XVII

Rời Tucson - Xưởng đóng thùng mới - Cuộc trao đổi - Rừng xương rồng - Glanton bên đám lửa - Binh đoàn của Garcia - Trăng già - Lửa trời - Cựu linh mục bàn về thiên văn - Pháp quan bàn về sinh thể ngoài địa cầu, về trật tự, về cứu cánh luận trong vũ trụ - Trò đồng xu - Con chó của Glanton - Thú chết - Mặt cát - Cảnh đóng đinh - Pháp quan bàn về chiến tranh - Linh mục không nói gì - Miền đất mục ruỗng, miền đất bị ruồng - Tinajas Atlas - Xương đá - Người Colorado - Toán săn vàng - Đám Yuma - Dân đi phà - Tới khu trại Yuma.
Họ lên đường lúc hoàng hôn. Tên hạ sĩ trong nhà gác phía trên cổng thành bước ra và kêu họ dừng lại nhưng họ không nghe. Họ đi hăm mốt người và một con chó và một cỗ xe nhỏ sàn phẳng trên đó kẻ khờ và cái lồng được buộc chặt như cho cuộc hải trình. Buộc sau lồng là cái thùng uýt-ki họ đã uống cạn đêm trước. Cái thùng đã được tháo rời và đóng lại bởi một người Glanton bổ nhiệm làm thợ tạm cho đoàn thám hiểm và nay bên trong nó là một chiếc túi bằng bao tử cừu và chứa khoảng ba lít uýt-ki. Chiếc túi này được nhét vào lỗ nút và phần thùng còn lại được đổ đầy nước. Mang đủ lương thực họ đi qua cổng và vượt qua bức tường ra bình nguyên nơi nó rung chuyển dưới những dải tà dương. Cỗ xe nhỏ xóc lên và kẽo kẹt và kẻ khờ bấu vào song sắt và quàng quạc khản tiếng với theo mặt trời.
Glanton đi phía đầu đoàn ngồi trên cái yên Ringgold mới tinh gắn sắt hắn mua được và hắn đội chiếc nón mới màu đen hợp với mình. Nhóm tân binh gồm đang cười nhăn nhở với nhau và ngoái nhìn tên lính gác. David Brown đi phía cuối đoàn và gã đang bỏ lại anh trai mình nơi đây có lẽ là mãi mãi và tâm trạng gã xấu tới nỗi gã có thể bắn chết tên lính gác mà không cần lý do. Khi tên lính gác kêu lần nữa gã quay sang tay cầm súng trường và tên kia nhanh trí trốn sau bức tường thành và họ không nghe thấy gì nữa từ hắn. Dưới ánh hoàng hôn đám man rợ phi ngựa ra đón và uýt-ki được trao đổi trên một tấm mền Saltillo trải dưới đất. Glanton như tảng lờ những gì đang diễn ra. Khi đám man rợ đếm xong số vàng bạc trước vẻ hài lòng của pháp quan thì Glanton dẫm lên tấm mền và dùng gót ủng đẩy tiền xu vào nhau rồi lùi bước và nhờ Brown cất tấm mền. Mangas và thuộc cấp của gã đưa nhau ánh mắt u ám còn dân Mỹ thì lên yên và khởi hành và không ai ngoái nhìn trừ những tân binh và một người trong nhóm ngả sang Brown và hỏi là liệu đám Apache có đuổi theo không.
Ban đêm tụi nó không đuổi theo đâu, là lời Brown.
Tại sao không? hắn nói.
Brown nhổ bọt. Do tối thui chứ sao, gã nói.
Họ tây tiến từ thị trấn băng qua chân một trái núi nhỏ xuyên một xóm nghèo vương vãi mảnh bể đồ gốm cũ từ một lò nung từng ở đó. Người trông coi kẻ khờ đi xuống phía dưới lồng có giàn giáo và kẻ khờ bấu vào song sắt và xem vùng đất trôi ngang trong thinh lặng.
Họ đi ngựa đêm đó qua xương rồng bản địa lên tới những đồi phía tây. Bầu trời mây đen phủ kín và những cột đá ngang qua trong bóng tối như tàn tích những ngôi đền kỳ vĩ trật tự và trang nghiêm và lặng lẽ trừ khe khẽ tiếng kêu của chim cú nhỏ đậu quanh. Địa hình rậm chô-la và nhiều cụm cây bám vào ngựa với gai nhọn muốn đâm xuyên đế ủng tới tận xương và một cơn gió nổi lên qua những đồi và cả đêm nó rít như tiếng rắn hoang qua vô số gai nhọn đó. Họ đi tiếp và vùng đất thưa thớt dần và họ đã tới đoạn đầu tiên của chuỗi lộ trình gian khổ không có nổi một giọt nước và ở đó họ dựng trại. Đêm đó Glanton chòng chọc nhìn tàn lửa. Xung quanh hắn là người đang nằm ngủ nhưng mọi chuyện đã khác. Biết bao người biệt tăm, đào ngũ lẫn bỏ mạng. Lũ Delaware bị giết. Hắn quan sát ngọn lửa và nếu hắn thấy được một điềm báo thì với hắn vẫn như nhau. Hắn sẽ sống để được nhìn ra vùng tây hải và hắn đủ sức đối đầu những gì sắp xảy đến vì hắn đã trọn vẹn mọi thời điểm. Dù cho lịch sử hắn có song hành với con người hay quốc gia, dù cho nó chấm dứt. Hắn từ lâu đã buông bỏ thảy cân nhắc về hậu quả và tuy chấp nhận rằng kiếp người đã định nhưng hắn vẫn chiếm quyền nắm giữ bên trong mình thảy tương lai của hắn trong thế gian và thảy giá trị của thế gian đối với hắn và xem đó như hiến chương viết trên chính khối đá sơ thuỷ hắn khẳng định quyền tự quyết và nói như vậy và hắn sẽ khiến mặt trời tàn nhẫn đi tới sự diệt vong cuối cùng như thể hắn ra lệnh cho nó từ muôn thuở, trước khi tồn tại những con đường, trước khi tồn tại con người hay mặt trời mà tiến bước.
Ngồi đối diện hắn là tấm thân đồ sộ kinh tởm của pháp quan. Ở trần, viết ngoáy vào quyển sách. Trong khu rừng gai nhọn họ đã băng qua là sói nhỏ hoang mạc cất tiếng sủa và bên bình nguyên khô hạn trước chúng những con khác đáp lời và cơn gió phẩy đám than y đang nhìn ngắm. Lũa xương rồng chô-la phát sáng thành lưới đan rỡ ràng rung động như san hô bùng cháy trong bóng tối dạ quang nơi biển thẳm. Kẻ khờ trong lồng được kéo tới gần đám lửa và nó dõi nhìn không mỏi mệt. Khi Glanton ngẩng đầu hắn thấy đứa trẻ ở bên kia đám lửa, ngồi bệt trong mền, quan sát pháp quan.
Hai ngày sau họ gặp phải một binh đoàn rách nát dưới quyền Đại tá Garcia. Chúng là lính Sonora đang truy bắt một đám Apache dưới quyền Pablo và chúng tầm một trăm tên lính ngựa. Trong binh đoàn đó vài kẻ không nón và vài kẻ không áo và vài kẻ loã thân khoác mỗi măng-tô và trang bị vũ khí tồi, súng hoả mai cũ và súng kíp Tower, vài kẻ có cung tên hoặc không có gì ngoài dây thừng để siết cổ quân địch.
Glanton và người của hắn xem xét binh đoàn này với vẻ thờ ơ kinh ngạc. Đám Mễ vây quanh chìa tay xin thuốc lá và Glanton cùng tên đại tá gửi lời chào xã giao chiếu lệ rồi Glanton chen qua đám phiền nhiễu đó. Chúng là người quốc gia khác, đám lính ngựa đó, và thảy vùng đất phía nam nơi chúng xuất thân và bất cứ đâu phía đông chúng đang tới đều đã chết với hắn và cả vùng đất và những người ở tạm trên đó cũng đều xa lạ và đáng ngờ về bản chất. Cảm giác này lan ra khắp nhóm người trước khi Glanton hoàn toàn rời khỏi chúng và mỗi người quành ngựa bám theo sau và ngay cả pháp quan cũng không mở lời để tránh dây vào cuộc chạm trán.
Họ đi tiếp vào bóng tối và vùng đất hoang tàn nhuốm ánh trăng trải dài phía trước lạnh lẽo và nhợt nhạt và mặt trăng thành chiếc vòng trên cao và nằm bên trong là một mặt trăng giả với riêng ánh xám và ánh xà cừ những vùng biển. Họ dựng trại trên một gò thấp nơi những vách đá khô đánh dấu một dòng sông xưa và họ nhóm lửa ngồi quanh trong im lặng, mắt của con chó và của kẻ khờ và của một số người đỏ rực như than mỗi khi họ ngoái đầu. Ngọn lửa bập bùng trong gió và than hồng tàn rồi tỏ rồi tàn rồi tỏ như nhịp máu của một sinh vật bị phanh thây trên nền đất trước mặt họ và họ nhìn đám lửa thứ chứa đựng những gì của chính con người vì họ yếu đi khi không có nó và bị tách khỏi cội nguồn và trở thành kẻ lưu vong. Vì từng ngọn lửa là tất thảy ngọn lửa, ngọn lửa đầu tiên và là ngọn lửa cuối cùng. Dần dần pháp quan đứng dậy và rời đi làm một việc mơ hồ và một hồi sau ai đó hỏi cựu linh mục rằng phải chăng đã có lần hai mặt trăng xuất hiện trên bầu trời và cựu linh mục ngắm mặt trăng giả trên cao và đáp rằng có lẽ là vậy. Nhưng nhất định Chúa Trời tối cao thông tuệ khi nản lòng trước sự lan toả chứng điên trên địa cầu này hẳn đã làm ướt ngón tay cái và cúi ra ngoài cõi thẳm và bóp nó rít lên thành cát bụi. Và nếu như Ngài tìm ra được cách khác để chim trời dò lối trong bóng đêm thì Ngài cũng có thể làm điều tương tự với cái này.
Câu hỏi kế tiếp được đặt ra là phải chăng trên Hoả Tinh hay những hành tinh khác ngoài không gian có con người hoặc những sinh vật tương tự và trước điều này pháp quan người đã trở về với ngọn lửa và đứng cởi trần mồ hôi nhễ nhại cất lời rằng không có ai ở bất cứ đâu trên vũ trụ này trừ những ai trên địa cầu. Tất thảy lắng nghe lời y nói, có người quay sang dõi nhìn y và có người không.
Sự thật về thế gian, y nói, là mọi sự đều có thể. Nếu không được chứng kiến tất cả từ lúc chào đời và do đó không rút cạn đi sự lạ kỳ của nó thì nó hiện ra trước mắt như vốn là như vậy, một màn ảo thuật của gánh thuốc, một quái mộng, một cơn mê ngập tràn những gì quái dị không có thứ tương đồng hay tiền lệ, một buổi lễ lưu động, một rạp xiếc di cư mà cái đích cuối sau nhiều phen dựng lều trên những cánh đồng lầy lội là khôn tả và đầy tai ương không thể nào lường được.
Vũ trụ không hề bó hẹp và trật tự bên trong nó không vì sự linh hoạt trong cấu trúc nó mà khiến những gì tồn tại ở phần này phải lặp lại ở phần nào khác. Ngay cả ở thế gian này những điều chưa biết thì nhiều hơn những điều đã biết và trật tự của vạn vật mà các anh nhìn thấy là cái mà các anh đặt ra, như một sợi dây luồn qua mê hồn trận, nhờ nó mà không lạc bước. Vì tồn tại có trật tự riêng và điều đó không một trí tuệ nào của con người hiểu rõ được, trí tuệ đó tự thân chỉ là một trong nhiều thực tại mà thôi.
Brown nhổ bọt vào củi lửa. Ông càng lúc càng nói điên nói khùng, gã nói.
Pháp quan mỉm cười. Y đưa lòng bàn tay áp lên ngực và hít thở không khí đêm và y bước lại gần và ngồi xổm và chìa một bàn tay. Y trở bàn tay và có một đồng xu kẹp giữa hai ngón.
Đồng xu đâu rồi, Davy?
Cứ để thử đi rồi đây nói cho.
Pháp quan vung tay và đồng xu loé sáng trên đầu trong ánh lửa. Nó hẳn đã được buộc vào một sợi dây mỏng, lông ngựa có lẽ vậy, do nó bay vòng quanh ngọn lửa rồi quay về chỗ pháp quan và y lấy tay bắt nó và mỉm cười.
Quỹ đạo của những vật thể quay tròn được định theo chiều dài sợi dây ràng buộc chúng, là lời pháp quan. Mặt trăng, đồng xu, con người. Tay y chuyển động như đang kéo thứ gì đó ngày một dài thêm ra khỏi một nắm đấm. Quan sát đồng xu nhé, Davy, y nói.
Y ném nó và nó rạch một đường cung qua ngọn lửa và biến mất vào bóng tối phía xa. Họ nhìn màn đêm nơi nó biến mất và họ nhìn pháp quan và trong lúc theo dõi người thì nhìn bên nọ và người thì nhìn bên kia họ cùng là những chứng nhân.
Đồng xu, Davy à, đồng xu, pháp quan thầm thì. Y ngồi thẳng và giơ tay và cười với những người vây quanh.
Đồng xu từ màn đêm trở về và cắt qua lửa khẽ tiếng vo ve và y giơ một bàn tay trống rồi ở đó là đồng xu. Nhẹ một tiếng vỗ và nó giữ đồng xu. Tuy vậy vài người vẫn cho rằng y đã ném đồng xu và giấu một đồng khác như hệt và tạo âm thanh bằng lưỡi do bản thân y là một lão ảo thuật gia xảo quyệt và chính miệng y nói khi y giấu đồng xu một điều ai cũng biết là có xu thật và xu giả. Sáng hôm sau vài người bước trên mảnh đất nơi đồng xu mất dạng nhưng nếu có ai tìm thấy thì cũng giữ cho riêng mình và khi mặt trời mọc họ lên ngựa và đi tiếp.
Cỗ xe chở kẻ khờ trong lồng lăn bánh phía sau và nay con chó của Glanton lùi bước để chạy theo, có lẽ xuất phát từ một bản năng bảo vệ mà trẻ em khơi lên ở động vật. Nhưng Glanton lại kêu con chó về với hắn và khi nó không tới hắn lùi lại dọc theo hàng người và cúi xuống và vụt nó bằng dây thừng buộc chân và ép nó lên phía trước.
Họ bắt đầu gặp phải những sợi xích và yên thồ, thanh gỗ kéo, bầy la chết, xe ngựa. Khung yên bị ăn trụi lớp da bọc và bạc trắng như xương, dấu răng chuột gặm nhấm dọc theo mép gỗ. Họ đi qua một vùng đất nơi sắt không rỉ và thiếc không xỉn màu. Bộ xương sườn những con bò chết lổ đổ mảng da khô nằm la liệt như tàn tích những chiếc thuyền sơ thuỷ lật úp trên cõi không vô bờ và họ đi sợ sệt và khắc khổ ngang qua những hình thù đen kịt và khô róc của ngựa và la những lữ khách từng cưỡi. Các con thú hốc hác này đã chết duỗi cổ trong đau đớn trên nền cát và nay thẳng đơ và mù loà và lảo đảo với những mảnh da ngả đen lủng lẳng trên xương sườn chúng rướn cái mõm dài gào hét theo ánh mặt trời nối tiếp vô tận trên đầu chúng. Đoàn kỵ binh đi tiếp. Họ băng qua một hồ khô rộng lớn với những hàng núi lửa đã tắt xung quanh như thành quả của loài côn trùng ngoại cỡ. Ở phía nam rải rác những mảnh vụn đá nổi giữa một bãi dung nham trải dài đến ngút mắt. Dưới vó ngựa cát thạch cao làm nên những vòng xoáy đối xứng kỳ lạ như mạt sắt trong từ trường và những hình thù này toả ra rồi tụ lại, cộng hưởng trên nền đất hoà nhịp đó rồi cuộn đi khắp vùng hồ cạn. Như thể lớp trầm tích của vạn vật còn lưu giữ một chút ít tri giác. Như thể trong sự chuyển dời của đoàn kỵ binh là một điều rất mực kinh khủng ám vào cả những hạt nhỏ nhất của thực tại.
Trên một gò ở rìa phía tây vùng hồ họ đi ngang qua một cây thập tự nơi đám Maricopa đã đóng đinh một tên Apache. Cái xác ướp treo thõng trên xà ngang miệng há thành một lỗ lớn, cái thứ bằng da bọc xương bị bào mòn do đá bọt thoát ra khỏi hồ và những mảnh xương sườn tái nhợt ló qua những vụn da trên ngực. Họ đi tiếp. Ngựa lê bước nặng nề giữa một nơi xa lạ và mặt đất tròn lăn dưới chân lặng thầm nghiền nát cõi không rộng lớn mà chúng bị giam cầm. Trong cái khắc nghiệt trung lập của vùng đất đó thảy hiện tượng đều được phú cho một sự ngang bằng kỳ lạ và không một thứ gì dù là nhện hay đá hay ngọn cỏ đòi được quyền ưu tiên. Chính sự minh xác của những vật thể này lại phủ nhận sự quen thuộc của chúng, vì con mắt nhìn nhận toàn thể dựa vào đặc điểm hay bộ phận nào đó và ở đây không thứ gì rõ hơn thứ khác và không thứ gì mờ hơn và dưới ánh sáng công bình giữa khung cảnh như vậy mọi ưu tiên đều tuỳ hứng và con người và tảng đá được ban cho những mối quan hệ máu mủ không ai ngờ tới.
Họ trở nên hốc hác và còm cõi dưới ánh nắng chói loà của những ngày đó và mắt họ trũng sâu và mỏi mệt như mắt những kẻ phiêu bạc về đêm bất ngờ khi ngày rạng. Cúi mình dưới nón họ trông như những kẻ trốn chạy quy mô lớn, như những sinh vật mặt trời thèm khát. Pháp quan cũng im lặng và trầm ngâm. Y đã nói về việc thanh tẩy bản thân khỏi những điều níu giữ một người vậy mà những ai lắng nghe y lại tin mình đã làm tốt mọi việc không vướng bận gì nữa. Họ đi tiếp và cơn gió cuốn bay bụi mịn xám trước mặt họ và họ thành một đoàn quân râu xám, người xám, ngựa xám. Núi non phía bắc dưới ánh mặt trời thì uốn lượn thành nhiều nếp và ban ngày dìu dịu và ban đêm lạnh lẽo và họ ngồi quanh đám lửa từng người chìm trong bóng tối của riêng mình còn kẻ khờ trong lồng thì nhìn ra ánh sáng. Pháp quan lấy gáy rìu đập bể xương ống chân một con linh dương và dịch tuỷ còn nóng nhỏ từng giọt nghi ngút xuống đá. Họ dõi nhìn y. Chủ đề là chiến tranh.
Kinh Thánh có dạy rằng ai sống vì thanh kiếm thì chết vì thanh kiếm, là lời kẻ đen.
Pháp quan mỉm cười, gương mặt óng lên lớp mỡ. Có người chính trực nào lại muốn điều đó khác đi? y nói.
Kinh Thánh cũng khẳng định chiến tranh là độc ác, Irving nói. Tuy vậy nó vẫn chứa rất nhiều câu chuyện đẫm máu về chiến tranh.
Chẳng có gì quan trọng ở điều con người nghĩ về chiến tranh, là lời pháp quan. Chiến tranh vẫn sống mãi. Cũng như là hỏi điều con người nghĩ về hòn đá. Chiến tranh muôn đời ở nơi đây. Trước thuở có con người, chiến tranh đã chờ đợi y. Sự nghiệp tối thượng trông mong kẻ thi hành tối thượng. Từ ngàn xưa tới mai sau nó là như thế. Là như thế và không là gì khác.
Y quay sang Brown, do pháp quan nghe thấy gã đang thầm chế giễu hoặc phản bác. À Davy, y nói. Sự nghiệp của anh mới cần được tôn trọng. Sao không khẽ cúi chào. Để từng người thừa nhận nhau.
Sự nghiệp của đây?
Hẳn rồi
Sự nghiệp của đây là gì?
Chiến tranh. Chiến tranh là sự nghiệp của anh. Phải vậy không?
Có phải của ông luôn không?
Cũng là của ta. Rất nhiều là đằng khác.
Còn mấy cái linh tinh như là sách vở rồi xương xẩu thì sao?
Mọi sự nghiệp khác đều nằm trong sự nghiệp chiến tranh.
Có phải nhờ vậy mà chiến tranh sống mãi?
À không. Nó sống mãi vì người trẻ yêu nó và người già yêu nó ở chúng. Những người đã chiến đấu, những người không.
Là quan điểm của ông thôi.
Pháp quan mỉm cười. Con người sinh ra là vì trò chơi. Chỉ có thế thôi. Trên đời này trẻ con đều biết rằng chơi cao quý hơn làm. Chúng cũng biết rằng giá trị hay ý nghĩa của trò chơi không nằm ở chính trò chơi đó mà nằm trong giá trị của những hiểm nguy phải gánh chịu. Các trò may rủi cần món cược để mang ý nghĩa. Các trò thể thao thì cần kỹ năng lẫn sức mạnh của đối phương và nỗi hổ thẹn khi bại vong và niềm kiêu hãnh khi thắng lợi thì tự thân đã đủ sức nặng do chúng nằm ở giá trị của người tham gia và định nghĩa họ. Nhưng dù là thử vận may hay là thử giá trị thì tất cả cuộc chơi đều hướng tới tình trạng chiến tranh bởi vì ở đây những gì đem cược sẽ nuốt chửng cuộc chơi, người chơi, tất cả.
Giả sử hai người tham gia cuộc chơi bài nhưng không có gì để cược trừ sinh mạng mình. Ai mà lại chưa nghe câu chuyện đó? Một cú ngửa bài. Toàn vũ trụ cho người chơi đó xưa nay đã vận động lanh canh tới chính giây khắc này để báo rằng liệu y sẽ chết dưới tay người khác hay là người khác dưới tay y. Còn gì chắc chắn hơn để khẳng định giá trị của con người? Sự nâng tầm cuộc chơi lên tới mức tối thượng thì không cho phép tranh luận về ý niệm số phận. Lựa chọn người này thay vì người kia là một ưu tiên tuyệt đối và bất khả vãn hồi và chỉ có kẻ ngu dốt mới cho rằng một quyết định sâu sắc như vậy lại không có chủ đích hay ý nghĩa nào từ hai phía. Trong những cuộc chơi với mục tiêu là huỷ diệt kẻ thua thì lựa chọn kia khá rõ ràng. Người giữ trong tay tổ hợp bài cá biệt thì về sau bị loại khỏi cuộc đời. Đây là bản chất của chiến tranh, với món cược vừa là cuộc chơi vừa là quyền thế vừa là biện minh. Vì vậy, chiến tranh là hình thái chân thực nhất của tiên tri. Nó là bài thử thách ý chí của một người và ý chí của người khác giữa lòng một ý chí lớn hơn do đó khiến họ phải đưa ra lựa chọn của mình. Chiến tranh là trò chơi tối thượng vì chiến tranh sau rốt là xung lực thống nhất mọi hiện tồn. Chiến tranh là Chúa Trời.
Brown chú tâm nhìn pháp quan. Ông điên rồi Holden. Điên thật rồi.
Pháp quan mỉm cười.
Quyền lực chẳng tạo ra lẽ phải, là lời Irving. Kẻ thắng vài cuộc chơi làm sao biện minh được về mặt đạo đức.
Quy luật đạo đức là thành quả sáng tạo của loài người hòng tước quyền khỏi kẻ mạnh vì lợi ích của kẻ yếu. Quy luật lịch sử bao giờ cũng đảo lộn điều đó. Góc nhìn đạo đức không bao giờ được xác chứng đúng sai bằng cuộc thử thách tối thượng nào cả. Kẻ bỏ mạng sau cuộc tranh đấu chẳng được xem là kẻ có quan điểm sai lầm. Chính cái việc y dự phần vào cuộc thử thách đã dấy lên bằng chứng về một góc nhìn mới mẻ bao quát hơn. Các bên tham gia sẵn lòng rời khỏi cuộc tranh luận do sự tầm thường của nó và đệ đơn trực tiếp lên cơ quan thẩm quyền tuyệt đối của lịch sử cho thấy rõ là nhỏ bé thay những tư kiến và to lớn thay những khác biệt sinh ra từ chúng. Bởi vì tranh luận quả là tầm thường, nhưng không phải vậy đối với những ý chí riêng biệt qua đó được làm rõ. Niềm tự đắc của con người sẽ tiếp cận cái vô biên vậy mà kiến thức nơi y vẫn bất toàn và dù cho y có xem trọng ra sao những phán xét của mình thì y vẫn phải bày ra trước một toà án cao hơn. Ở đây không thể tồn tại lời thỉnh cầu đặc biệt. Ở đây những nỗi bận tâm về công bình và chính trực và quyền đạo đức đều vô hiệu và vô căn cứ và ở đây là ý kiến của kẻ tranh tụng bị khinh miệt. Những quyết định sinh tử, về điều gì cần xảy đến và điều gì không thảy đều vượt qua mọi vấn đề lẽ phải. Những tuyển chọn tầm vóc như vậy đều lấn át những cái kém hơn, về đạo đức, về tinh thần, về tự nhiên.
Pháp quan tìm ai đó phản đối trong nhóm người vây quanh. Còn linh mục thì sao? y nói.
Tobin ngẩng đầu. Linh mục không nói gì.
Linh mục không nói gì, là lời pháp quan. Từ chối trả lời. Nhưng mà linh mục nói rồi đó. Bởi vì linh mục từ xưa đã cởi bỏ y phục của sự nghiệp mình và nắm lấy công cụ của sự nghiệp cao quý hơn mà ai nấy đều tôn kính. Linh mục cũng không muốn hầu cận Chúa Trời mà muốn tự trở thành Chúa Trời.
Tobin lắc đầu. Ăn nói báng bổ vừa thôi, Holden. Và thực chất đây chưa từng là linh mục mà chỉ là người mới theo dòng tu thôi.
Linh mục lành nghề hoặc linh mục tập sự, là lời pháp quan. Người theo Chúa Trời và người theo chiến tranh thì tương đồng đến kỳ lạ.
Đây không muốn vặc lại quan điểm của ông, là lời Tobin. Đừng có hỏi.
Linh mục à, là lời pháp quan. Ta còn hỏi được gì ở anh mà anh chưa từng cho nữa?
Ngày hôm sau họ cất bước băng qua vùng xấu, dắt ngựa đi trên một bãi dung nham nứt nẻ đỏ pha đen như lòng chảo máu khô, len qua những vùng hoang màu hổ phách như đám tàn binh mờ nhạt đang bò lên khỏi vùng đất bị ruồng, khiêng cỗ xe nhỏ qua khe nứt và gờ đá, kẻ khờ bấu vào song sắt và òm ọp khàn giọng với mặt trời như một vị thần kỳ quái bất kham bị bắt từ một chủng tộc suy thoái. Họ băng qua một vùng than xỉ bùn đặc quánh và tro núi lửa khó lường như đáy địa ngục đã cháy hết và họ leo lên một dãy đồi thấp cằn cỗi đá hoa cương tới một doi đất trơ trọi nơi pháp quan, dùng phép tam giác đạc dựa vào các điểm đã biết trong cảnh vật, vạch nên hướng đi mới. Một bãi sỏi trải tới tận chân trời. Xa xa ở phía nam bên kia những đồi lửa đen là một dãy núi chơ vơ trắng nhạt, cát hoặc thạch cao, như sống lưng một con quái thú nổi lên giữa các quần đảo tăm tối. Họ đi tiếp. Sau một ngày đi ngựa họ tới được những bể đá và tìm thấy nguồn nước mình cần. Họ uống và múc từ những bể trên cao xuống những bể khô phía dưới cho bầy ngựa.
Thảy những nơi chứa nước giữa miền hoang mạc đều có xương nhưng pháp quan tối đó đã mang tới đám lửa một bộ xương chưa ai từng thấy, một chiếc xương đùi lớn của một loài thú tuyệt chủng y đã tìm thấy từ lâu bị phong hoá trên vách đá và cầm nó y đo đạc bằng thước dây may và phác hoạ vào quyển sách của mình. Mọi người trong nhóm đều đã nghe pháp quan nói về cổ sinh vật học trừ những tân binh và họ ngồi quan sát và khơi lên những câu hỏi nảy ra được. Y trả lời cẩn trọng, đặt câu hỏi tương tự cho họ, như thể họ là học giả tập sự. Họ gật đầu uể oải và vươn tay chạm vào khúc xương nhơ nhuốc hoá đá, có lẽ để dùng ngón cảm nhận sự bao la về thời gian pháp quan đã đề cập. Người trông coi dắt kẻ khờ ra khỏi lồng giam và trói nó bên ngọn lửa bằng lông ngựa bện thành dây nó không thể nhai đứt và nó đứng ngả người cổ đeo vòng hai tay chìa tới như thể thèm ngọn lửa. Con chó Glanton nuôi liền bật dậy và ngồi ngắm nó và kẻ khờ vung thân chảy dãi với cặp mắt vô hồn sáng ngời giả tạo bên ánh lửa. Pháp quan đã dựng thẳng xương đùi để minh hoạ rõ hơn sự tương đồng giữa nó và các loại xương phổ biến trong vùng và y thả nó rơi xuống cát và đóng quyển sách.
Không có gì bí ẩn về nó, y nói.
Những tân binh chớp mắt lơ mơ.
Khao khát trong lòng các anh là muốn nghe kể vài điều bí ẩn. Điều bí ẩn là trên cõi đời này không có gì bí ẩn.
Y đứng dậy và bước ra bóng tối cách xa ngọn lửa. Ờ, là lời của cựu linh mục đang dõi nhìn, tẩu thuốc lạnh dần ở hàm răng. Không hề có gì bí ẩn. Làm như chính y không bí ẩn vậy, đồ con bịp chết toi.
Ba ngày sau họ tới được sông Colorado. Họ đứng gần bờ sông dõi nhìn sóng cuộn và màu đất nơi dòng nước chảy xuống đều đều từ hoang mạc. Hai con sếu trên bờ bật dậy và tung cánh bay đi và ngựa lẫn la được dẫn xuống mạo hiểm bước vào những chỗ nông xoáy và đứng uống và ngước lên mõm nhỏ giọt nhìn về phía dòng chảy ngang qua và bờ bên kia.
Ngược dòng sông họ bắt gặp trong khu trại những gì còn sót của một đoàn xe bị tàn phá do dịch tả. Những kẻ còn sống di chuyển quanh lửa bếp giữa trưa hay dán mắt vô hồn vào những long kỵ binh rách nát đang phi ngựa ra khỏi lùm liễu. Tài sản của chúng nằm đây nằm đó trên cát và đồ đạc của người đã khuất ở riêng một nơi để chờ chia. Trong trại có một vài tên da đỏ Yuma. Đám đàn ông mái tóc cắt bằng dao hoặc bết bùn thành tóc giả và chúng lê bước với cây chuỳ nặng lủng lẳng trong tay. Chúng và đám phụ nữ đều xăm kín mặt và đám phụ nữ loã thân trừ váy bằng vỏ cây liễu đan thành sợi và trong số đó nhiều đứa còn xuân sắc và nhiều đứa mắc chứng giang mai.
Glanton đi qua bãi chứa hàng ảm đạm này với con chó sát bên và cây súng trường trên tay. Đám Yuma đang bắt những con la tội nghiệp còn lại vượt qua sông và hắn đứng trên bờ quan sát chúng. Xuôi dòng chúng đã dìm chết một con trong bầy và kéo nó lên bờ đặng làm thịt. Một lão già khoác áo xắc-tô và râu dài ngồi với cặp ủng bên cạnh và chân ngâm dưới sông.
Ngựa của bây đâu rồi? là lời Glanton.
Ăn hết trơn rồi.
Glanton chăm chú nhìn dòng sông.
Bây tính băng qua thế nào?
Thì đi phà.
Hắn nhìn bên kia sông nơi lão trỏ tay tới. Cho bây qua sông thì gã được cái gì?
Được một đô.
Glanton quay sang nhìn ngắm toán hành hương trên bãi cát. Con chó đang uống nước sông và hắn nói với nó vài câu và nó lại gần và ngồi bên đầu gối hắn.
Chiếc phà rời bờ bên kia và sang một bến thượng nguồn nơi có một cột neo làm bằng gỗ trôi dạt. Chiếc phà được tạo nên bằng hai thùng xe cũ ghép vào nhau và được dán kín bằng nhựa đường. Một nhóm người đã vác đồ mình lên vai và đứng đợi. Glanton quay lại đi lên bờ lấy ngựa của hắn.
Người đang lái phà là một bác sĩ bang New York tên Lincoln. Gã đang giám sát cảnh chất hàng, những hành khách bước lên phà và ngồi dọc lan can với hành lý của mình và lo ngại nhìn ra mặt nước mênh mông. Một con chó lai giống ngao ngồi trên bờ quan sát. Khi Glanton tới gần nó dậy dựng lông. Gã bác sĩ ngoái đầu và lấy tay chắn mắt và Glanton giới thiệu bản thân. Hai người bắt tay nhau. Rất hân hạnh, thưa Đại uý Glanton. Tôi sẵn lòng phục vụ.
Glanton gật đầu. Gã bác sĩ hướng dẫn hai người phụ việc và gã cùng Glanton bước trên con đường dẫn tới hạ nguồn sông. Glanton dắt con ngựa và con chó của gã bác sĩ theo sau cách xa tầm mười bước.
Đoàn của Glanton đóng quân trên một bãi cát phần nào nằm dưới bóng những cây liễu ven sông. Khi hắn và gã bác sĩ đi tới kẻ khờ đứng dậy trong lồng và nắm chặt song sắt và bắt đầu hú như muốn xua đuổi gã bác sĩ. Gã bác sĩ tránh xa kẻ khờ, liếc nhìn người chủ, nhưng các phò tá của Glanton đã bước lại và chốc lát gã bác sĩ và pháp quan đã say sưa trò chuyện mà không để ý tới ai khác.
Chiều tối Glanton và pháp quan và một toán năm người đi ngựa xuôi dòng sông vào khu trại da đỏ Yuma. Họ đi xuyên một cánh rừng nhợt cây liễu và cây sung dính đất bùn do nước lớn và họ đi qua những máng kênh cũ và những cánh đồng mùa đông nơi vỏ bắp khô loạt xoạt kêu trong gió và họ sang sông tại bến Algodones. Khi lũ chó báo hiệu họ đã tới thì mặt trời đã lặn và vùng đất phía tây màu đỏ và bốc khói và họ đi hàng một thành bức tranh khảm dưới ánh rượu vang với bên tối của họ hướng vào sông. Những đám lửa bếp ở khu trại âm ỉ cháy giữa những tán cây và một phái đoàn man rợ đi ngựa ra đón.
Họ dừng và ngồi im trên lưng ngựa. Những kẻ đang tới gần ăn vận lố lăng và cũng tỏ ra đĩnh đạc làm những kỵ binh tái nhợt khó lòng kiềm chế. Thủ lĩnh là một người đàn ông tên Caballo en Pelo và cái lão mô-gôn này vận một chiếc bành tô len buộc thắt lưng hợp khi trời lạnh hơn và bên dưới là một chiếc áo cánh vải lụa cho đàn bà và một chiếc quần ống bó vải ca-xi-nét xám. Lão nhỏ bé và ốm nhom và lão mất một con mắt do đám Maricopa và lão giới thiệu dân Mỹ kèm một cái liếc dâm dục kỳ quái trước đây có lẽ từng là nụ cười. Bên phải lão là một thủ lĩnh cấp thấp tên Pascual vận một chiếc áo khoác khuy ếch hở khuỷu tay và đeo trên mũi một chiếc xương gắn nhiều mặt dây chuyền nhỏ. Người thứ ba là Pablo và gã khoác một chiếc áo đỏ hung có viền bện và cầu vai bằng dây bạc đã xỉn màu. Gã chân đất và lộ cặp cẳng và gã đeo trên gương mặt một cặp kiếng tròn màu lá cây. Trong bộ trang phục đó chúng xếp hàng trước dân Mỹ và gật đầu nghiêm trang.
Brown nhổ bọt xuống đất tỏ ra ghê tởm và Glanton lắc đầu.
Mấy thằng mọi này trông điên nhỉ, hắn nói.
Có mỗi pháp quan là dường như để ý tới chúng và y rất tỉnh táo trong việc đó, có lẽ do y cho rằng mọi sự hiếm khi đúng như cái chúng phơi bày.
Buổi chiều tốt lành, y nói.
Lão mô-gôn hất cằm, một cử chỉ nhỏ nhẹ nhuốm màu âm u khó đoán. Buổi chiều tốt lành, lão nói. Các anh từ đâu tới vậy?
(hết chương 17)