[Dịch]: Tiểu sử Davout - Thống chế Sắt của nước Pháp Napoleon
Một tiểu sử ngắn của Chandler về thống chế Davout

Mở đầu
Trong số 26 thống chế của Napoleon, Davout là một trong những người đặc biệt nhất. Con người ông rất khó ưa, nhưng tài năng của ông lại tỏa sáng nhất trong hàng ngũ thống chế. Ông được nhìn nhận như địch thủ đáng sợ nhất trong các kẻ thù của Napoleon, nhưng lại không hề được các đồng nghiệp mấy kính yêu. Ông cũng là người trung thành nhất với Napoleon xuyên suốt 17 năm đồng hành cùng bên Hoàng đế, nhưng mỉa mai thay, ông chưa bao giờ nhận được niềm tin tuyệt đối từ Napoleon Bonaparte, Hoàng đế Pháp.
Người lính xuất thân quý tộc
Louis-Nicolas Davout ra đời ngày 10 tháng 5 năm 1770, tại Annoux, ngày nay là Yonne. Ông là thành viên của một gia đình quý tộc gốc Burgundy với truyền thống võ nghệ từ thời Thập Tự Chinh. Thời bấy giờ, có một câu nói -
“Khi nhà d’Avout có thêm con, một thanh kiếm như được tuốt ra khỏi vỏ”.
Không mấy ngạc nhiên, Davout bắt đầu sự nghiệp quân sự của mình và sau khi học tại trường quân sự Auxerre, vào ngày 27 tháng 9 năm 1785, khi mới 15 tuổi, ông gia nhập Học viện quân sự hoàng gia Paris, ngay khi Napoleon Bonaparte vừa mới rời đi để tham gia nhập ngũ. Học xong, đến tháng 2 năm 1788, Davout trẻ tuổi tham gia Trung Đoàn Kỵ Sĩ Hoàng gia tại Champagne, đặt căn cứ tại Hesdin.

Ông nhanh chóng thể hiện rõ bản thân là người có quan điểm chính trị rõ ràng-tự do thể hiện sự ủng hộ các tư tưởng mới và-nguy hiểm trên khắp đất Pháp, và rõ ràng thay, việc thể hiện sự ủng hộ đã đem đến cho Davout một vé vô ngục giam. Ngày 18 tháng 8, năm 1790, Davout bị bắt vì ủng hô một phái đoàn đến thăm Paris mà không có lệnh, bị giam tại Arras trong sáu tuần và bị ép phải từ chức. Sau khi được thả, ông trở về nhà Ravieres, và sau khi tuyên bố đơn từ chức của mình là không hợp lệ và trên thực tế là ép buộc, ông được phép nghỉ phép dài hạn. Hơn một năm sau đó, ông gần như không hoạt động và cuối cùng kết hôn người vợ đầu - một quyết định mà đã khiến Davout phải hối hận. Marie-Nicolle Adelaide ( họ cũ Seguenot ) là một hạng đàn bà lăng loàn và không may thay, cô ta lại không mấy ưa Davout.
Ngày 22 tháng 9 năm 1791, nhóm lính tình nguyện Yonne đã bắt đầu tổ chức bầu chọn các sĩ quan cấp cao, tại đây Davout được bổ nhiệm làm trung tá của Tiểu đoàn ba. Sau nhiều tháng trang bị - huấn luyện cùng với các công việc địa phương tại Auxerre, tháng 7 năm 1792, tiểu đoàn được điều động đến Tập đoàn quân Phương Bắc bên biên giới. Davout nhanh chóng trở nên nổi tiếng với sự táo bạo, dũng cảm và tinh thần cách mạng kiên định trong các cuộc tấn công của quân Pháp vào tiền đồn quân Áo quanh Conde. Đến đầu năm 1793, Davout đã đến Liege và chiến đấu trong trận Neerwinden vào ngày 18 tháng 3. Hai tuần sau, ông trở nên nổi tiếng trong mắt quần chúng nhân dân Paris khi vào ngày 9 tháng 4, ông chỉ huy quân lính của mình trong một nỗ lực gần như là vô vọng để bắt giữ tổng tư lệnh của Tập đoàn quân Phương Bắc, Dumouriez khi ông ta đang định đào tẩu sang phe Liên Quân. Tay tướng quân đã trốn thoát thành công, nhưng không hẳn là không chịu sát thương gì khi những viên đạn của Davout vẫn rít lên sau ông ta. Sự kiện này, không nghi ngờ gì nữa, đã là điểm mạnh để Davout được bổ nhiệm vào vị trí thiếu tá của lữ đoàn và vào tháng 7, ông trở thành tướng của lữ đoàn sau khi được điều chỉnh đến Vendee để dẹp loạn vùng này.
Tất cả vẫn diễn ra rất công bằng, và Davout vẫn có cơ hội để thăng chức, nhưng thảm họa đã ập đến vào tháng 8. Theo lệnh Hội nghị Quốc ước, tất cả những sĩ quan gốc quý tộc đều bị cấm nhập ngũ hoặc cách chức, và phải rời xa khỏi Paris. Davout-dù trên thực tế là một thành viên ủng hộ trung kiên của phe cộng hòa - đã phải về quê trong cay đắng. Một lần nữa về quê Ravieres, rắc rối vẫn chưa ngừng theo đuôi ông. Mẹ của ông bị bắt giam vì tình nghi, may mắn thay Davout đã có thể thiêu hủy được các thư từ nguy hiểm và mẹ của ông đã được tự do. Nhưng may mắn thay, ông đang ở cách xa Paris trong giai đoạn Triều Đại Khủng Bố, lúc này tình hình vẫn diện ra một cách hết sức khó lường cho Davout. Đến tháng 7 năm 1794, sau chính biến Thermidor và sự sụp đô của Jacobin cùng Robespierre, Davout đã có thể tiếp tục sự nghiệp quân sự của mình, và vào ngày 21 tháng 9, ông đã được tái bổ nhiệm làm tướng lữ đoàn. Davout sau dó đã tuyển sang đơn vị kỵ binh của Tập đoàn quân Moselle - Ta có thể đoán Davout cũng có quan hệ trong quân ngũ. Đến tháng 11, Davout đã trở thành thuộc cấp trực tiếp dưới quyền tướng Debrun, tư lệnh sư đoàn mới của ông khi Tập đoàn quân Moselle đang tiến hành vây Luxembourg.

Đến đây, Davout bắt đầu thể hiện năng lực cầm quân kỵ của mình. Chỉ huy 4,000 người, ông liên tiếp quấy phá quân Áo, giành được thành công nối tiếp thành công. Khi quân Pháp bắt đầu vây Thống chế Bender cùng 15,000 quân Áo của ông ta, Davout là người gió công đẩy lùi cuộc công kích lwosn của quân địch bằng cách chiếm được số khẩu pháo và đốt cháy ba kho ngũ cốc trong tầm bắn của súng hỏa mai. Ông tiếp tục dẫn hai đại đôi lính phóng lựu xuyên qua sương mù để tiến quân thâm nhập sâu vào vị trí của quân Áo vào ngày 4 tháng 3 năm 1795 - Một chiến công đầu mà Davout đã giành được chỉ với một người bị thương và người kia thì mất tích. Từ đó trở đi ông dần nổi danh trong lòng quân Pháp, và khi quân Áo cố gắng xuất kích trả thù, Davout tiếp tục gây đến 1,200 thương vong cho kẻ địch.
Mối quan hệ với Desaix

Tướng Desaix
Tháng 6 năm đó, Luxembourg đầu hàng, nhưng lúc đấy Davout đã được điều chuyển đến Tập đoàn quân Rhine và Moselle. Tham chiến quanh Mannheim, ông làm quen được với Tướng Louis Desaix, khi này đã trở thành một trong những người bạn thân nhất của ông. Ông cũng biết đến thống chế tương lai Oudinot trong khoảng thời gian này. Ngày 20 tháng 9, quân Pháp chiếm được Mannheim nhưng quân Áo nhanh chóng phản công giành lại được, và đến ngày 29 tháng 10, Davout cùng quân Pháp đã chiếm được đất này. Nhưng chỉ huy quân Pháp, Montaigu quyết định đầu hàng vào ngày 21 tháng 11 và Davout trở thành một tù nhân chiến tranh và chịu sự lăng mạ từ một sĩ quan trẻ người Áo.
Nhưng Wiirmser - tướng Áo thì sẽ không để như vậy, và ông trả tự do cho Davout theo chế độ ân xá. Trở về nhà và chờ đợi cơ hội, ông tận dụng thời gian quý báu của mình để nghiên cứu lịch sử và lý thuyết quân sự, đặc biệt là các tác phẩm của Chevalier Folard - tác phẩm này đã gây ấn tượng mạnh mẽ cho Davout và giúp ông xây dựng cách thức gây chiến với địch. Quãng thời gian này kết thúc vào tháng 10 năm 1796 khi ông được bổ nhiệm vào Tập đoàn quân Rhine, dù ban đầu không nắm quyền chỉ huy trực tiếp, ông tiếp tục làm giàu thêm kinh nghiệm của bản thân dưới trướng Tướng Moreau và ông bạn thân Desaix tại Kehl. Tháng 4 năm 1797, ông được trao quyền chỉ huy 1 đơn vị của tướng Duhesme và vào ngày 20 tháng 4, ông đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc vượt sông Rhine tại Dierheim. Ông chiếm được thị trấn Diersheim sau ba lần và lãnh đạo quân đội sau khi Duhesme bị thương. Trước các cuộc phản công ác liệt của quân Áo, Davout vẫn chống cự quyết liệt. Đến tối hôm sau, Davout cùng kỵ binh truy kích quân Áo suốt 25 dặm đến Biberach và Zell, dọc đường ông bắt được một cỗ xe ngựa của tướng Klinglin, chứa đầy các lá thư trao đổi giữa Pichegru và quân Áo. Tiếp tục hành quân đến Kinzig vào ngày 22 tháng 4, Davout cuối cùng dừng lại vì quân Áo lúc này đã ký kết Hiệp định đình chiến tại Leoben. Trước sự phiền lòng của Davout, ông không hề được nhắc đến tên trong lá thư chúc mừng đầu tiên của Hội đồng Đốc chính gửi đến Tập đoàn quân Moreau.

Tập đoàn quân Sambre và Meuse
May mắn thay, lá thư thứ hai thì có. Có vẻ như tướng Moreau-có quan hệ thân thiết với Pichegru cũng không mấy hài lòng về việc tiết lộ những âm mưu của Pichegru, nhưng ông vẫn công nhận phẩm chất và năng lực của Davout. Đen đủi thay, Davout cũng tiếp tục bị nghi ngờ khi tướng Augereau tiếp quản khu vực, một chủ quán trọ đã báo lại các đánh giá mỉa mai của Davout cho Augereau, điều này dẫn đến Davout cùng một sĩ quan tham mưu bị điều khỏi đơn vị của mình như một hình thức kỷ luật. Nhưng Davout vẫn có ông bạn thân Desaix.
Desaix, người bảo trợ của Davout đã dàn xếp để đưa ông đến Tập đoàn quân Anh Quốc vào ngày 12 tháng 1 năm 1798. 2 tháng sau ông giới thiệu Davout đến tổng tư lệnh mới của mình tại Paris. Chúng ta không có bản ghi chép lại về những gì đã diễn ra, nhưng Bonaparte đã chấp nhận lời đề xuất của Desaix và đến ngày 14 tháng 4, Davout đã được phong làm một vị tướng trong Tập đoàn quân Phương Đông, một Tập đoàn quân ssang chuẩn bị đến Ai Cập. Và như vậy, cả Napoleon và Davout đã bắt đầu một mối quan hệ chuyên nghiệp mà sẽ kéo dài trong gần 20 năm.

Davout tại Ai Cập
Nếu những trải nghiệm từ trước đến nay đã cho Davout kiến thức vững chắc trong việc chiến đấu giữa các hình thức vũ khí khác nhau, những năm tiếp theo sẽ mở rộng đáng kể năng lực và tầm nhìn uân sự của ông. Với Davout, Ai Cập là một trải nghiệm khó chịu, nhưng như nhều người khác được tôi rèn qua lửa, Davout đã nâng cao đáng kể phẩm cách lẫn năng lực quân sự của mình. Ban đầu được điều động đến sư đoàn của Dumass, ông được chuyển đến chỉ huy kỵ binh cùng Desaix và sau đó tiếp tục hành động cùng nhau cho đến khi cả hai rời Ai Cập vào năm 1800.
Việc thiếu ngựa đã dẫn đến kỵ binh Pháp chỉ còn là những người quan sát và trinh sát, được đặt bên trong các ô vuông bộ binh trong các trận chiến tại Shubrakhit và Kim Tự Tháp, nhưng có vẻ như Davout đã nhận được lời khen của tướng quân Bonaparte. Đến Cairo, ông may mắn sống sót qua căn bệnh kiết lỵ hiểm ngoài và sau đó được giao nhiệm vụ kiếm ngựa cho kỵ buinh. Tập đoàn quân Phương Đông chỉ mang về được ⅓ quân nhu cần thiết, thế nên việc có thêm ngựa từ quân Mameluke có thể giải quyết được điều đó - nhưng không may thay, đấy là điều hão huyền. Davout vẫn tiếp tục ban hành các sắc lệnh hà khắc, trưng dụng ngựa từ các sĩ quan và thường dân Pháp, nhưng điều này đã giúp ông được công nhận vì quyết tâm đến mức tàn bạo của ông. Đến ngày 2 tháng 12, Bonaparte đã có thể kiểm trá được lữ đoàn kỵ binh của Davout.

Murad Bey
Desaix được cử đến chinh phục Thượng Ai Cập và truy lùng thủ lĩnh quân Mameluke là Murad Bey, do đấy Davout chưa bao giờ phải sang đến Syria nhưng thay vào đó đã tham gia vào chiến dịch xuất sắc của ông bạn thân. Chỉ với 4,000 quân, họ đã chinh phục được một khu vực rộng lớn, kỵ binh của Davout thì đóng vai trò rất cần thiết. Xuyên suốt quá trình đó, đến tháng 5 năm 1799, họ đã giành được sáu chiến thắng. Đó là các trận đánh nhỏ mà nguy hiểm, và Davout giành được chiến thắng đặc biêt tại Sonagui - 1/3/1799, Samhoud 22/1/1799 và Redecieh 12/2/1799, tại đây ông tiêu diệt quân Mameluke dưới quyền tướng Hassan Bey bằng chiến thuật điều quân khéo léo, và lần nữa trong trận Bir-el-Bar đầy khó khăn. Đến tháng 5, Davout đã có thể viết lại “cả Ai Cập giờ đã đầu hàng về tay chúng ta [Tập đoàn quân Phương Đông]. Sau khi hội quân với Napoleon sau chuyến đi đến Syria, ông hành quân cùng quân đội bất chấp đang bị sốt nặng để đối đầu với quân Thổ trong trận Aboukir. Mặc dù tướng Murat đã giành được vinh quang trong trận chiến tiếp theo vào ngày 25 tháng 7 - kỵ binh của Davout chỉ được dùng để yểm trợ, ông đã tình nguyện phục vụ tướng Menou trong cuộc vây thị trấn và lâu đài Aboukir ngay sau đó. Đến ngày 30 tháng 7, ông đã chiếm được mọi tòa nhà trong thị trấn sau nhbieuef khó khăn. “Tin vui” - tướng Menou viết cho Bonaparte ‘Tướng Davout đã cầm quân rất xuất sắc - Ông đã chiếm được cả làng lẫn pháo đài. Một số lượng quân Thổ đã bị giết ngay trong các căn nhà”.
Chiến thắng này mang tính quyết định, và 3 ngày sau, toàn quân Thổ trong pháo đài đã đầu hàng.
Cả Desaix lẫn Davout đều không được chọn để đi cùng đoàn tùy tùng của Napoleon về Pháp trong vài tuần sau, nhưng thay vào đó ở Ai Cập dưới tướng Kleber, tại đây cả hai bắt đầu có những tranh cãi với nhau. Khi Kleber đề xuất đồng ý hòa ước El Arish ( cái mà về sau đã bị loại bỏ ), Davout là tướng quân duy nhất phản đối lại ông ta. Ngày 3 tháng 3 năm 1800, Desaix và Davout được quyền trở về Pháp nhưng ngay khi trê đường đi, dù có hộ chiếu, họ bị một tàu chiến hải quân Anh chặn lại và bị ép phải ở khu cách ly cảng Livorno trong vòng 1 tháng. Cuối cùng, may mắn thay, vào tháng 6, cả hai trở về Toulon, được Bonaparte chào đón - giờ Napoleon Bonaparte đã trở thành Đệ nhất Tổng tài của Pháp.

Napoleon tại Marengo
Ông ngay lập tức ra lệnh thuyên chuyển Desaix đến chiến trường Bắc Ý - tại đây bạn thân của Davout đã giải cứu Napoleon lúc thời khắc nguy nan nhất và chết ngay trong thời điểm quyết định trong trận Marengo - quyết định sai lầm của Napoleon trong trận chiến này có lẽ đã cướp đi Davout người bạn tuyệt vời và ảnh hưởng nhất của ông. Tuy nhiên, sau một quãng thời gian nghỉ ngơi tại Ravieres, ông được thăng làm tướng Sư đoàn vào ngày 3 tháng 7 và đến tháng 8 đã được giao nhiệm vụ chỉ huy kỵ binh trong Tập đoàn quân Ý. Ông chiến đấu liên tục, quanh đoạn đèo sông Mincio ngày 26 tháng 12, thậm chí trong chiến dịch này ông về căn bản đã chỉ huy toàn quân Pháp thay cho tướng Brune. Nhưng việc ông tố cáo với Brune về sự bất tài của tay tướng quân này sau đó đã mang lại cho ông mối hận với tay thống chế tương lai - dù vậy, đến năm 1801, Hòa ước Luneville đã đem đến hòa bình.

Leclerc, vợ của Davout
Trở về Pháp vào tháng 7, Davout được phong làm tổng thanh tra kỵ binh và được làm chỉ huy đội lính phóng lựu của Đội Cận Vệ Tổng Tài vào cuối tháng 11. Napoleon lúc này đã thể hiện rõ muốn lôi kéo Davout về phía mình khi ông cùng vợ khuyến khích Davout kết hôn với Aimee Leclrec cùng tháng đấy - anh trai của cô dâu trước đấy đã cưới Pauline Bonaparte, em gái của Napoleon, thế nên điều này cho Davout cơ hội để gần gũi với vị Hoàng đế tương lai hơn. Như chúng ta đã thấy về sau, cuộc hôn nhân này rất hạnh phúc, bất chấp cái chết của những đứa con của họ khi mang thai và kéo dài đủ cho Davout. Đến năm 1802, Davout cùng vợ mua điền trang ở Savigny-Sur-Orge.
Thời khắc của Davout đã đến. Quãng thời gian hòa bình quý báu đã trở thành cơ hội để ông phát triển kỹ năng quản trị và huấn luyện quân đội của mình. Từ tháng 8 năm 1803, khi chiến tranh với Anh Quốc bắt đầu, ông được lệnh chỉ huy Trại Bruges, và có các phụ tá là tướng Oudinot, Durutte và Friant. Những quân lính trong trại Bruges sẽ trở thành nền tảng của quân đoàn vĩ đại nhất trong các quân đoàn của Đại quân Pháp - Quân Đoàn III.

Davout và Quân đoàn III
Ông đầu tư vào triển vọng nghề của từng các hạ sĩ quan, nhấn mạnh vào việc huấn luyện đa dạng và được thiết kế cẩn thật ( bao gồm các bài tập đổ bộ và thực hành xâm lược ) cũng như xuất bản cẩm nang hướng dẫn về chiến thuật với loại hình vũ khí khác nhau. Ông lệnh quân lính hành quân đường dài, chèo thuyền để khuyến khích thể lực, làm vườn trong Trại và áp dụng kỷ luật nghiêm ngặt nhất - Davout thậm chí làm gương bằng cách sống cùng những người của mình, dù trên thực tế hành động này mang tính miễn cưỡng nhiều hơn. Ông tin tưởng cấp dưới, ít can thiệp vào công việc của họ nhưng sẵn sàng sa thải - bao gồm Chuẩn đô đốc Magon khi họ không đạt tiêu chuẩn của ông. Trên tất cả, vị tướng quan tâm đến sức khỏe và hạnh phúc của những người lính bình thường, cập nhật cho họ về thông tin và các diễn biến.
Các biện pháp này dần có thành quả khi vào ngày 19 tháng 5 năm 1804, Davout được đưa vào danh sách thứ 13 trong số 14 Thống chế của Đế chế. Sự kiện này đã khiến nhiều người ngạc nhiên, số ít thì kinh hoàng, đặc biệt là các tướng lĩnh đã có tuổi đời kinh nghiệm lâu năm. Không chỉ bởi Davout chỉ mới 34 tuổi và rất trẻ, mà bởi Davout chưa bao giờ thực hiện một chiến dịch hành quân độc lập nào mà vẫn chưa “rõ chất lượng”. Sự nghiêm khắc của ông đã khiến nhiều người xa lánh, và trên thực tế đã mang đến cho ông không ít các kẻ thù cấp cao, bao gồm cả Bernadotte và Brune. Sự thẳng thắn của ông đã khiến nhiều người khó chịu, và ông ít nhận được sự yêu quý mà thay vào đó là sự tôn trọng từ các thuộc cập. Nhưng Napoleon thì đã hiểu rõ phẩm chất đã được chứng minh cùng tiềm năng của ông. Thời kỳ học việc đã chấm dứt.
Những thời khắc vĩ đại nhất cuộc đời của Davout, đang ở rất gần phía trước.

Thống chế Sắt
Phụng sự thống chế Davout không phải việc nhàn hạ gì, và dễ dàng càng không. Ông - theo mọi cách là một đốc công nghiêm khắc, người có khả năng tập trung và vận dụng phi thường, chỉ sau Hoàng đế, chủ nhân của ông. Nếu ông mong quân lính của mình khá hơn, ông lại đòi hỏi nhiều hơn thế từ các sĩ quan và hơn tất cả là các thành viên trong ban tham mưu của ông. “Tôi có thể đảm bảo với anh” - vị tham mưu trưởng tương lai của Davout đã từng tuyên bố vào năm 1814 - “phụng sự dưới quyền ngài đấy thì phải cực kỳ nghiêm túc”.
Điều an ủi duy nhất là ông không thúc ép ai nhiều bằng chính mình.
Các tước hiệu cao quý được trao đến từ năm 1804, nhưng Davout thì không có thời gian cho các hoạt động xã hội hoặc các hoạt động trên triều đình: Yên ngựa, lửa trại và lúc thời bình, là căn nhà Savigny hoặc bàn làm việc là những địa điểm ưa thích ủa ông - dù Davout tự nhận là mình ghét công việc bàn giấy. Lí do vì sao Davout tập trung đến điên cuồng như thế có lẽ là để xây dựng Quân đoàn III mà ông đã sáng lập và bổ nhiệm làm tư lệnh vào ngày 23 tháng 9 năm 1805 và sẽ giữ chức này trong suốt 4 năm chiến tranh tiếp theo. Chiến tranh Napoleon đã yêu cầu nhiều thời gian của Davout, và do đấy chúng ta chỉ có thể đề cập đến các đóng góp nổi bật của ông thay vì toàn bộ.
Năm 1805, khi Napoleon đang bắt đầu càn quét kẻ địch từ sông Rhine đến Davout, cả 3 vạn quân dưới trướng các sĩ quan của Davout - Friant, Gudin và Bissot hành quân trên tuyến đường dù gặp nhiều bất lợi. “Tốc độ hành quân khiến nguồn tiếp tế không theo kịp chúng tôi” - Hạ sĩ Blaise thuộc trung đoàn 108 nhận xét, “và vì vậy chúng tôi thường thiếu lương thực bất chấp cố gắng của chỉ huy Thống chế Davout. May mắn thay đấy là mùa khoai tây, và vùng đất của chúng tôi thì có rất nhiều. Qúa nhiều lần chúng tôi phá làng phá xóm!”

Davout-tại-Ulm
Sau cuộc đồng hành của Mack tại Ulm, người Pháp bắt đầu đánh quân đồng minh Áo là tướng Nga Kutusov. Ngày 8 tháng 11, Davout đánh quân Áo của Merveldt tại Maria Zell, nhưng quân Nga vẫn rút lui và việc Thống chế Murat chiếm được Vienna vào ngày 12 tháng 11 không thể chấm dứt được chiến tranh. Để Davout trú quân quanh thủ đô, Napoleon hành quân đến Moravia, để giới hạn cuộc tiến công của kẻ địch và cuối cùng đã có thể chạm trán được với kẻ địch ở Olmiitz. Gỉa vờ bản thân đang ở thế yếu, hoàng đế dẫn địch vào Austerlitz và Cao nguyên Pratzen. Để cân bằng quân số, Davout và Bernadotte được gọi - cả hai sẽ hành quân cưỡng bức để củng cố cánh bắc và cánh nam của Napoleon. Quân đoàn III đã thực hiện thử thách này một cách xuất sắc. Sư đoàn tướng Friant đã hành quân 70 dặm trong vòng 46 giờ để đến Raigern, 1 tháng 12. Trước quân bộ binh là các cánh kỵ binh do Davout chỉ đạo. Đến ngày hôm sau, Davout cùng đoàn kỵ binh đã hỗ trợ số quân ít ỏi từ Quân đoàn IV của Legrand quanh Telnitz vào sáng sớm, nhưng sự xuất hiện từ các đơn vị của Friant đã cứu nguy cho cả cánh phải của Napoleon.

Ngay đến khi Legrand đang dần thua trận trước quân Nga đang bao vây lấy quân Pháp, sự xuất hiện của những chiến binh Pháp, mệt mỏi và đau chân từ lữ đoàn Heudelet đã cứ nguy cả chiến dịch, theo sau đó là cuộc tập kích đến Sokolnitz từ Friant đã làm giảm sĩ khí quân Nga đáng kể và đến 10h sáng quân Nga đã bị đẩy lùi. Chiến thắng này đã cho phép Napoleon có thời gian để tung Quân đoàn IV của Soult đến trung quân 1h sau, trong khi đó, trên bình diện chiến thuật, Davout đã tập hợp đội hình ít ỏi của ông thành ba đội hình và bất chấp các khó khăn chồng chất, vẫn đánh bại được kẻ thù. Đến 2h chiều, Quân đoàn III đã tham gia vào cuộc tiến công để đánh tan cánh trái của quân Nga một lần và mãi mãi. Cũng có cái giá rất nặng để trả - Quân đoàn III có đến 1,494 người bị thương; với 224 người bị giết. Theo tỷ lệ, chỉ có sư đoàn của Gudin - lúc đấy vẫn đang ở quá xa là chịu tổn thất nặng hơn tại Auerstadt vào năm sau. Cánh phải của toàn quân từ lâu đã là vị trí danh dự của nhiều đội quân các nước, và Davout đã giành được chiến thắng lần đầu tiên dưới quyền chỉ huy của Hoàng đế và sẽ làm được điều đấy xuyên suốt ba lần nữa, trước năm 1810. Hãy cùng nhau đến trận Auerstadt năm 1806 - chiến thắng vĩ đại nhất của Davout.

Trận Auerstadt
“Chiến dịch này sẽ còn kỳ diệu hơn cả Ulm hay Marengo,” Davout viết cho thống chế Berthier vào cuối ngày 12 tháng 10 năm 1806, khi quân đội Pháp chuyển hướng về phía tây tiến về sông Saale và đối đầu với quân đội Phổ bên bờ sông. Chưa đầy hai ngày sau, vị thống chế đã đạt được một thắng lợi vang dội, giúp ông nhận được lời khen ngợi hết lời từ Napoleon, đặc quyền dẫn đầu đoàn quân chiến thắng tiến qua cổng thành Berlin, và vào năm 1808 là tước vị công tước.
Vào giai đoạn đầu của cuộc tiến quân vào Saxony đầu tháng 10, Quân đoàn III của Davout đã theo sau kỵ binh nhẹ của Murat và Quân đoàn I của Bernadotte đi qua các đèo Thuringerwald hướng về Schleiz, cùng với các đơn vị kỵ binh thiết giáp dự bị và đội Cận vệ Hoàng gia ở phía sau, tạo thành cánh quân trung tâm trong ba mũi tấn công mà Napoleon tung ra từ sông Main về phía bắc. Sau khi quét sạch lực lượng của Tauenzien sau một trận đánh ác liệt gần Schleiz vào ngày 9 tháng 10, cánh quân này tiến thẳng về phía Gera trên sông Elster, trong khi ở hai bên phải trái, các cánh quân dọc khác cũng dọn sạch những ngọn đồi rậm rạp và tiến ra các đồng bằng phía sau.
Napoleon tin rằng quân Phổ sẽ tập trung lực lượng mạnh ở phía nam Leipzig, nhưng đến giữa buổi sáng ngày 12 tháng 10, rõ ràng là lực lượng chính của họ đang ở phía tây hướng về Weimar và Erfurt, và đội hình "tiểu đoàn vuông" của các quân đoàn Pháp được lệnh thay đổi lộ trình hành quân một cách triệt để. Chính vì vậy, Davout nhận thấy quân đoàn của mình bỗng nhiên trở thành cánh cực hữu của Đại quân gần Naumburg, trong khi vào ngày 13 tháng 10, Napoleon phi ngựa thần tốc để hội quân với Lannes tại Jena, cách đó khoảng 15 dặm về phía tây nam, đồng thời triệu tập Soult, Ney, Augereau và Murat cùng tham gia, dự kiến sẽ giao chiến với quân chủ lực của kẻ thù tại khu vực lân cận vào sáng sớm ngày hôm sau.
Theo mệnh lệnh của Hoàng đế nhận được vào sáng sớm ngày 14 tháng 10, Davout phải tiến mạnh về phía tây — sẵn sàng cắt đứt đường rút lui của quân Phổ về phía Magdeburg hoặc bao vây sườn và hậu phương của kẻ thù gần Apolda. Bernadotte đáng lẽ phải ở gần Dornburg, nằm giữa đường đến Jena, nhưng trong tái bút nổi tiếng của Hoàng đế Pháp lúc 10 giờ tối có viết rằng:
"Nếu Thân vương xứ Ponte-Corvo vẫn còn ở chỗ anh, các anh có thể cùng hành quân. Tuy nhiên, Hoàng đế hy vọng rằng ông ấy sẽ ở vị trí mà Người đã chỉ định tại Dornburg."
Quân đoàn I vẫn còn ở gần đó khi Davout trực tiếp truyền đạt điều này cho Bernadotte vào sáng sớm ngày 14 tháng 10, nhưng Bernadotte đã chọn thực thi theo chỉ thị trước đó và hành quân về Dornburg. Quyết định này suýt chút nữa đã khiến ông ta mất quyền lực quân sự, nếu không muốn nói là mất đầu. Ông ta có lẽ đã tiết lộ động cơ của mình với Bourienne vào tháng 11 khi thừa nhận:
"Tôi có thể đã cảm thấy bị xúc phạm khi nhận thứ gì đó giống như mệnh lệnh từ Davout."
Trong nhiều năm, mối quan hệ giữa hai người này luôn rất căng thẳng.
Ngày 14 tháng 10, những sự kiện đáng kinh ngạc đã diễn ra. Trong khi Napoleon với 96.000 quân cuối cùng chỉ phải chiến đấu với khoảng 55.000 quân Phổ tại Jena trong niềm tin rằng ông đang giao chiến với quân chủ lực của kẻ thù, thì chỉ huy Quân đoàn III - chỉ khoảng 26.000 người lại phải chiến đấu tuyệt vọng chống lại 63.000 quân địch gần Auerstadt, trong khi 20.000 quân của vị thống chế cứng đầu Bernadotte không tham gia vào bất kỳ trận đánh nào.
Khi bắt đầu tiến qua hẻm núi Kosen hướng về Auerstadt và Apolda, Davout có rất ít thông tin về sức mạnh hay vị trí của kẻ thù. Khi bình minh bắt đầu ló dạng, sương mù dày đặc bao phủ hiện trường, và mặc dù có những báo cáo qua đêm về các chuyển động của kẻ thù với lực lượng đáng kể ở phía trước, mọi chi tiết vẫn còn thiếu sót. Trên thực tế, Công tước xứ Brunswick đã ra lệnh cho các tướng lĩnh của mình tránh giao chiến vào ngày 14 tháng 10 nếu có thể — vì sợ rằng Napoleon có thể đang đích thân ở Naumburg; họ phải hành quân về phía tây Hassenhaussen hướng tới sông Unstrutt và Magdeburg xa xôi, được bảo vệ bởi kỵ binh và bộ binh của Schmettau ở bên sườn.
Đến 7 giờ sáng, Davout và Sư đoàn 3 của Gudin đang đi ngang qua Hassenhaussen thì kỵ binh trinh sát của Đại tá Burke bất ngờ chạm trán với kỵ binh Phổ và một số khẩu pháo gần Poppel. Gudin đã khôn ngoan cho 8.000 quân của mình lập đội hình vuông trước khi tiến xa hơn. Đột nhiên sương mù tan biến — quân Phổ đã xuất hiện — và Gudin ngay lập tức nổ súng. Pháo binh sư đoàn của ông sớm dập tắt pháo thủ của đối thủ, và kỵ binh địch rút lui, vì vậy Gudin tiến lên một lần nữa đến tận sông Lissbach. Tại đó, ông dừng lại để chờ sự tiếp viện của Friant và Morand cùng các sư đoàn của họ, vốn còn đang ở khá xa phía sau. Liệu họ có thể đến kịp lúc?
May mắn cho Gudin, sư đoàn thứ hai và thứ ba của Phổ đã bị kẹt cứng với các đoàn xe hành lý hướng lên phía bắc, vì vậy đến 8 giờ sáng, chỉ có chín tiểu đoàn của Schmettau, 12 phân đội của Blucher, thêm bốn phân đội bảo vệ sườn và 24 khẩu pháo là ở đúng vị trí. Những cuộc tấn công nóng nảy đầu tiên của Blucher — được thực hiện trước khi bộ binh Phổ kịp lên — không tạo được ấn tượng gì đối với các khối vuông do các lữ đoàn của Gautier và Petit lập ra, và kỵ binh địch phải lùi lại để chỉnh đốn đội hình. Cả Vua Phổ và Công tước xứ Brunswick đều có mặt trong cuộc giao tranh nổi tiếng này.
Để đưa sư đoàn của Wartensleben vào hàng ngũ với các đội hình của Schmettau, bộ chỉ huy tối cao Phổ đã lãng phí thêm thời gian, và điều này vừa vặn cho phép Sư đoàn 2 của Friant khoảng 7.000 người đến được phía bên phải của Gudin vào khoảng 9 giờ sáng. Cùng với các lữ đoàn của Tướng Lister và Lochet là kỵ binh nhẹ của quân đoàn dưới quyền Tướng Vialannes và 17 khẩu pháo 12 pound của đội dự bị quân đoàn. Tự phán đoán rằng kẻ thù sẽ ập vào cánh phải của mình để giữ con đường đến Freiburg luôn mở, Davout đã tái triển khai phần lớn sư đoàn của Gudin về phía bắc Hassenhaussen, chỉ để lại Trung đoàn 85 bộ binh ở phía tây và phía nam ngôi làng.
Ngay trước 10 giờ sáng, quân Phổ tiến lên tấn công. Ở phía bắc ngôi làng, quân của Schmettau bị tiêu diệt bởi làn đạn đến từ hai sư đoàn Pháp, nhưng ở phía nam, Trung đoàn 85 sớm bị đánh tan bởi cuộc tấn công mạnh mẽ của Wartensleben. Với cánh trái của mình lâm vào tình thế nguy hiểm chết người, Davout phi ngựa băng qua cùng các sĩ quan tham mưu của mình và tập hợp thành công quân lính rút chạy đến phía sau Hassenhaussen, sau đó dẫn đầu hai đội hình từ hàng thứ hai của Gudin - Trung đoàn 12 và 21 - để tái chiếm ngôi làng. Chiến tuyến Pháp đã được khôi phục ổn định phần nào, nhưng mọi binh sĩ sẵn có giờ đây đều đã tham chiến. Sư đoàn 1 của Morand vẫn còn ở khá xa, trong khi sư đoàn Phổ của Thân vương xứ Orange đã bắt đầu tham gia trận đánh. Cũng chẳng có dấu hiệu nào cho thấy Bernadotte sẽ "hành quân theo tiếng pháo" để hỗ trợ người đồng nghiệp đang bị bao vây của mình. May mắn thay, quân Phổ đã thất bại trong việc tận dụng ngay lập tức ưu thế về quân số.
Thay vì bọc đánh sườn đang để ngỏ của Pháp, họ lại lãng phí thêm người, thời gian và công sức vào bốn cuộc tấn công trực diện vô vọng vào ngôi làng. Những cuộc tấn công này biến thành một cuộc hỗn chiến không kiểm soát, và Brunswick đã bị trọng thương vào thời điểm này, Schmettau cũng trở thành thương binh. Một khoảng thời gian trôi qua trước khi Frederick William III đích thân tiếp quản. Trong khi đó, toàn bộ 30 phân đội Phổ đang tập trung đối diện với cánh trái không có quân dự bị của Pháp, nhưng trên một địa hình hạn chế và khó điều động.
Bấy giờ trên chiến trường, sự tĩnh lặng bao trùm.
Cả hai bên đều nhận được viện binh vào lúc 11 giờ trưa. Ba lữ đoàn của Morand - khoảng 10.000 người đều được chỉ định theo lệnh của Davout để giữ cánh trái quân Pháp. Được bảo vệ bởi một số kỵ binh và Trung đoàn Bộ binh Nhẹ 13, các cánh quân triển khai thành đội hình tiểu đoàn, pháo binh sư đoàn ở hai bên sườn, kịp thời cứu viện cho Trung đoàn 12 đang chịu thiệt hại nặng nề và chặn đứng một cuộc tấn công bộ binh tiếp theo của Phổ. Hầu hết các cột quân Pháp sau đó tạo thành hàng tiểu đoàn để trao đổi các loạt súng với bộ binh Phổ trên đồi Hassenhaussen, buộc chúng phải lùi lại. Sau đó, khi 30 phân đội địch cuối cùng cũng tấn công áp sát, bảy tiểu đoàn ở cực bên trái lập khối vuông để đón đánh kỵ binh, trong khi phần còn lại của sư đoàn bám trụ vào các bức tường và hàng rào gần Hassenhaussen, tung ra các loạt đạn vào kỵ binh Phổ ở khoảng cách 30 bước chân. Sau vài đợt tấn công, quân Phổ chùn bước, ngay lập tức Morand tái lập sư đoàn thành các hàng dọc tiểu đoàn và tiến đánh bộ binh địch, đẩy lùi chúng qua sông Lissbach. Đây là một chiến dịch kinh điển— thể hiện sự linh hoạt của hệ thống chiến thuật Pháp.
Sự quyết tâm, tinh thần hiệp đồng và năng lượng mà Morand thể hiện không có ở quân Phổ. Khi tướng Morand xuất hiện vào lúc 11 giờ trưa, Thân vương xứ Orange cuối cùng đã đến. Nhưng thay vì lao thẳng vào tham chiến ở một trong hai bên sườn — điều có thể mang tính quyết định đến cuộc chiến — ông ta lại chia quân làm đôi, gửi mỗi nửa đến mỗi đầu mút của chiến tuyến Phổ. Đây là một sai lầm đắt giá. Morand vẫn chưa dừng lại ở đó. Quân của Wartensleben — theo sau là quân của lữ đoàn Orange bên phải — lùi bước trước ông, và cánh phải của quân Phổ nhanh chóng tan rã. Frederick William III vẫn còn 14 tiểu đoàn, 5 phân đội và 3 khẩu đội pháo dự bị, nhưng — vẫn bị ám ảnh bởi ý nghĩ rằng mình đang đối mặt với Napoleon — ông từ chối đưa chúng vào để ngăn chặn sự sụp đổ của quân đội. Do đó, ưu thế về quân số không giúp gì được cho ông ta.
Lúc này là khoảng giữa trưa. Davout — nheo mắt nhìn qua nhìn lại qua cặp kính của mình — đã ngửi thấy mùi chiến thắng. Tập hợp ba sư đoàn của mình, Thống chế ra lệnh tổng tấn công theo đội hình hình lưỡi liềm đe dọa. Một số lượng lớn bộ binh Phổ bị mắc kẹt trong một khe núi, và một cuộc cận chiến kinh hoàng bắt đầu bùng nổ. "Chúng tôi đã ở trong tầm súng lục," chỉ huy quân đoàn nhớ lại sau đó, "và những loạt pháo xé toạc những khoảng trống trong hàng ngũ vốn ngay lập tức được lấp đầy. Mỗi bước di chuyển của Trung đoàn 61 đều được khắc dấu bởi những con người dũng cảm bước đi trên mặt đất."
Pháo binh Phổ với số lượng vượt trội rõ ràng vẫn đang gây ra tổn thất nặng nề nhưng Morand tiếp tục thúc quân tiến lên cho đến khi tới được Rehausen, trong khi đối thủ của ông dần lơ ngơ rút lui về phía Auerstadt. Ở sườn xa hơn, trong khi đó, Friant đang triển khai cuộc chiến ác liệt giành ngôi làng Poppel. Khi kết thúc trong thắng lợi, ông sớm có 1.000 tù binh chiến tranh trong tay quân mình.
Vua Phổ chỉ còn cách thừa nhận thất bại và ra lệnh rút lui toàn diện. Morand nhanh chóng đưa pháo binh lên đồi Sonnekuppe, từ đó ông có thể dội lửa vào sườn và hậu phương của sư đoàn Wartensleben. Đến 12 giờ 30 phút trưa, những gì còn lại của quân đội chính của Phổ đang tháo chạy về phía tây và phía bắc. Kalkreuth đặt đội hậu vệ của mình trên đường tiến của quân Pháp chiến thắng gần Gemstadt, cố gắng giúp các đồng bào đang chạy trốn của mình có thêm thời gian nghỉ ngơi, nhưng đến lượt ông cũng bị đánh tan khi quân của Gudin tấn công trực diện, còn Morand và Friant không ngừng bao vây xung quanh hai bên sườn. Cuộc truy đuổi tiếp tục cho đến 4 giờ 30 phút chiều khi Davout, sau khi chiếm được đỉnh đồi cuối cùng phía trên Eckartsberg, buộc phải ra lệnh dừng lại. Bộ binh của ông lúc này đã kiệt sức, nhưng ba trung đoàn kỵ binh của ông vẫn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quấy rối kẻ thù. Những nỗ lực đã được thực hiện để ép chúng về phía nam, nhưng nhiệm vụ này nằm ngoài khả năng của kỵ binh. Triệu tập Đại tá Falcon, Davout ra lệnh cho ông phi ngựa đến Jena để báo cho hoàng đế tin tức về những gì đã xảy ra tại Auerstadt.
"Thống chế của các anh chắc là đang nhìn một thành hai rồi,"
đó là phản ứng đầu tiên, đầy hoài nghi của Napoleon.
Cuộc đụng độ đã diễn ra rất đẫm máu. Khoảng 10.000 quân Phổ tử trận, và hơn 3.000 người khác bị bắt làm tù binh, cùng với 115 khẩu đại bác. Quân đoàn III mất 258 sĩ quan và 6.794 binh lính thiệt mạng hoặc bị thương. Sư đoàn của Gudin chịu tổn thất đặc biệt nặng nề khi mất hơn 40% quân số thực tế trong ngày chiến đấu. Kỳ diệu thay, một số đơn vị lại không hề hấn gì. "Đại đội chúng tôi thật may mắn," pháo thủ Gaspard Leva viết. "Chúng tôi không mất một người nào, tạ ơn Chúa, mặc dù Quân đoàn của chúng tôi đã chịu tổn thất rất nhiều."
Trong Bản tin thứ năm của Đại quân được xuất bản vào ngày 15 tháng 10, Napoleon đã dành những lời ca ngợi xứng đáng cho Davout và binh lính của ông: “Ở cánh phải của chúng ta, quân đoàn của Thống chế Davout đã thực hiện những điều kỳ diệu. Ông không chỉ kìm chân mà còn đẩy lui và đánh bại quân chủ lực của kẻ thù trên một quãng đường dài hơn ba dặm, khi chúng đang cố gắng tiến qua hẻm núi Kosen. Vị thống chế này đã thể hiện lòng dũng cảm xuất chúng và sự kiên định trong tính cách — những phẩm chất hàng đầu của một chiến binh.”

Một tuần sau đó, thông qua Berthier, Napoleon đã ban hành một sắc lệnh gửi tới Thân vương Murat, người đang dẫn đầu cuộc truy kích tiến về thủ đô nước Phổ: “Hoàng đế, vì muốn thể hiện sự công nhận của Người đối với Quân đoàn III dưới sự chỉ huy của Thống chế Davout, đã có ý định và mong muốn rằng quân đoàn này sẽ là đơn vị đầu tiên tiến vào Berlin.”
Davout thực sự đã trải qua giờ phút huy hoàng nhất trong sự nghiệp của mình, và ngay cả những người chỉ trích ông gay gắt nhất cũng không thể bắt lỗi được màn trình diễn xuất sắc của ông tại Auerstadt.

Từ Ba Lan đến Nga
Năm 1807, tháng 2 trong thời điểm quyết liệt của trận chiến mùa đông Eylau của Ba Lan, sự xuất hiện của Davout đầu giờ chiều đã giúp Napoleon biến trận chiến suýt nữa đang thua trở thành một trận hòa giữa quân Pháp và quân Nga. Một lần nữa Davout đến cánh phải để tấn công với ba sư đoàn của Friant - Morand - Gudin, bộ ba mà đã chiến đấu quá kiên trì tại Auerstadt vào cánh trái đang hở của tướng Bennigsen. Nhưng ta có thể tranh luận rằng Davout đã đạt đến đỉnh cao vào năm 1809, trong cuộc chiến với quân Áo. Trước khi Napoleon kịp đến chiến trường, Davout đã trung thành hoặc có thể nói là rõ ràng tuân theo những mệnh lệnh rắc rối của Berthier để giữ Ratisbo nhằm chặn cuộc tấn công của Đại vương công Charles dọc nam dòng Danube, và sau đó giữ vai trò quyết định trong trận Abensburg-Eckmiihl để giúp Napoleon giành lại thế chủ động trên chiến trường.

trận Eckmuhl
Công nhận thành tựu của Davout, Napoleon phong Davout làm Thân vương Eckmuhl. Nhưng trước khi giành được tước hiệu Thân vương đấy, vị Thống chế phải phục vụ thêm lần nữa tại cánh phải trong đại chiến Wagram từ 5 đến 6 tháng 7. Quân đoàn III gồm 45,000 người với Friant, Gudin và Morand với một cánh quân của sĩ quan Demont cùng một sư đoàn Đức khác. Napoleon có phần chỉ trích Davout vì đã không chiếm được làng Markgraf Neusiedl vào bình minh ngày thứ hai, nhưng đến 1h chiều cánh trái của quân Áo đã bị cản và đẩy lùi như dự định, và Đại vương công Charles đã phải chấp nhận thất bại. Trong ngày chiến đấu đó, Davout bị ngã ngựa trong khi Gudin thì bị bốn vết thương. Trận chiến đã suýt nữa mất trước giữa ngày khi Quân đoàn III phải hứng đòn từ kỵ binh dự bị của Đại vương công Charles và đập tan tuyến đầu của đơn vị, nhưng Davout vẫn tập hợp toàn quân và tuyến hai vẫn đứng vững, và quân Áo đã lùi lại, để vị thống chế có thể tiếp tục tiến công từ từ nhưng vẫn rất khó khăn.
Xuyên suốt các chiến dịch đó, Napoleon không bao giờ quên tận dụng năng lực quản trị xuất sắc của Davout, và đây cũng chính là nguyên nhân then chốt khiến ông không bao giờ bị điều động đến "vũng lầy" đẫm máu mang tên Tây Ban Nha — một cuộc chiến vốn đã chôn vùi danh tiếng của biết bao thống chế và chỉ huy lừng lẫy của Pháp. Sau Hòa ước Tilsit, ông được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đại công quốc Warsaw, nơi ông dần đặt niềm tin vào nhà ái quốc Poniatowski. Đến cuối năm 1808, Davout được giao trọng trách chỉ huy Tập đoàn quân Rhine nhằm bảo vệ hậu phương cho Hoàng đế khi Người dẫn đại quân tiến vào Tây Ban Nha.

Davout tại Wagram
Sau chiến thắng tại Wagram, ông được tin tưởng giao quyền quản lý một lực lượng khổng lồ bao gồm ít nhất ba quân đoàn, kỵ binh dự bị cùng các cánh quân đồng minh của Pháp tại Trung Âu; và kể từ tháng 1 năm 1810, ông chính thức trở thành tư lệnh của Tập đoàn quân Đức. Thiết lập trụ sở tại Hamburg, Davout trở nên nổi tiếng bởi phong cách làm việc liêm chính nhưng cực kỳ nghiêm khắc. Cũng chính tại đây, ông đã điền tên Bourienne — cựu thư ký của Hoàng đế — vào danh sách kẻ thù của mình bằng cách vạch trần các hoạt động buôn bán bất hợp pháp của tay này với Đại Anh.
Như một thói quen thường trực, ông tuyệt đối không khoan nhượng với bất kỳ hành vi tham nhũng nào bị phát hiện, và việc ông thực thi một cách triệt để Hệ thống Phong tỏa Lục địa ở Bắc Đức đã khiến cái tên Davout trở nên khét tiếng khắp vùng. Tuy nhiên, đối với Hoàng đế, đó là những nỗ lực xứng đáng được đền đáp; Davout được phong làm Toàn quyền của các thị trấn Hanse mới sáp nhập vào Đế chế Pháp và Công quốc Oldenburg. Đến ngày 24 tháng 12, Hoàng đế ra lệnh cho Thống chế Davout chuẩn bị hành quân tới Vistula để chỉ huy một đạo quân tiên phong với quy mô "gồm 15 vạn bộ binh, 3 vạn kỵ binh cùng từ bốn trăm đến năm trăm pháo thủ, điều này sẽ mang lại cho ngươi một tập đoàn quân lên tới 20 vạn người. Ta sẽ hỗ trợ thêm bằng 20 vạn quân nữa".
Mặc dù điều lệnh này được tạo ra chỉ để quản lý sát các đợt tấn công đầu vào Đế quốc Nga, nó vẫn là một trách nhiệm rất lớn. Với việc tiếng gươm vẫn vang lên trên khắp miền bắc Đức, lực lượng này đã được xây dựng để trở thành Quân đoàn Quan Sát 1 dòng Elbe và từ tháng 4, Quân đoàn I của Đại Quân. Hai tháng sau, khi toàn quân bắt đầu tiến vào Ba Lan, quân đoàn này bao gồm năm đơn vị bộ binh, 1 kỵ binh và 150 khẩu súng - Tổng số lượng là vào khoảng 72,000 quân. Đây là đơn vị tác chỉ huy tác chiến đơn lẻ đông nhất và lớn nhất từ trước đến nay/ Hơn thế nữa, Quân đoàn I còn là hình mẫu về sự chuẩn bị. Nó có khẩu phần ăn cho 24 ngày, chỉ được dùng sau khi vượt qua sông Nemen. Ba lô của từng người lính đều chứa cùng quần áo và trang bị, từng trung đoàn được thiết kế để tự cung tự cấp hết sức có thể, bao gồm “thợ xây, thợ làm bánh, thợ may, thợ đóng giày, thợ súng, tóm lại là công nhận mọi thuộc tầng lớp”. Họ cũng di chuyển cùng mọi thứ họ cần, quân đội của Davout như một xã hội thu nhỏ vậy - Davout đã chuẩn bị tấ cả các nhhu cần cần thiết và lường trước được các mối lo cần thiết. Không may thay, Davout đã có một cuộc cãi vã nảy lửa với Berthier tại Marienwerder, điều này đã khiến Berthier ngày càng ghét Davout và Napoleon buộc phải nghe thay những thống chế và các chỉ huy không ưa hoặc chỉ trích Thống chế Davout - tất cả đều ngày càng đông đảo hơn bao giờ hết.

Chiến dịch Nga năm 1812
Davout không thể hiện tốt lắm trong chiến dịch Nga. Khi Jerome Bonaparte bỏ quyền chỉ huy quân đoàn vào ngày 14 tháng 7, Davout tạm thời chỉ đạo cánh quân của Pháp và đã chiếm được Minsk, nhưng ông đã không thể bẫy được quân của tướng Nga Bagration. Davout đánh bại quân Nga tại Mohilev vào ngày 23 tháng 7, nhưng kẻ thù của ông một lần nữa rút lui về phía đông. Trong trận Smolensk, vị thống chế đã chỉ huy tập đoàn của ông một cách nhuần nhuyễn, nhưng Bagration, giờ đã hội quân với Barclay de Tolly đã thoát khỏi cái lưới. Cái chết của Gudin vào ngày 19 tháng 8 là một tổn thất lớn của Davout. Cuộc truy đuổi quân Nga đã dẫn đến cuộc cãi vã lớn vào ngày 28 tháng 7 với Murat, Davout đã cáo buộc anh vợ của Hoàng đế về việc ông ta đã điều khiển sai kỵ binh và gây bộ binh kiệt quệ. Cả hai đã suýt ẩu đả với nhau - và sau đó, Kutusov nắm quyền chỉ huy các quân đoàn của Nga. Trận Borodino đã đến gần.

Ngày 6 tháng 9, Thống chế Davout xin phép Napoleon để bất đầu Quân đoàn I vây lấy cánh nam của quân Kutusov, nhưng Hoàng đế từ chối. “Ah, ngươi luôn đòi đánh sườn quân địch. Đấy là một đòn điều quân quá nguy hiểm”.
Trong cuộc chiến tiêu hao diễn ra vào ngày hôm sau, Davout bị đánh vào vùng bụng và bị thương ở đùi, nhưng ông vẫn chiếm được một công sự trọng yếu tại trung quân Nga và kiên quyết bám trụ để giữ quyền chỉ huy. Trận Borodino, dù không phân thắng bại rõ rệt, đã mở đường cho quân Pháp tiến vào Moscow, và tại đó Davout đã có thời gian để tĩnh dưỡng. Ngày 19 tháng 10, quân Pháp rời khỏi thành phố. Vị Thống chế không tham gia quá nhiều vào trận Malojaroslavetz ngày 24 tháng 10, nhưng ngay hôm sau, ông được bổ nhiệm làm chỉ huy hậu quân của Đại quân khi cuộc rút lui thực sự bắt đầu.
Trọng trách này không phải thành công rực rỡ nhất của ông. Vào ngày 3 tháng 11, Quân đoàn I bị bao vây gần Fiodoroivskoy và phải nhờ đến sự giải cứu của Quân đoàn IV. Sau đó, Napoleon ra lệnh cho Ney cùng Quân đoàn III tiếp quản vị trí hậu quân. Cuộc rút lui tiếp diễn; nhưng cho đến khi tới được Smolensk, Quân đoàn I chỉ còn lại 10.000 quân có thể chiến đấu được. Dẫu vậy, họ vẫn chiến đấu kiên cường tại Krasnoe vào ngày 17 tháng 11. Tuy nhiên, ngay sau đó, Davout bị buộc tội đã bỏ mặc Ney khi Quân đoàn III bị quân Nga bao vây ở phía tây Smolensk và suýt đối mặt với thảm họa bị tiêu diệt hoàn toàn. Trên thực tế, những tàn tích của Quân đoàn III đã sống sót nhờ một phép màu và hội quân trở lại, nhưng nhiều lời chỉ trích đã nhắm vào Davout — kẻ bị đem ra làm con dê tế thần — và Napoleon cũng tỏ rõ thái độ lạnh nhạt đối với ông.

Davout tại Moscow
Đến thời điểm quân đội bước vào giai đoạn khủng hoảng Berezina từ ngày 25 đến 29 tháng 11, lực lượng chiến đấu của Davout ước tính chỉ còn lại khoảng 4.000 người. Sau khi vượt sông, những người sống sót lết đi trong điều kiện thời tiết kinh hoàng để đến Smorgoni. Tại đó, vào ngày 5 tháng 12, Napoleon đã tổ chức cuộc họp cuối cùng trên đất Nga với sự tham dự của Davout để thông báo quyết định rời bỏ quân đội và lên đường về Paris. Cuộc rút lui tiếp tục dưới sự chỉ huy của Murat, người mà Davout lại có thêm một cuộc tranh cãi nảy lửa khác tại Gumbinnen vào ngày 17 tháng 12. Cuối cùng, vào ngày 14 tháng 2, những mảnh vụn thảm hại của Quân đoàn I đã tới được Magdeburg bên bờ sông Elbe. Việc Phổ đổi phe — điều mà Davout đã tiên đoán từ lâu — là cú đòn cuối cùng giáng xuống, cộng thêm vào con số thương vong gần nửa triệu người mà quân đội phải gánh chịu kể từ tháng 6 năm trước.

Davout ở Hamburg
Eugene Beauharnais, người tiếp quản quyền chỉ huy từ Murat, đã khởi đầu Chiến dịch năm 1813 một cách sai lầm khi bố trí sau tuyến phòng thủ sông Oder. Davout đành gác lại ý định về một kỳ nghỉ ngắn tại Paris để lao vào việc bảo vệ sông Elbe; ông lãnh trách nhiệm phòng thủ Dresden từ ngày 9 đến 19 tháng 3 và cuối cùng cho phá hủy cây cầu tại đây. Sau đó, ông được lệnh tái chiếm Hamburg và giữ vùng Hạ Elbe — một vai trò phụ nhưng không kém phần quan trọng. Tệ hơn nữa, Quân đoàn I do chính ông gây dựng lại được trao cho Vandamme, một sĩ quan dũng cảm nhưng khó tính và hay xung đột với mọi người; tuy vậy, bằng cách nào đó họ vẫn làm việc được với nhau.
Ngày 30 tháng 5, Hamburg chính thức bị chiếm đóng. Trong khi đó, tại chiến trường xa xôi, hai người bạn thân của ông là Bessieres và Duroc lần lượt tử trận khi Napoleon giao chiến với Liên Quân tại Lutzen và Bautzen, ép Liên Quân phải chấp nhận một thỏa ước đình chiến vào ngày 2 tháng 6. Thỏa ước này kéo dài đến ngày 13 tháng 8. Davout đã tận dụng khoảng thời gian tạm nghỉ này để chấn chỉnh công tác quản trị tại khu vực mình phụ trách và bắt đầu xây dựng quân đoàn cuối cùng của đời mình — Quân đoàn XIII — từ con số không. Quyết định bổ nhiệm chính thức có từ ngày 1 tháng 7. Trong số 38.000 quân thuộc các Sư đoàn 3, 40 và 50, nhiều người là tân binh chưa qua rèn luyện hoặc không đáng tin cậy - như đội quân Đan Mạch. Ngoại trừ Loison, Pecheux và Vichery, các chỉ huy cấp cao của ông đều chưa rõ năng lực, dù vậy tham mưu trưởng của ông, Tướng Cesar de la Ville, lại là một người thực sự có tài. Xây dựng xong quân đoàn mới, vị thống chế cũng được hưởng sự an ủi quý báu từ chuyến thăm kéo dài ba tuần của vợ và các con gái.

Khi chiến sự nổ ra trở lại, Davout nhận lệnh hỗ trợ Oudinot và nhóm quân đoàn phía bắc trong cuộc tổng tấn công đánh chiếm Berlin. Ngày 18 tháng 8, Quân đoàn XIII đã giành được thắng lợi tại Lauenbourg. Chẳng bao lâu sau, binh sĩ đã tiếp cận Schwein và Wismar, nhưng mũi tiến quân chính của Oudinot sau đó đã bị đánh tan tại Gross-Beeren. Ở mặt trận phía nam, chiến thắng của Napoleon tại Dresden đã bị đảo ngược hoàn toàn bởi thất bại tại Kulm, Quân đoàn I của Vandamme chịu thảm cảnh đầu hàng. Sau đó, mũi tấn công mới của Ney vào Berlin cũng bị chặn đứng dữ dội tại Dennewitz vào ngày 6 tháng 9. Davout quyết định đưa quân đoàn của mình trở lại sông Stecknitz và gấp rút chuẩn bị phòng thủ Hamburg, tại đây ông tin rằng một cuộc bao vây là không thể tránh khỏi. Lương thực dự trữ cho tám tháng được thu thập, hệ thống phòng thủ được cải thiện và ngân hàng thành phố cũng bị tiếp quản. Tin tức về trận Leipzig vào tháng 10 đã thuyết phục ông rằng từ nay sẽ chỉ có mình ông tham chiến.

Napoleon tại Leipzig
Vào tháng 6, Napoleon thông báo với Davout rằng Bệ Hạ tin sẽ phải mất 10 năm làm việc và khoảng 40 triệu franc để biến Hamburg thành một pháo đài thực sự kiên cố. Dẫu vậy, Hoàng đế vẫn ra lệnh:
"Ngươi phải chịu trách nhiệm trước ta về Hamburg."
Vị Thống chế đã thực hiện vượt mức chỉ thị đó. Từng bước một, ông lui quân về phía sông Elbe, và đến ngày 3 tháng 12, những sợi dây liên lạc cuối cùng với thế giới bên ngoài đã bị cắt đứt. Bên trong chiến tuyến Hamburg là 34.000 quân tinh nhuệ thuộc mọi binh chủng cùng 8.000 thương binh hoặc bệnh binh. Họ phải đối mặt với khoảng 60.000 quân địch dưới quyền tướng Bennigsen, sau đó còn là quân đoàn của Bernadotte vào giữa tháng 1. Mùa đông khắc nghiệt không làm giảm bớt nhịp độ các cuộc hành binh. Davout đã phá hủy các vùng ngoại ô để mở rộng tầm bắn, trục xuất 25.000 người không có khả năng chiến đấu ra khỏi thành phố và liên tục cho đập tan băng để duy trì hệ thống phòng thủ thủy hào; tuy nhiên, thời tiết đã khiến số lượng bệnh binh tăng lên mức báo động. Nhờ quan sát kỹ lưỡng động thái của địch, mỗi cuộc tấn công đều lần lượt bị đẩy lui, thường là dưới sự hiện diện trực tiếp của Davout. Theo đó, các đợt công thành dữ dội vào ngày 9, 17 và 28 tháng 2 đều thất bại với tổn thất nặng nề. Ngày 23 tháng 3, một cuộc đột kích lớn của quân Pháp từ pháo đài Haarburg đã làm quân địch bất ngờ và thu về nhiều nhu yếu phẩm quý giá.
Trong khi đó, Chiến dịch Pháp đang đi đến hồi kết tại Fontainebleau. Hai lần, vào ngày 15 và 20 tháng 4, tướng Bennigsen đã gửi thông điệp thông báo về việc Napoleon thoái vị. Davout đã đáp lại một cách đầy khí phách: "Hoàng đế, người mà tôi không hề biết là đã thất thế, không có thói quen liên lạc với tướng lĩnh của mình thông qua kẻ thù." Vì vậy, việc canh giữ các tuyến phòng thủ vẫn tiếp tục cho đến ngày 11 tháng 5, khi Tướng Gerard đến với tư cách đại diện của Louis Đệ Thập Bát. Vị vua Phục Hoàng Bourbon yêu cầu Thống chế Davout từ bỏ thành phố và bàn giao lại cho phái viên của mình. Các cuộc đàm phán diễn ra một cách thận trọng cho đến ngày 27 tháng 5, 26.000 quân Pháp bắt đầu rút khỏi các công sự tại Hamburg theo ba cánh quân, để lại 5.000 bệnh binh sẽ theo sau hồi hương. Trên đường trở về, Davout nhận được lệnh hoàng gia cấm ông vào Paris và yêu cầu ông đến Savigny-sur-Orge để chờ chỉ thị tiếp theo. Tại đó, người trấn thù Hamburg phải ở lại cho đến tháng 3 năm 1815, tận hưởng cuộc sống gia đình ở vùng nông thôn và phải tự bào chữa ( một cách thành công ) bằng văn bản phản biện những cáo buộc sai trái của Phổ về việc đã nổ súng vào cờ trắng của nhà Bourbon, chiếm giữ bất hợp pháp Ngân hàng Hamburg và các hành vi độc đoán khắc nghiệt khác trong thời gian bị bao vây.
Thống chế, Công tước xứ Auerstadt, Thân vương xứ Eckmühl, lúc đấy chắc hẳn đã tin rằng đây là lần cuối mình chỉ huy. Nhưng thực tế, ông vẫn chưa hoàn thành sứ mệnh cuối cùng cho Napoleon — hay cho quân đội Pháp.

Thời kỳ Trăm Ngày
Mặc dù Napoleon đã tỏ thái độ lạnh nhạt rõ rệt đối với Davout kể từ sau cuộc rút lui khỏi Moscow, nhưng Davout lại là một trong hai Thống chế duy nhất (người kia là Lefebvre) đã nghênh đón Hoàng đế tại Điện Tuileries khi Người trở về từ nơi lưu đày vào ngày 20 tháng 3 năm 1815. Hai người đã không gặp lại nhau kể từ Smorgoni. Gặp gỡ có phần miễn cưỡng, Davout sau đó được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Chiến tranh. Ông vốn dĩ thích một vị trí chỉ huy ngoài tiền tuyến hơn — và lịch sử giai đoạn Trăm Ngày có lẽ đã kết thúc rất khác nếu như chính ông, chứ không phải Grouchy, là người chỉ huy cánh phải của Tập đoàn quân phương Bắc vào giữa tháng 6. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Thay vào đó, ông dồn sức vào việc xây dựng một quân đội mới — một nhiệm vụ được thực hiện với tất cả hiệu suất và sự nhiệt huyết trong quản trị vốn có của ông.
Nhiệm vụ này tỏ ra không hề dễ dàng. Mặc dù các đơn vị đồn trú biên thùy đã tập hợp dưới trướng Napoleon theo lời triệu tập của Bộ trưởng, nhưng vẫn còn đó những người ủng hộ nhà Bourbon cần phải xử lý ở miền Nam - lực lượng này vô hình trung đã giúp giúp Grouchy giành được gậy Thống chế và đặc biệt là ở miền Tây, nơi vùng Bordeaux và Vendée, từ giữa tháng 5 đã gây ra những tổn thất nghiêm trọng, làm tiêu tốn lượng quân nhu quý giá. Việc gây dựng và tổ chức lại một tập đoàn quân là một thành tựu vĩ đại. Bất chấp tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng, khoảng 280.000 quân đã được tập hợp vào giữa tháng 5, ngay cả khi lệnh nghĩa vụ quân sự vốn bị căm ghét chỉ được áp dụng vào cuối tháng 4. Để giải phóng các đơn vị tinh nhuệ cho các đạo quân tham chiến, lực lượng Vệ binh Quốc gia và các đơn vị quân tình nguyện mới đã tiếp quản mọi nhiệm vụ đồn trú.

Napoleon tại Tuileries
Mọi chuyện không hề suôn sẻ. Dù các vị tướng cũ nhanh chóng đề nghị phục vụ, nhưng đại đa số các thống chế lại vắng mặt. Đã có những cuộc tranh cãi và xung đột về trách nhiệm. Davout đã phản đối Soult — người giữ chức Tham mưu trưởng Tập đoàn quân phương Bắc thay cho Berthier: "Nếu ông ra lệnh theo cách của ông và tôi ra lệnh theo cách của tôi, kết quả sẽ là sự hỗn loạn tột cùng, và tôi sẽ từ chức Bộ trưởng Chiến tranh." Ông đã bảo vệ thành công quan điểm của mình. Tuy nhiên, trong những lần khác ông lại thất bại — như khi ông phải miễn cưỡng chấp nhận Napoleon bổ nhiệm Tướng Bourmont vào vị trí chỉ huy tác chiến (một sĩ quan mà sau đó thực sự đã đào tẩu sang Liên Quân vào ngày 15 tháng 6). Trách nhiệm của Davout rất rộng. Theo định nghĩa vào ngày 30 tháng 4, ông là "Bộ trưởng Chiến tranh, Thống đốc Paris, Tổng chỉ huy Vệ binh Quốc gia, lực lượng tổng động viên và các đơn vị bộ binh chính quy có mặt trong thành phố." Việc Napoleon có thể nắm thế chủ động tấn công vào giữa tháng 6 phần lớn là nhờ nỗ lực không ngừng nghỉ của Thân vương xứ Eckmühl với tư cách Bộ trưởng Chiến tranh. Như một nhận định xác đáng: "Việc Davout phòng thủ Hamburg tài tình và lòng trung thành với Hoàng đế khiến ông trở thành lựa chọn hợp lý nhất cho vị trí chỉ huy Paris, nếu như ông không bị Hoàng đế coi là quá cần thiết để phải giữ lại thay vì đưa ra chiến trường."

Trận Waterloo
Rồi thảm họa Waterloo ập đến. Khi Hoàng đế trở lại Paris vào ngày 21 tháng 6, Davout ban đầu đã khuyên Hoàng đế của mình tiếp tục chiến đấu sau khi vô hiệu hóa Viện Dân Biểu và Viện Nguyên Lão; nhưng khi Napoleon do dự và để chính khách Fouché qua mặt, vào ngày hôm sau, ông đã chấp nhận việc Hoàng đế phải thoái vị lần thứ hai là rất cần thiết. Ngày 23 tháng 6, ông đồng ý thông báo cho Napoleon về việc Người cần phải lui về Malmaison ngay lập tức. "Cuộc gặp gỡ diễn ra lạnh lùng," ông thừa nhận về lần gặp cuối cùng giữa họ. Nhưng Davout coi như mình đã rũ bỏ được lòng trung thành cũ. Ông giờ đây nhìn nhận vai trò của mình là tìm kiếm những điều khoản tốt nhất có thể cho nước Pháp và quân đội từ Liên Quân chiến thắng, mặc dù sự thay đổi thái độ này đã khiến một số người cáo buộc ông là vô ơn hoặc tệ hơn thế.
Dù coi việc tiếp tục chiến tranh là vô ích, ông vẫn muốn đàm phán từ một vị thế mạnh nhất có thể. Các tuyến phòng thủ của Paris được chuẩn bị tốt nhất trong phạm vi thời gian cho phép; và khi phe Đồng minh từ chối đình chiến, các cuộc trinh sát của quân Phổ ở phía bắc thủ đô đã bị đẩy lui vào ngày 30 tháng 6, và vào ngày 11 tháng 7, lữ đoàn kỵ binh của Sohr đã bị Exelmans đánh bại khi tiến về Versailles tại Rocquencourt. Ngày hôm sau đã xảy ra các cuộc giao tranh bộ binh ác liệt tại Issy, và Davout chuẩn bị tung ra một cuộc tấn công vào sườn quân Phổ với 60.000 bộ binh, 25.000 kỵ binh và 500 khẩu pháo dưới quyền vào ngày 3 tháng 7, lúc này ông đã đồng ý với một nỗ lực ngoại giao cuối cùng. Ngày 4 tháng 7, Liên Quân chấp thuận đình chiến. Theo các điều khoản, Paris sẽ bị chiếm đóng, và quân đội Pháp sẽ rút về phía nam sông Loire. Đối với các sĩ quan và binh sĩ — những người đang sẵn sàng ra trận — đây dường như là một sự phản bội.

Napoleon và Davout
Với sức chịu đựng tinh thần giờ đã xuống đáy, Davout từ chức Bộ trưởng Chiến tranh để nắm quyền chỉ huy Tập đoàn quân Loire, và hộ tống 84.000 binh sĩ về phía nam, để lại các Tướng Gérard, Kellermann và Haxo làm ủy ban tiếp tục đàm phán với phe Đồng minh và với Louis XVIII tại Paris, thông qua Thống chế Oudinot. Đến ngày 11 tháng 7, việc rút quân hoàn tất; và vào ngày 14 tháng 7, trước sự khăng khăng của Gouvion St.-Cyr, Bộ trưởng Chiến tranh mới, Davout đã miễn cưỡng đồng ý rằng quân đội nên đầu hàng không điều kiện trước nhà vua. Ông chấp nhận tất cả những điều này vì lợi ích cao nhất của nước Pháp.
Sự tuân thủ đã chuyển thành sự phẫn nộ vào ngày 24 tháng 7, khi bất chấp những cam đoan trước đó, một sắc lệnh hoàng gia đã liệt kê 19 sĩ quan phải bị xét xử vì tội phản quốc và thêm 38 người khác bị bắt giữ để chờ quyết định. Ba ngày sau, Davout từ chức trong sự ghê tởm và một cách hào hiệp, ông tự đề cử mình làm người thế tội cho bốn vị tướng bị truy tố, những người mà ông nhận hoàn toàn trách nhiệm về các hành động của họ ở Vendée và miền Nam. Vào ngày 1 tháng 8, ông bàn giao quân đội cho Thống chế Macdonald và lui về Savigny để chờ đợi các sự kiện tiếp theo. Tại đó, ông buộc phải chia sẻ nơi ẩn náu của mình với một đội quân Phổ được phân bổ đến đóng quân.
Những năm cuối đời và một nhận định
Vào tháng 12, ông đồng ý ra làm chứng cho thống chế Ney tại Paris, bất chấp việc vị thống chế này đã dại dột khước từ lời khuyên lựa chọn tòa án quân sự - nơi có khả năng sẽ tuyên ông trắng án mà khăng khăng đòi được xét xử công khai trước các đồng liêu. Thống chế Ney bị hành quyết vào ngày 8 tháng 12, và Davout sớm nhận ra rằng sự xuất hiện của mình tại Paris hẳn đã thu hút sự chú ý đầy thù hằn từ triều đình Bourbon.

Ngày 27 tháng 12, ông bị lưu đày đến Louviers, bị tước bỏ mọi chức vụ cùng thù lao, và buộc phải sống tằn tiện với chỉ 3 franc mỗi ngày. Trong khi nợ nần chồng chất, ông dành thời gian đi bộ, nghiên cứu lịch sử cổ đại và dạy dỗ con trai, còn tại Paris, vợ ông đã làm tất cả những gì có thể để cầu xin chính phủ can thiệp cho chồng. Sau nhiều tháng nỗ lực vô vọng, cuối cùng nhờ sự giúp đỡ tận tình của Thống chế Macdonald, vào ngày 21 tháng 6 năm 1816, Davout được phép chuyển đến Savigny dưới sự giám sát thận trọng của cảnh sát.
Tình hình tài chính của ông vẫn rất nguy kịch cho đến cuối tháng 8 năm 1817, khi vua Louis XVIII đột ngột khôi phục lương quân đội cho ông, thậm chí tính ngược lại từ ngày 7 tháng 1 năm 1816, và sau đó là trao trả lại cây gậy Thống chế Pháp. Đáp lại, Davout tuyên thệ trung thành với nhà Bourbon và dần trở lại với đời sống chính trị — dù ông luôn tránh mặt triều đình và thích giao du với giới quý tộc thời Napoleon hơn. Tuy nhiên, với tư cách là một Nghị sĩ của Pháp từ ngày 5 tháng 3 năm 1819, ông đã đảm nhận vị trí tại Viện Nguyên Lão nhưng hiếm khi phát biểu.
Đến năm 1821, sức khỏe của Davout bắt đầu suy giảm rõ rệt. Dù ông đồng ý làm thị trưởng Savigny vào tháng 4 năm 1822, nhưng người ta hiếm khi thấy ông xuất hiện tại Paris kể từ sau cái chết của con gái cả vào tháng 8 năm 1821 — một mất mát khiến ông vô cùng đau buồn. Ông qua đời vì bệnh lao ở tuổi 53 vào ngày 1 tháng 6 năm 1823. Thống chế Jourdan đã đọc bài điếu văn xúc động tại nghĩa trang Père Lachaise, và những người lính cũ đã thương tiếc sự ra đi của "Thống chế Sắt" — người mà bất chấp vẻ ngoài nghiêm nghị và không màng đến sự nổi tiếng, luôn đặt lợi ích của binh sĩ lên hàng đầu, chỉ đứng sau gia đình và quan niệm bất di bất dịch về nghĩa vụ.
Một hình mẫu về đức hạnh hiếm khi được lòng đám đông, và không khó để hiểu tại sao Davout lại bị nhiều người đương thời ghét bỏ đến vậy. Việc ông bất ngờ được phong hàm Thống chế vào năm 1804 đã gây ra sự phẫn nộ trong số những sĩ quan kém may mắn hơn như Marmont và Gouvion St.-Cyr. Tài năng cầm quân đã được chứng minh từ sau trận Auerstadt của ông không chỉ mang lại sự kính trọng mà còn cả sự đố kỵ từ những người kém tài hơn, nhất là khi Davout chẳng bao giờ ngần ngại chỉ trích những thiếu sót của người khác bằng những lời lẽ thẳng thắn nhất. Tại Konigsberg năm 1812, một vị tướng người Hà Lan nhớ lại: "Ông ấy đã đối xử với Chuẩn đô đốc Baste một cách thiếu đứng đắn trước mặt tôi, dùng những lời nhục mạ đến mức tôi không thể hiểu nổi sao ông ấy dám nói thế với một chỉ huy cấp cao của Pháp, và sao vị kia có thể chịu đựng được."
Vị thống chế hói đầu và cận thị này có rất ít thời gian cho những lễ nghi xã giao, bất kể đối tượng là ai. "Chuyến thăm của Thống chế Davout cuối cùng cũng xong," nữ công tước xứ Saxe-Coburg-Saalfeld viết với vẻ nhẹ nhõm rõ rệt vào ngày 19 tháng 3 năm 1809. "Thật mệt mỏi khi cố gắng làm ông ta vui vẻ, vì không ai có thể lì lợm và ít nói hơn cái gã khó chịu này. Khuôn mặt ông ta lộ rõ vẻ khắc nghiệt và hung bạo, dù không hẳn là hiểm độc." Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người ta cũng thấy ông công khai xin lỗi vì sự lỗ mãng hoặc thô lỗ quá mức của mình.
Nhận thức rõ ràng về nghĩa vụ khiến Davout trở thành một đồng nghiệp "khó nhằn". Ông luôn tìm kiếm những bằng chứng về sự bất trung hay phản bội; và nếu ai đó dính vào bất kỳ "sự bất thường" nào — dù là về chính trị hay tư lợi — họ chắc chắn sẽ không nhận được sự khoan dung từ người vùng Burgundy khắc khổ và không bao giờ biết cười này. Đi đôi với sự liêm chính là một sự tàn nhẫn lạnh lùng đến sởn gai ốc. Ông từng nói:
"Nếu Hoàng đế bảo Maret [Bộ trưởng Ngoại giao] và tôi phá hủy Paris cùng tất cả mọi người trong đó, Maret sẽ giữ bí mật nhưng cảnh báo gia đình ông ta. Còn tôi, tôi sẽ không cảnh báo ngay cả gia đình mình vì sợ bí mật bị rò rỉ."
Ấy vậy mà, ông lại là một người chồng hết mực yêu thương người vợ thứ hai và là một người cha chu đáo với các con. Nếu cuộc hôn nhân đầu tiên là một thảm họa khiến ông càng thêm khép kín, thì cuộc hôn phối với Aimée Leclerc vào năm 1801 lại là một thành công lớn. Họ có tám người con, dù chỉ bốn người sống sót qua tuổi ấu thơ. Dù nhiệm vụ quân đội khiến ông phải vắng nhà biền biệt, tâm trí của Thống chế thường hướng về gia đình và điền trang yêu quý tại Savigny-sur-Orge. Từ Hà Lan, ông gửi cho Aimée những củ giống hoa tulip "cho khu vườn của em", và từ Đức vào giữa năm 1813, ông gửi "vài tấm vải lanh vùng Saxon; người dân ở đây rất nổi tiếng về nó, và tôi nghĩ em sẽ thích."
Như một lẽ dĩ nhiên, Davout cũng được thúc đẩy bởi tham vọng mạnh mẽ. Ông tận hưởng tước vị Công tước và Thân vương của mình dù đôi khi cảm thấy gánh nặng tài chính của địa vị xã hội cao quý này quá khó để chi trả — và Napoleon đã nhiều lần phải can thiệp để đảm bảo "người tôi tớ" của mình không bị phá sản. Ông cũng từng khao khát vương miện của vương quốc Ba Lan nếu nó được tái lập — một tham vọng dẫn đến mối quan hệ lạnh nhạt với Jérôme Bonaparte. Những kẻ thù tiêu biểu của ông trong giới thống chế là Bernadotte, Berthier và Murat (người mà ông coi là kẻ bất tài về quân sự, thậm chí là "một gã điên"). Tuy nhiên, ông không phải không có bạn bè. Những ngày đầu ông thân thiết với Tướng Marceau và Desaix; sau đó là em rể Leclerc, Oudinot, Duroc và Bessières. Ông cũng dành sự trân trọng đặc biệt cho tay sĩ quan Gudin.
Về mối quan hệ với binh lính, hiếm có thống chế nào thể hiện sự quan tâm đến phúc lợi của họ nhiều hơn Davout. Các đơn vị của ông nổi tiếng vì được trang bị tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ nhất, lương bổng và khẩu phần ăn luôn được cấp đúng hạn. Đổi lại, Davout yêu cầu — và thực thi — sự phục tùng tuyệt đối và kỷ luật thép. Việc cướp bóc bị trấn áp nghiêm khắc; vào năm 1811, người ta kinh ngạc nhận thấy "những con gà đi lại thong dong giữa các trại lính mà không chút sợ hãi" trong khu vực đóng quân của ông.
Davout còn được kẻ thù gọi bằng cái tên đầy khiếp sợ- Khủng Khiếp. Kỹ năng chỉ huy của ông thuộc hàng kiệt xuất. Dù chưa bao giờ có cơ hội thể hiện khả năng điều hành một chiến dịch độc lập hoàn toàn (Hamburg là trường hợp ngoại lệ), nhưng chỉ có Masséna và có thể là Suchet mới có thể sánh ngang với ông về tầm vóc trí tuệ và kinh nghiệm. Murat, Ney hay Lannes có thể có nhiều sự rực cháy và hào nhoáng hơn trong hành động, được binh sĩ tung hô hơn, nhưng không ai có sự dũng cảm đức hạnh — cả về thể chất lẫn tinh thần — lớn hơn Davout.
Ông là một quân nhân chuyên nghiệp mẫu mực. Dù danh tiếng có phần bị ảnh hưởng trong cuộc rút lui khỏi Moscow, nhưng những màn trình diễn tại Auerstadt, Eckmühl và Hamburg đã đưa ông vào hàng ngũ những thống chế xuất sắc nhất, ngay cả khi "chẳng ai dám khẳng định rằng 'Thống chế Sắt' được các đồng nghiệp yêu mến, chứ đừng nói là kính yêu."
Sự lạnh lùng, tách biệt và khả năng đánh giá sắc sảo chính là những đặc điểm khiến Napoleon tin dùng Davout, người vốn thích để các thống chế kiềm chế lẫn nhau. Napoleon từng tuyên bố tại đảo Thánh Helena rằng "Davout là một trong những vinh quang vĩ đại nhất của nước Pháp" — một lời khẳng định dù có phần cường điệu nhưng sau cùng, lại không quá xa so với sự thật.


Sách
/sach
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

