng trở nên gần như không thể phân biệt được.” Nếu những người đọc trôi chảy có thể đọc các từ quen thuộc theo cách dường như là họ đang nhận diện các ký tự biểu ý (nhìn hình đoán chữ), thì đó là bởi vì họ đã phân tích chúng về mặt ngữ âm trong những lần gặp trước đó, kích thích não bộ tạo ra các đường dẫn thần kinh bền vững liên kết giữa chính tả, âm thanh và ý nghĩa.
Đặc biệt, những người gặp khó khăn khi đọc cần những người hướng dẫn đã được đào tạo bài bản về cái mà ngày nay được gọi rộng rãi là Đọc viết có cấu trúc (structured literacy), giảng dạy dựa trên nghiên cứu, hay Khoa học về việc đọc (science of reading). Các phương pháp này bắt nguồn từ những hiểu biết về thần kinh học đối với các yếu tố của việc đọc, chú trọng vào việc giúp học sinh giải mã chính xác các ký tự văn bản đại diện của ngôn ngữ nói.
Amy Murdoch, giám đốc chương trình khoa học về việc đọc tại Đại học Mount St. Joseph ở Cincinnati, cho biết những phương pháp này cung cấp khung sườn tốt nhất để dạy đọc cho cả những người không mắc chứng khó đọc; tuy nhiên, tại nhiều trường đại học, người ta vẫn có thể lấy bằng thạc sĩ về giáo dục mầm non mà không hề được học về những kiến thức này.
Margaret Goldberg, người đồng sáng lập dự án phi lợi nhuận Right to Read Project tại California, chia sẻ với tôi rằng một lý do khiến các phương pháp sai lầm vẫn tồn tại dai dẳng có thể là do chúng có vẻ đúng về mặt trực giác đối với những kiểu người thường trở thành giáo viên tiểu học. "Khi tôi tập huấn cho giáo viên, tôi hỏi họ đã học đọc như thế nào," bà nói. "Và hầu hết họ sẽ nói rằng họ học rất dễ dàng, và họ hồi tưởng lại hình ảnh mình ngồi bên chiếc bàn nhỏ, được cô giáo ân cần chỉ dẫn đôi điều ." Nếu chỉ lấy Laura làm mẫu khảo sát duy nhất của mình, hẳn tôi cũng đã cho rằng dạy một đứa trẻ biết đọc chẳng cần gì nhiều nhặn hơn là đưa cả nhà đi thư viện thật nhiều lần.
Goldberg kể cho tôi về một buổi hội thảo cô tham dự năm 2015, khi cô đang làm chuyên viên hướng dẫn đọc viết tại một trường công lập có thành tích kém ở Oakland. Buổi hội thảo giới thiệu cho giáo viên và các nhân sự khác về chương trình Units of Study mà hệ thống trường học vừa mua về.
Những người tham dự được xem các trang truyện kể về một chú chuột túi, nhưng lại được viết bằng một bảng chữ cái mà họ không hề nhận ra. (Hóa ra đó là tiếng Hy Lạp). Goldberg nhớ lại người thuyết trình đã bảo họ đừng bận tâm đến các từ ngữ: “Ông ta nói: ‘Hãy nhìn xem các bạn có thể đọc được bao nhiêu mà thậm chí chẳng cần biết bảng chữ cái.’” Khi Goldberg phản bác rằng kiểu đoán mò này không đánh đồng với việc đọc được, người thuyết trình đã bảo thẳng là cô sai rồi.
Trong khoa học thông thường, một lý thuyết mà các giả định và dự đoán của nó liên tục bị dữ liệu thực tế bác bỏ sẽ bị loại trừ,” Seidenberg, nhà thần kinh học nhận thức, viết trong cuốn sách “Language at the Speed of Sight” (Ngôn ngữ ở tốc độ của thị giác). “Nhưng trong giáo dục, chúng là những thây ma lý thuyết không thể bị tiêu diệt bằng các vũ khí thông thường như bằng chứng thực nghiệm, cứ thế nhởn nhơ hoành hành khắp nền giáo dục.”
Rốt cuộc, Calkins cũng đã bổ sung phần ngữ âm vào chương trình Units of Study, một phần là để phản hồi lại loạt phóng sự của Hanford. Dẫu vậy, vào năm 2023, Thành phố New York đã bắt đầu loại bỏ dần chương trình giảng dạy này, thứ mà họ đã sử dụng trong suốt nhiều năm. Thành phố gần đây đã công bố kết quả kiểm tra cho thấy số lượng học sinh đạt chuẩn năng lực đã tăng lên bảy phần trăm điểm. (Ngay cả Trường Sư phạm thuộc Đại học Columbia cũng đã ngừng sử dụng Units of Study).
Anne Wicks, một chuyên gia về giáo dục và kinh tế tại Trung tâm Tổng thống George W. Bush, chia sẻ với tôi rằng podcast của Hanford đã giúp biến một cuộc tranh luận học thuật vốn dĩ thầm lặng trở thành một chủ đề dễ tiếp cận đối với đại chúng. Wicks cho biết, việc học trực tuyến bắt buộc do đại dịch COVID cũng có tác động đáng kể, khi nó phơi bày cho nhiều phụ huynh thấy con cái họ thực sự đang được dạy dỗ như thế nào.
Kể từ năm 2020, hơn bốn mươi tiểu bang đã thông qua các đạo luật thúc đẩy trường học chú trọng vào khoa học về việc đọc (science of reading). Tuy nhiên, luật pháp không nhất thiết chuyển hóa thành sự thay đổi trong lớp học, đặc biệt là nếu giáo viên (và các công đoàn giáo viên) kháng cự. Dù vậy, ở những nơi đã cam kết toàn diện trong việc cải thiện đào tạo giáo viên, kết quả đạt được rất ấn tượng. Wicks nói rằng các bang Alabama, Louisiana, Mississippi và Tennessee đã chuyển hóa được chương trình giảng dạy cải tiến thành kết quả thi cử tốt hơn — một sự thay đổi ngoạn mục được gọi là “Sự trỗi dậy của miền Nam” (Southern surge).
Karin Chenoweth, đã từng phụ trách chuyên mục của tờ Washington Post và là tác giả của nhiều cuốn sách viết về các ngôi trường thành công, đã kể cho tôi nghe về một khu học chánh mà bà từng nghiên cứu kỹ lưỡng tại Steubenville, bang Ohio. "Nơi đó thuộc vùng Appalachia, nguồn lực hạn chế, cơ sở thuế gần như bằng không, và hơn 90% học sinh có hoàn cảnh khó khăn," bà nói. "Ấy vậy mà có những năm, 100% học sinh lớp ba và lớp bốn ở đó đạt chuẩn đọc hiểu của tiểu bang."
Năm 2000, khu học chánh này đã áp dụng một chương trình giảng dạy có cơ sở khoa học là Success for All (Thành công cho Tất cả), vốn được phát triển vào thập niên 80 bởi hai giáo sư tại Đại học Johns Hopkins. Chenoweth bảo tôi rằng, điều quan trọng không kém chương trình học chính là việc các giáo viên trong quận đã đón nhận một phương pháp giảng dạy hoàn toàn khác biệt.
"Xây dựng một văn hóa học đường như thế chẳng dễ dàng gì," bà nói. "Nhưng một khi các giáo viên thấy được hiệu quả thực tế, họ đã bảo vệ nó một cách quyết liệt và không đời nào chịu quay lại lối mòn cũ.”
Steven Dykstra là một nhà tâm lý học lâm sàng đã nghỉ hưu tại Milwaukee. Ông vốn không để tâm lắm đến chứng khó đọc (dyslexia) cho đến khi con trai ông gặp khó khăn khi tập đọc ở lớp một.
Ông và vợ đã sắp xếp một buổi gặp mặt với giáo viên, và cô giáo hỏi liệu họ có đọc sách cho con nghe ở nhà không.
"Khi chúng tôi cam đoan với cô rằng đêm nào chúng tôi cũng đọc cho cháu nghe từ lúc cháu mới vài tháng tuổi, cô ấy tỏ ra bối rối," ông kể lại. "Cô hỏi vặn lại: 'Anh chị có chắc không?', cứ như thể chúng tôi đã hoang tưởng về hàng bao nhiêu giờ đồng hồ đó vậy."
Sau đó, cô giáo hỏi họ thường làm gì khi con trai vấp phải một từ khó đọc.
"Chúng tôi bảo cô rằng chúng tôi giúp cháu đánh vần từng âm (sound it out)," ông nói. "Đó chính là khoảnh khắc 'À ha!' vỡ lẽ của cô ấy. 'Vấn đề nằm ở chỗ đó,' cô nói. 'Đó là thứ đang làm thằng bé bị loạn. Anh chị cần dừng ngay việc đó lại. Ngữ âm (Phonics) không có tác dụng đâu.'"
Dykstra đã có 33 năm công tác tại sở y tế công cộng Quận Milwaukee, dành phần lớn thời gian trong đội can thiệp khủng hoảng sức khỏe tâm thần, chuyên tham vấn cho trẻ em và thanh thiếu niên. Ông kể cho tôi nghe về trường hợp của một cô gái 16 tuổi có nhiều hành vi tự hủy hoại bản thân nghiêm trọng.
"Con bé dùng ma túy, bán thân, và thường tỉnh dậy sau những cơn say với những hình xăm tự chế nham nhở trên người," Dykstra kể.
Cuối cùng, cô cũng đồng ý gặp ông với điều kiện cuộc gặp phải diễn ra trong gara nhà bố mẹ và cửa phải mở toang, để cô có thể tháo chạy bất cứ lúc nào nếu cảm thấy cần thiết.
Dykstra cho biết trong cuộc trò chuyện, cô đã khiến ông sững sờ khi tiết lộ rằng mình không biết đọc—một chi tiết chưa từng được hé lộ trong suốt nhiều tuần ông phỏng vấn những người xung quanh cuộc sống của cô. Cô kể rằng hồi tiểu học, để tránh bị thầy cô gọi tên, cháu thường bày đủ trò như giả vờ ốm hay tự ý bỏ ra khỏi lớp; thậm chí có lần cháu còn ném cả cuốn sách vào người giáo viên. Cô bảo cháu không ngại bị phạt, bởi chẳng có hình phạt nào tồi tệ hơn tiếng cười nhạo của bạn bè cùng lớp.
"Sau đó câu chuyện chuyển sang hướng khác," Dykstra tiếp lời. "Tôi bảo: 'Cháu biết đấy, rất nhiều người sẽ không làm những việc như cháu đang làm—ví dụ như vào nhà nghỉ với một người lạ với giá 40 đô-la—bởi vì họ sẽ cảm thấy vô cùng nhục nhã.' "Và rồi con bé nhìn tôi như thể tôi là một kẻ ngốc. Con bé nói: "Cháu đã cảm thấy nhục nhã trong từng phút giây của cuộc đời mình kể từ khi bước vào lớp Một. Cháu quen rồi."
Một phần xuất phát từ trải nghiệm với cô gái kia và với chính con trai mình, Dykstra chia sẻ rằng trong các buổi tham vấn tâm lý cho thanh thiếu niên, ông luôn hỏi: 'Khi cháu bắt đầu đi học, có điều gì khó khăn hơn hẳn mọi thứ khác không?' Ông cho biết câu trả lời thường chính là chuyện đọc. Đối với những đứa trẻ không biết đọc, mỗi ngày đến trường đều tiềm ẩn nguy cơ của những nỗi ê chề lặp đi lặp lại, và mức độ tủi hổ ấy ngày càng tăng khi khoảng cách giữa chúng và bạn bè đồng trang lứa ngày càng nới rộng. Hanford nói với tôi: 'Nếu bạn là một đứa trẻ đang phải vật lộn với con chữ, bạn sẽ nếm trải thất bại rất nhanh, bạn sẽ rơi vào sự hoang mang tột độ, và điều đó thực sự đáng sợ đến mức kinh hoàng.'"
Đối với một nhà quản lý giáo dục, chứng khó đọc (dyslexia) có vẻ giống như một vấn đề tự thân nó sẽ biến mất, bởi lẽ nhiều người mắc chứng này thường bỏ học trước khi tốt nghiệp. Nhưng với một số người, tổn thương ấy vẫn tiếp diễn rất lâu sau khi rời ghế nhà trường. Kareem Weaver, đồng sáng lập của Fulcrum – một tổ chức phi lợi nhuận về giáo dục đọc viết tại Oakland – cho tôi biết rằng hơn 40% người trưởng thành đang thụ án tù tại Mỹ mắc chứng khó đọc, và có đến 8/10 người trong số đó thuộc dạng 'mù chữ chức năng'.
Mối tương quan giữa nạn mù chữ và việc bị giam giữ đã được biết đến từ lâu. Một báo cáo năm 1993 của Bộ Tư pháp đã tìm thấy 'hàng loạt bằng chứng về mối liên hệ giữa thất bại trong học tập và hành vi phạm pháp'. Báo cáo cũng chỉ ra rằng 'hoạt động dạy đọc dựa trên nghiên cứu khoa học có thể giúp giảm tỷ lệ tái phạm và gia tăng cơ hội việc làm cho tội phạm vị thành niên'. Việc dạy đọc cho tù nhân trưởng thành cũng mang lại hiệu quả tương tự đối với tỷ lệ tái phạm và việc làm. Rõ ràng, can thiệp sớm mang lại hiệu quả cao hơn, đồng thời cũng nhân văn hơn. Và nó còn ít tốn kém hơn nữa. Chi phí trung bình để duy trì một tù nhân tại trại giam Rikers Island lên tới hơn nửa triệu đô-la một năm.
Chứng khó đọc của Caroline được phát hiện vào năm lớp hai, và sau đó con bé đã dành ba năm theo học tại Windward, một trường tư thục bán trú dành cho trẻ gặp khuyết tật học tập dựa trên ngôn ngữ. Trong khoảng thời gian con bé ở đó, tức đầu những năm 2000, Windward có một trường tiểu học và trung học cơ sở tại White Plains. Kể từ đó, trường đã mở rộng thêm cơ sở tại Upper East Side, với tổng số học sinh ghi danh khoảng 950 em. Khi Caroline mới nhập học, trình độ đọc của con bé chỉ ở mức tiền mẫu giáo, đi kèm với chứng mất ngủ và nỗi lo âu dữ dội. Tất cả những triệu chứng đó đều tan biến ngay khi con bé bắt đầu biết đọc.
Chương trình giáo dục đọc viết có cấu trúc được áp dụng cho những học sinh nhỏ tuổi nhất tại Windward có tên là P.A.F. – viết tắt của 'Preventing Academic Failure' (Ngăn ngừa Thất bại Học đường). Đây là một phiên bản thích ứng của phương pháp Orton-Gillingham nổi tiếng dùng để dạy người mắc chứng khó đọc và những người gặp khó khăn khi đọc.
Samuel Orton là một nhà bệnh học và bác sĩ tâm thần kinh. Vào những năm 1920, ông nhận thấy những người bị tổn thương bán cầu não trái gặp phải các khó khăn về đọc tương tự như một số trẻ em thông minh nhưng lại có kết quả học tập kém ở trường. Ông gọi những khó khăn này là 'strephosymbolia' (hội chứng đảo ngược biểu tượng), một từ mới được ghép từ gốc Hy Lạp có nghĩa là 'các ký hiệu bị đảo ngược'. Ngay cả khi chưa có các công nghệ quét não hiện đại, ông đã suy luận chính xác rằng tình trạng này liên quan đến sự gián đoạn của cái mà Seidenberg sau này gọi là 'sự dịch chuyển sang trái' (leftward shift) trong não bộ của một người đang tập đọc. (Hoạt động ngôn ngữ diễn ra ở cả hai bán cầu não nhưng sẽ tập trung dần về phía bên trái khi chúng ta học đọc).
Anna Gillingham là một nhà giáo dục, người đã nhận được sự khích lệ từ Orton để phát triển các phương pháp và tài liệu giảng dạy dựa trên sự hướng dẫn trực tiếp (explicit instruction), tập trung sâu vào mối quan hệ giữa ngôn ngữ nói và cách biểu thị nó trong văn viết. Học sinh sẽ tuân theo một trình tự các bước ngày càng phức tạp, bao gồm những việc như nối âm với chữ cái và phân tách âm tiết, với tần suất lặp lại rất cao. (Một chuyên gia về đọc viết nói với tôi: 'Một người học điển hình cần lặp lại từ 3 đến 5 lần. Một người gặp khó khăn khi đọc có thể cần 10 đến 20 lần. Còn một người mắc chứng khó đọc có thể cần đến 200 lần lặp lại'). Orton-Gillingham không phải là cách tiếp cận duy nhất để dạy trẻ em khuyết tật đọc – và một số kỹ thuật của nó, chẳng hạn như dùng tay mô phỏng nét chữ trong không trung, thì thầm hoặc đọc to từ vựng, vẫn còn gây tranh cãi – nhưng các phương pháp dựa trên nền tảng này hiện được sử dụng rộng rãi tại Mỹ trong các chương trình điều trị chứng khó đọc."
Vào đầu tháng Chín, tôi đến thăm cơ sở tiểu học của Windward tại White Plains, nơi dành cho học sinh từ lớp một đến lớp năm. Đứng quan sát từ bãi đậu xe, tôi thấy các em được bố mẹ và xe buýt nhà trường đưa đến. Các nhân viên đứng đón từng em ngay trên vỉa hè trước tòa nhà, trong khi một giáo viên bật nhạc sôi động từ chiếc loa thùng. Sự hứng khởi với trường lớp là điều hiếm thấy ở trẻ mắc chứng khó đọc, nhưng ở đây, tôi đã thấy những nụ cười, tiếng cười đùa và những cái đập tay đầy phấn khích. Với nhiều em trong số đó, Windward có lẽ là ngôi trường đầu tiên mà việc chỉ cần có mặt vào buổi sáng không làm chúng tràn ngập nỗi khiếp sợ.
Cuối ngày hôm đó, tôi cùng Jamie Williamson, hiệu trưởng nhà trường, vào dự giờ một lớp đọc lớp năm. Một dải băng dính màu đỏ chạy dọc theo mép trái bàn học của từng em, đóng vai trò như một nhắc nhở trực quan rằng văn bản tiếng Anh luôn đi từ trái sang phải. Một tấm biển treo phía trước lớp học ghi dòng chữ: 'VIỆC ĐẦU TIÊN TỚ LÚC NÀO CŨNG LÀM... CẦM BÚT LÊN VÀ VIẾT TÊN MÌNH NHÉ!'
'Chúng ta sẽ cùng đi săn nguyên âm nào', cô giáo nói. 'Nào, hãy đeo kính săn nguyên âm của các em vào'. Từ máy tính xách tay, cô chiếu các từ vựng lên bảng trắng, từng từ một. Từ đầu tiên là 'picnic' (dã ngoại).
'Nhiệm vụ đầu tiên là gạch chân các nguyên âm', cô hướng dẫn. 'Ai có thể giơ tay và cho cô biết chúng ta cần gạch chân những nguyên âm nào trong từ này?'
'Cả hai chữ i ạ', một bé gái trả lời.
Nhiệm vụ tiếp theo là đặt một dấu chấm vào giữa bất kỳ cặp phụ âm nào.
'Cô sẽ đặt dấu chấm ở đâu đây? Scarlett?'
'Ở giữa chữ c và chữ n ạ'.
'Ngay tại chỗ đó. Em làm đúng rồi. Rất tốt'.
Sau đó, một học sinh thực hiện thao tác 'vòng' âm tiết bằng cách vẽ các đường cong hình võng dưới chữ 'pic' và 'nic' trên bảng trắng. Cuối cùng, cả lớp cùng đọc to từ đó lên.
Sau khi đã xử lý nửa tá từ vựng theo quy trình y hệt như vậy, cô giáo nói: 'Cô nghĩ chúng ta đã sẵn sàng để tự viết các âm tiết của riêng mình rồi. Các em hãy cầm bút lên và đặt đầu bút vào dòng trắng tiếp theo nào. Sẵn sàng chưa?' Trong khi học sinh làm bài, một giáo viên thực tập đi đến từng bàn để quan sát và sửa lỗi ngay lập tức.
Các giáo viên tại Windward tuân thủ những giáo án có cấu trúc cực kỳ chặt chẽ. Học sinh phải nằm lòng các quy tắc về âm chữ cái, các tổ hợp chữ và ngữ pháp. Các em cũng được hướng dẫn về tư duy tổ chức và viết bài luận. Sự tiến bộ của học sinh được theo dõi và đánh giá sát sao; các lớp học đọc thường xuyên được sắp xếp lại để đảm bảo mỗi em luôn được xếp nhóm cùng những bạn có trình độ tương đương.
Sau ba đến năm năm, gần như tất cả học sinh Windward đều chuyển tiếp sang các trường phổ thông chính quy. Khi Caroline rời trường sau khi học hết lớp năm, kỹ năng đọc của cô đã đạt mức bách phân vị thứ 95 (top 5% xuất sắc nhất), và sau đó cô còn đủ điều kiện vào chương trình tài năng tại ngôi trường mới. Windward không chỉ biến cô thành một người ham đọc sách mà còn là một cây bút cừ khôi. (Vào cuối năm thứ ba tại đây, cô bé đã viết một bài thơ có câu kết: 'Vậy hãy đến và đọc, hãy đến và đọc đi / Hãy đến khoác lên mình Đôi cánh của Văn chương!').
Tuy nhiên, chứng khó đọc là một tình trạng theo con người ta suốt đời. Cô chia sẻ với tôi rằng cô vẫn đọc chậm, đặc biệt là các tài liệu học thuật, và khi viết, đôi khi cô vẫn đánh vần một từ theo nhiều cách khác nhau ngay trong cùng một đoạn văn. Nhưng nếu không có sự giúp đỡ tại Windward, sự nghiệp khi trưởng thành của cô hẳn là điều không thể.
Ngay trước chuyến thăm của tôi, Windward đã tổ chức các buổi định hướng cho phụ huynh mới. Williamson kể lại rằng tại một buổi họp, một người mẹ đã tâm sự với ông chuyện con gái bà đi học về trong tuần đầu tiên và nằng nặc đòi đặt mua một cuốn sách để hai mẹ con có thể cùng đọc trên ghế sô-pha vào buổi tối. Người mẹ kể rằng lúc đó bà đã phải kiếm cớ để vào nhà vệ sinh, đóng chặt cửa lại và bật khóc. Bà nói với Williamson rằng con gái bà chưa bao giờ muốn cầm đến một cuốn sách trước đây. 'Và đó mới chỉ là ngày đi học thứ ba thôi đấy', ông nói.
Mỗi năm, đội ngũ giảng viên của Windward đào tạo khoảng một ngàn năm trăm giáo viên từ các trường khác, cả trực tiếp lẫn trực tuyến, thông qua một chương trình mang tên Viện Windward. Mùa hè vừa qua, viện đã làm việc với các giáo viên tại Học viện Đọc hiểu Trung tâm Brooklyn (C.B.L.A.) ở Crown Heights – một trường tiểu học công lập mới dành cho những học sinh gặp trở ngại trong việc đọc, bao gồm cả trẻ mắc chứng khó đọc (dyslexia).
Williamson chia sẻ với tôi rằng ban đầu phần lớn giáo viên đều tỏ ra hoài nghi, chủ yếu vì họ lo ngại phương pháp P.A.F. sẽ thu hẹp không gian sáng tạo của mình. "Trước khi thực sự bước vào lớp với bọn trẻ, họ kiểu như: 'Cái này chắc sẽ là thứ chán ngắt nhất trần đời cho mà xem'," ông kể. Thế nhưng, khi bắt tay vào làm việc với học sinh, họ đã thay đổi quan điểm. "Họ hiểu rõ bọn trẻ, vì chúng đến từ chính ngôi trường của họ," ông nói. "Vậy nên họ biết rõ đứa trẻ này vốn không thể ngồi yên, học hành chật vật và hay gây mất trật tự. Nhưng rồi đột nhiên, chính đứa trẻ đó lại trở thành tâm điểm, thực sự hào hứng và nỗ lực hết mình."
C.B.L.A. là trường công lập thứ hai trong thành phố được mở riêng cho trẻ em khuyết tật về đọc. Ngôi trường đầu tiên là Học viện Đọc hiểu Nam Bronx (S.B.L.A.), đi vào hoạt động năm 2023. Cả hai ngôi trường đều là thành quả từ nỗ lực nhiều năm của Literacy Academy Collective (L.A.C.) – một tổ chức do sáu người phụ nữ có con mắc khuyết tật học tập sáng lập. Những người phụ nữ này gặp nhau lần đầu vào năm 2019, gắn kết với nhau bởi nỗi thất vọng chung trước sự thất bại của thành phố trong việc dạy con họ biết đọc.
Năm 2021, với đội ngũ giáo viên được Viện Windward đào tạo, L.A.C. đã tổ chức thí điểm một trường hè kéo dài sáu tuần tại Harlem. Tổ chức này tiếp tục mô hình tương tự tại Bronx vào mùa hè năm sau, rồi triển khai chương trình thí điểm kéo dài một năm cho hai lớp học sinh tại một trường hiện hành, cũng nằm ở Bronx. Chương trình thí điểm thành công rực rỡ, và khi năm học chưa trôi qua được một nửa, Sở Giáo dục đã bắt đầu quy trình thành lập S.B.L.A. Đến khi trường mở cửa, con cái của những người phụ nữ ấy đã quá lớn để có thể theo học, nhưng tổ chức của họ vẫn tham gia sâu sát, vừa bổ sung ngân sách cho cả hai học viện đọc hiểu bằng nguồn gây quỹ tư nhân, vừa hỗ trợ về mặt hành chính và chuyên môn đứng lớp. (Câu chuyện của họ đã được kể lại trong bộ phim tài liệu "Left Behind", phát hành năm 2025.)
Tôi ghé thăm S.B.L.A. vào tháng Chín. Ngôi trường nằm trọn trên một tầng của tòa nhà dùng chung, tọa lạc trên một con phố chật hẹp, đông đúc, cách Sân vận động Yankee chừng nửa dặm. Lúc ấy mới chớm đầu năm học, các nhân viên đang phải xoay xở với những rắc rối nảy sinh từ các tuyến xe buýt cùng nhiều thách thức giao thông khác—một vấn đề nan giải, bởi trường tiếp nhận học sinh từ những vùng xa bên ngoài khu dân cư này. Bethany Poolman, hiệu trưởng nhà trường, nói với tôi: "Đường xá quanh đây toàn là đường một chiều, nên lỡ mà bị kẹt thì có khi kẹt cứng ở đó mãi luôn."
Poolman mang trong mình nguồn năng lượng của một đội trưởng đội cổ vũ, cô làm việc gần như hết công suất suốt cả ngày dài—từ việc đứng lớp thay cho giáo viên vắng mặt, lùng sục tìm kiếm giáo cụ bị thất lạc, cho đến can ngăn những vụ xô xát trên sân chơi. Cô tốt nghiệp chuyên ngành tôn giáo tại Đại học Haverford, sau đó gia nhập tổ chức Teach for America với vai trò giáo viên giáo dục đặc biệt tại một trường trung học cơ sở ở Bronx. Cô đã gắn bó ở đó cả một thập kỷ trước khi chuyển sang làm công tác quản lý. "Chúng tôi vừa nhận hai học sinh mới toanh được xếp vào nhóm có kỹ năng đọc thấp nhất," cô chia sẻ. "Các em vừa mới nhập học, cả hai đều ngoan hiền như cục bột, nhưng lại chưa thể gọi tên được hết hai mươi sáu chữ cái." Một trong hai em đã bị lưu ban đến hai lần. Thay vì xếp em vào học cùng những đứa trẻ kém mình hai tuổi, nhà trường chỉ xếp em học chậm lại một lớp và chỉ định một chuyên viên hỗ trợ đọc để kèm cặp, giúp em bắt kịp đà học.
Nếu trò chuyện với cậu bé, bạn sẽ chẳng nhận ra điều gì bất thường đâu," cô nói. "Nhưng rồi khi đặt ba chữ cái trước mặt, em ấy lại không thể đọc nổi chữ 'cat' (con mèo).
Tôi bày tỏ sự ngỡ ngàng khi những đứa trẻ có thể tiến xa đến thế trong trường học mà vẫn chưa thuộc mặt chữ cái.
"Đúng vậy," Poolman đáp. "Nhưng giờ thì các em đã ở đây rồi."
Cô giới thiệu tôi với ba bé gái lớp năm, hiện đang học năm thứ ba tại S.B.L.A. Tôi hỏi các em nhớ gì về những ngôi trường cũ từng theo học.
"Nếu bọn cháu đọc không đúng từ, bọn cháu sẽ bị bắt ở lại trong lớp giờ ra chơi," một em kể. "Bọn cháu phải chép phạt cái từ đó, kiểu như mười lăm lần ấy, cho đến khi làm đúng mới thôi. Nhưng rồi bọn cháu vẫn phải ngồi lì trong lớp, vì các thầy cô bảo có ra sân bây giờ cũng chẳng để làm gì vì đâu còn đủ thời gian."
Đối với học sinh tiểu học, mất giờ ra chơi chẳng khác nào bị biệt giam. Với những đứa trẻ mắc chứng khó đọc và gặp các trở ngại đọc hiểu khác, những bạn vốn dĩ đã cảm thấy lạc lõng, thì việc không được phép vui chơi cùng bạn bè càng khiến quá trình hòa nhập xã hội trở nên khó khăn hơn bội phần. Các cô bé kể rằng bạn học cũ thường trêu chọc các em, nhưng ở đây thì không ai làm thế nữa. Các em thích đi học. Các em quý mến thầy cô. Và các em sắp sửa "tốt nghiệp" để chuyển sang đọc những cuốn truyện dài.
Năm 1975, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật mà ngày nay được gọi là Đạo luật Giáo dục cho Người Khuyết tật (IDEA), trong đó đảm bảo quyền được hưởng một nền "giáo dục công lập phù hợp và miễn phí" cho trẻ em khuyết tật. Đến năm 1993, Tòa án Tối cao ra phán quyết rằng đạo luật này có thể buộc các khu học chánh phải chi trả học phí trường tư thục nếu hệ thống công lập tương đương không đáp ứng được yêu cầu. Tuy nhiên, việc vận dụng quy định này cho trẻ mắc chứng khó đọc chưa bao giờ là điều dễ dàng.
Để đủ điều kiện, các bậc phụ huynh phải đệ trình một Chương trình Giáo dục Cá nhân hóa (IEP) – một văn bản pháp lý liệt kê chi tiết các nhu cầu giáo dục đặc biệt của con mình (vốn bắt buộc phải được cập nhật thường xuyên). Ngoài ra, trong một số trường hợp, họ còn phải nộp kết quả đánh giá tâm lý thần kinh, thứ có thể tiêu tốn hàng nghìn đô la. Họ cũng phải chứng minh được rằng hệ thống công lập đã "hết cách", không còn khả năng đáp ứng nhu cầu của con em họ.
Nhiều bậc cha mẹ có con mắc chứng khó đọc thậm chí còn không biết đến sự tồn tại của khoản hỗ trợ này, và ngay cả khi biết, họ cũng không đủ tài chính để đáp ứng các yêu cầu thủ tục hoặc thuê luật sư để đấu tranh giành quyền lợi cho con. Học phí tại Windward rơi vào khoảng bảy mươi sáu nghìn đô la một năm, và các chương trình tư thục khác dành cho chứng khó đọc cũng có mức chi phí đắt đỏ tương đương. Phần lớn trong khoản ngân sách 2,3 tỷ đô la mà Thành phố New York chi hàng năm cho các "trường ngoài công lập và trường hợp đồng theo quy định về Giáo dục Đặc biệt" lại mang lại lợi ích cho những gia đình khá giả – những người có đủ tiềm lực để ứng trước học phí trường tư rồi kiện thành phố để được bồi hoàn.
S.B.L.A. và C.B.L.A. sử dụng một số tài liệu giảng dạy tương tự như Windward, nhưng vì là trường công lập hoạt động bằng ngân sách nhà nước, họ phải đối mặt với những ràng buộc mà Windward không gặp phải. Windward có quyền giới hạn tuyển sinh, chỉ nhận những học sinh đã có chẩn đoán xác thực và gần như chắc chắn sẽ đạt kết quả tốt từ chương trình của họ. Trường này sở hữu nguồn quỹ hỗ trợ tài chính dồi dào, chi trả gần như toàn bộ chi phí cho một số học sinh, thế nhưng nhìn những đứa trẻ đi lại trong hành lang (và những chiếc xe hơi tôi thấy ở khu vực đưa đón), chúng chẳng hề "lạc nhịp" chút nào nếu được đặt vào khuôn viên của bất kỳ trường tư thục siêu đắt đỏ nào ở Westchester.
Ngược lại, các học viện đọc hiểu tiếp nhận nhiều trẻ em gặp khó khăn không chỉ dừng lại ở việc đọc: những vấn đề nghiêm trọng về cảm xúc, hay vốn tiếng Anh ít ỏi. Giáo viên mới tại Windward được dành hẳn hai năm đào tạo trước khi tự mình đứng lớp – một mô hình tập sự dài hạn mà các học viện công lập không thể nào sánh kịp. Hơn nữa, các học viện này còn phải đáp ứng những yêu cầu của thành phố và tiểu bang mà trường tư được miễn, bao gồm cả các bài kiểm tra chuẩn hóa – thứ vốn chiếm dụng thời gian giảng dạy quý báu mà chưa chắc đã mang lại ý nghĩa thực tiễn gì cho học sinh của họ.
Dẫu vậy, các học viện này vẫn tạo ra những tác động tích cực lên học sinh và gia đình tương tự như những gì Windward đã làm. Ruth Genn, Giám đốc điều hành kiêm đồng sáng lập của L.A.C., chia sẻ với tôi rằng bà hy vọng trong vài năm tới sẽ có một mạng lưới gồm năm hoặc sáu học viện đọc hiểu trên khắp thành phố. Tuy nhiên, mục tiêu tối thượng của tổ chức là "rút ra bài học từ những ngôi trường này và lồng ghép các khía cạnh hoạt động của chúng vào toàn bộ hệ thống giáo dục." L.A.C. đã đóng vai trò then chốt trong việc thay đổi cách thức đào tạo giáo viên tại Bang New York. Genn cho biết một thời điểm mang tính bước ngoặt đã diễn ra vào năm 2023, khi các quan chức giáo dục thành phố tuyên bố họ sẽ không tuyển dụng những giáo viên chưa được đào tạo về Khoa học về Việc Đọc (Science of Reading).
Tại S.B.L.A., các khối lớp nhỏ thường dễ còn chỉ tiêu tiếp nhận học sinh mới hơn so với các khối lớp lớn—và điều tương tự cũng diễn ra tại Windward. Lý do không phải vì chứng khó đọc ít phổ biến hơn ở trẻ nhỏ, mà bởi giáo viên và phụ huynh thường không nhận diện được các vấn đề về đọc cho đến khi chúng trở nên quá rõ ràng. "Ở lớp hai, chưa ai cuống cuồng lên cả," Poolman nói. "Khi trò chuyện với các gia đình, bạn sẽ thấy mức độ khẩn trương thấp hơn hẳn, bởi giáo viên của trẻ vẫn chưa gióng lên hồi chuông cảnh báo với họ." (Cô cho biết khi S.B.L.A. mới mở cửa, có tới mười nghìn học sinh lớp hai và lớp ba tại Bronx đủ điều kiện nhập học). Một thành tựu của vị thị trưởng sắp mãn nhiệm của thành phố, Eric Adams—người cũng mắc chứng khó đọc và từng tranh cử với cương vị là một nhà cải cách giáo dục—chính là việc thành phố đã bắt đầu sàng lọc nguy cơ mắc chứng khó đọc cho tất cả học sinh từ mẫu giáo đến lớp chín.
Việc can thiệp sớm hơn sẽ giúp mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn. Gaab chia sẻ với tôi rằng bà quan niệm quá trình đọc thực chất đã bắt đầu từ trong bào thai, bởi đó là lúc sự cảm thụ âm thanh và ngôn ngữ khởi nguồn. Trong cuốn sách "Language at the Speed of Sight" (Ngôn ngữ ở Tốc độ của Thị giác), Seidenberg đã trích dẫn một nghiên cứu dài hạn sử dụng phương pháp điện não đồ (EEG). Nghiên cứu này chỉ ra rằng các chỉ số đo lường hoạt động não bộ của trẻ sơ sinh khi phản ứng với lời nói "có mối liên hệ mật thiết với kỹ năng ngôn ngữ nói của chính những đứa trẻ đó khi lên ba và năm tuổi, cũng như các khiếm khuyết về đọc khi lên tám tuổi."
Những phát hiện như vậy tạo nên một lập luận đanh thép cho việc nhận diện trẻ có nguy cơ càng sớm càng tốt, khi những sự chênh lệch vẫn còn nhỏ và trẻ gặp khó khăn ít có nguy cơ phải gánh chịu những tác động tiêu cực về bất kỳ mặt nào. Seidenberg nói với tôi rằng một trong những chỉ dấu rõ ràng nhất ở trẻ nhỏ chính là tiền sử gia đình. (Caroline có một người chú đã vật lộn suốt thời đi học với thứ mà ông nghi ngờ là chứng khó đọc.) Hiện tại, Gaab và các đồng nghiệp đang phối hợp với các thủ thư và bác sĩ nhi khoa để xây dựng một quy trình sàng lọc chuẩn.
Tôi quay lại S.B.L.A. vào tuần lễ trước Lễ Tạ ơn và cùng Poolman đi dự giờ vài lớp. Trong một lớp học, năm học sinh ngồi quanh một chiếc bàn hình chữ U. Giáo viên ngồi ở vị trí trung tâm, nhờ đó cô có thể quan sát bài vở của tất cả học sinh mà không cần di chuyển. "Được rồi các em. Cô sẽ đọc một câu," cô nói. "Sau đó cô sẽ đọc lại lần nữa. Các em sẽ nhắc lại câu đó, rồi mới viết xuống nhé. Sẵn sàng chưa? Họ biết bơi. Họ biết bơi."
"Các giáo viên cung cấp những 'giàn giáo' hỗ trợ (scaffolds), và có cả một khoa học đằng sau việc đó, bởi bạn sẽ không muốn giúp học sinh nhiều hơn mức cần thiết," Poolman giải thích. Cô giáo đọc chính tả một câu khác. Một cậu bé viết chữ "d" ngược, trông giống chữ "b", nhưng cô giáo chỉ nhìn cậu rồi nhìn vào từ đó, và cậu bé tự phát hiện ra lỗi của mình. Poolman tiếp lời: "Nếu cậu bé không hiểu, cô giáo sẽ nhắc, nhưng cô ấy đã không đưa ra sự trợ giúp dư thừa. Giáo viên phải học cách làm được như thế. Điều đó chẳng dễ chút nào."
Tiếng nhạc vang lên qua hệ thống loa phát thanh báo hiệu kết thúc tiết học. Poolman và tôi đứng giữa hành lang chính, dòng học sinh tuôn ra lướt qua hai bên. "Cô bé vừa đi ngang qua kia đang học năm thứ ba ở đây," cô nói. "Hồi mới vào trường, em ấy không đọc nổi một chữ. Trong giờ tập đọc, em cứ gục đầu xuống bàn mà ngủ—giống như kiểu mắc chứng ngủ rũ do quá lo âu vậy." Thế nhưng, dần dần, em đã thay đổi. "Tôi nhớ cái ngày em ấy lần đầu tiên đọc to thành tiếng," Poolman kể lại. "Em ấy phấn khích đến độ cả người run lên." ♦

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

