Độc Tiểu Thanh ký – Tri âm giữa Đại thi hào Nguyễn Du và nàng Tiểu Thanh tài hoa bạc mệnh
“Có tài mà cậy chi tài / Chữ tài liền với chữ tai một vần.”
Văn học mang đến cho con người những bài học giáo dục theo nhiều cách khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào việc người đọc giải mã tác phẩm như thế nào. Những nhà văn, nhà thơ sẽ mã hoá thông điệp của mình vào một hình ảnh, một chi tiết hay một nhân vật nào đó trong tác phẩm của chính bản thân họ.
Thông qua số phận bi đát của nàng Tiểu Thanh, Đại thi hào Nguyễn Du đã bày tỏ sự đồng cảm tinh tế với những kiếp người tài hoa bạc mệnh, bị chà đạp trong xã hội phong kiến thối nát. Hơn thế nữa, bài thơ còn là bức thông điệp nhân đạo gửi gắm đến muôn đời sau, thể hiện rõ tư tưởng nhân nghĩa cao cả và tấm lòng thương người sâu nặng của ông.
Đôi nét về nàng Tiểu Thanh
Tương truyền nàng Tiểu Thanh tên đầy đủ là Phùng Tiểu Thanh, nàng là một cô gái người Trung Quốc sống khoảng đầu thời nhà Minh, nhiều ý kiến cho rằng nàng là người Dương Châu, con nhà gia thế, tên chữ là Phùng Huyền Huyền. Vốn thông minh nên từ nhỏ nàng đã thông hiểu các môn nghệ thuật cầm kỳ thi họa, lại có phong tư lộng lẫy hơn người. Năm 16 tuổi, “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê”, nàng được gả làm vợ lẽ cho Phùng Sinh, một công tử nhà gia thế. Thế nhưng, vợ cả của Phùng Sinh tính tình hay ghen lại độc đoán, bắt nàng ra sống riêng trên Cô Sơn, gần Tây Hồ. Vì quá cô đơn và đau buồn, nàng sinh bệnh rồi qua đời khi mới tròn mười tám xuân xanh. Những đau khổ muộn phiền được gửi gắm vào thơ nhưng phần lớn bị bà vợ cả của chồng đem đốt hết, may mắn còn một số bài sót lại. Người ta cho khắc in số thơ đó, đặt là Phần dư tập.

Độc Tiểu Thanh ký
Độc Tiểu Thanh ký là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật được Nguyễn Du sáng tác khi đọc về cuộc đời nàng Tiểu Thanh. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tác phẩm có liên quan đến thời gian ông đi sứ Trung Quốc, khi câu chuyện về người tài nữ bạc mệnh này đã gợi lên trong ông nhiều suy tư và đồng cảm.
Nếu những khúc nhạc du dương trầm bổng là phương tiện để kết nối trái tim người với người thì văn chương lại là phương tiện giúp kết giao linh hồn giữa những con người xa lạ, văn chương là một khung cửa sổ tương thông lòng người với vũ trụ, tương thông lòng người với tình người. Có lẽ, bài thơ Độc Tiểu Thanh ký là cánh cửa giúp kết nối hai con người của hai thời đại khác nhau thông những mảnh thơ tàn của một tài hoa bị vùi dập, Nguyễn Du người sống ở thời đại sau này đã cảm nhận được và thổn thức đau thương. Chỉ qua một tập thơ mỏng còn sót lại, ông đã hoàn toàn cảm thấu được những nỗi đau và sự tuổi nhục mà nàng Tiểu Thanh đã phải chịu đựng, sự đồng cảm ấy đã vượt qua cả rào cản về không thời gian, nó đã giúp nối liền tâm hồn giữa những con người khác thời đại, gắn kết họ trở thành những người bạn tri âm.
Thế nhưng bài thơ không chỉ thể hiện sự thấu hiểu giữa hai người bạn tri âm mà còn lên án cái xã hội phong kiến lỗi thời, nơi những người có tài bị vùi dập không thương tiếc. Số phận như thể đang muốn trêu đùa với họ một cách quá đáng, những người nghệ sĩ có tài, có đức, nhưng lại chẳng có duyên với đời.
Dù thời thế ra sao, cái đẹp vẫn sẽ mãi trường tồn
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.”
(Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.)
Chỉ qua một tập thơ mỏng manh, sứt mẻ, Nguyễn Du đã đi sâu vào tận cùng nỗi đau của Tiểu Thanh. Ông xót xa cho nhan sắc và tài năng đã bị vùi dập không thương tiếc.
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.”
(Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương.)
Cái đẹp thực sự – dù là sắc đẹp hay tài năng – vốn dĩ mang trong mình một sức sống mãnh liệt. Dù cho có bị chôn vùi trong nấm mồ lạnh lẽo hay bị đốt thành tro bụi, cái hồn của nó vẫn vương vấn, vẫn uất hận không tan. Sự tàn nhẫn của xã hội phong kiến có thể hủy hoại thể xác Tiểu Thanh, phá hủy những di cảo của nàng, nhưng không thể xóa sổ đi sự tồn tại của cái đẹp.
Cái án phong lưu và nỗi hờn kim cổ
Nguyễn Du không nhìn Tiểu Thanh như một nạn nhân cá biệt của thói ghen tuông tầm thường. Dưới lăng kính của ông, bi kịch của nàng là bi kịch mang tính phổ quát của những kẻ tài hoa bạc mệnh trong một xã hội thối nát.
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kỳ oan ngã tự cư.”
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.)
Nỗi đau của Tiểu Thanh đã hòa vào nỗi hờn kim cổ – một câu hỏi lớn đầy phẫn uất ném lên trời cao nhưng mãi mãi không nhận được lời hồi đáp. Tại sao những người có tài, có tình lại luôn phải chịu kết cục bi đát? Chính tại dòng thơ này, khoảng cách ba trăm năm bị xóa nhòa. Nguyễn Du không còn là một người đứng ngoài thương vay khóc mướn, ông đã bước vào câu chuyện và tự nhận mình cũng mang cái án phong lưu như nàng Tiểu Thanh. Cuộc sống vốn dĩ là một chuỗi luân phiên của vô thường, nhưng dường như sự nghiệt ngã lại luôn chực chờ để nuốt chửng những tâm hồn nhạy cảm. Giữa hàng vạn người lướt qua nhau, sự tương thông về hoàn cảnh, về góc nhìn đầy bi quan mà sâu sắc trước thời cuộc đã gắn kết hai con người xa lạ thành những tri kỷ thực sự.
Tiếng thở dài của một kiếp cô đơn
Khóc cho người, rồi bất giác giật mình khóc cho chính mình. Sự đồng cảm tột độ cuối cùng lại dội ngược về một nỗi cô đơn tuyệt đích.
“Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng?)
Nàng Tiểu Thanh dù bạc mệnh nhưng sau ba thế kỷ vẫn còn có một Tố Như (tên tự của Nguyễn Du) thấu hiểu tận cùng nỗi oan khuất. Vậy còn Nguyễn Du thì sao? Liệu ba trăm năm sau, giữa cõi đời này, có còn ai đủ sự tinh tế, đủ sự đồng cảm để rơi một giọt nước mắt cho hồn thơ của Tố Như? Lời thơ khép lại nhưng lại mở ra một khoảng không hoang hoải. Đó là sự khao khát được thấu hiểu, khao khát một sợi dây liên kết giữa người với người trong một thế giới ngày càng chật hẹp và lạnh lẽo. Một trạng thái cô đơn gặp một kiếp cô đơn bất hạnh. Nguyễn Du đã khóc cho nàng Tiểu Thanh, khóc cho nàng qua một tập thơ nhỏ. Qua đó ta thấy được, tấm lòng của Đại thi hào Nguyễn Du mênh mông mà sâu lắng biết bao.
Tình thương của Nguyễn Du đối với Tiểu Thanh là tình cảm của những người tuy xa cách về hoàn cảnh nhưng lại tương đồng trong cảnh ngộ. Là tình cảm giữa hai người bạn tri âm thân thiết và cũng là sự thấu hiểu giữa hai người nghệ sĩ tài hoa. Từ nỗi thương mình mà xót xa cho người. Và từ sự thương cảm cho người lại tiếp tục gợi lên bao băn khoăn, day dứt cho kiếp mình, cái mà có lẽ cả đời Nguyễn Du cũng sẽ không tìm được ai khác ngoài nàng Tiểu Thanh để giúp ông giải bày bao tâm tư trong lòng.
Độc Tiểu Thanh ký là một tác phẩm tinh tế về sự cảm thông giữa người với người, thông qua ngòi bút uyển chuyển của một đại thi hào, Nguyễn Du đã cho người đọc thấy được những giá trị cốt lõi trong cuộc sống của mỗi con người, cho thấy góc nhìn đa chiều sâu sắc của ông về cuộc đời và cho thấy sự giao cảm, sự đồng điệu tri âm giữa những con người bị số phận và cuộc đời vùi dập một cách không thương tiếc.

Tái bút: Tôi viết bài viết này và một vài bài viết khác trong giai đoạn tìm hiểu về văn học Việt Nam thời trung đại cùng với 02 tập thơ được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm của Đại thi hào Nguyễn Du là Thanh Hiên thi tập (chữ Hán) và Đoạn trường tân thanh (chữ Nôm). Trong đó, Độc Tiểu Thanh ký nằm trong Thanh Hiên thi tập. Giờ đọc lại mới thấy văn phong ngày trước của mình vẫn còn lủng củng và ngây ngô. Nhưng thú thật, tôi rất trân trọng cảm giác được ngoái nhìn những điều mà bản thân từng làm trong quá khứ. Cuối cùng, sau một lúc biên tập lại, tôi chắc mẩm rằng bài viết này đã có thể đăng được rồi (hy vọng không có thêm sai sót gì khác).
Carol Vũ

Sách
/sach
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất
