[Dịch] Thiên Đỉnh Máu - Cormac McCarthy (Chương 16)
Thung lũng Santa Cruz - San Bernardino - Bò đực hoang - Tumacacori - Nơi truyền giáo - Ẩn sĩ - Tubac - Toán trinh sát biệt tăm - San...

XVI
Thung lũng Santa Cruz - San Bernardino - Bò đực hoang - Tumacacori - Nơi truyền giáo - Ẩn sĩ - Tubac - Toán trinh sát biệt tăm - San Xavier del Bac - Đồn luỹ Tucson - Những kẻ bới xác - Người Chiricahua - Cuộc chạm trán cam go - Mangas Colorado - Trung úy Couts - Tuyển quân ở quảng trường - Kẻ hoang dã - Giết Owens - Trong quán rượu - Ông Bell bị tra hỏi - Pháp quan bàn về bằng chứng - Chó quái thai - Điệu Fandango - Pháp quan và thiên thạch.
Trời lạnh hơn vào buổi sáng khi họ lên đường. Không một bóng người trên đường phố và không một dấu vết trên lớp tuyết mới phủ. Bên rìa thị trấn họ nhìn thấy nơi lũ sói từng băng qua con lộ.
Họ khởi hành bên một con sông nhỏ, lớp băng mỏng, một đầm lầy đóng đá nơi vịt bước lên bước xuống kêu rít ríu. Chiều hôm đó họ vượt qua một thung lũng tốt tươi nơi cỏ đông úa tàn vươn tới bụng ngựa. Những cánh đồng trống nơi hoa màu đã hư nát và vườn cây gồm táo và mộc qua và lựu nơi trái khô rơi rụng xuống đất. Họ tìm thấy lũ hươu bị dồn trên đồng cỏ và dấu chân gia súc và đêm đó khi họ ngồi quanh đám lửa nướng sườn và đùi một con nai họ nghe thấy được tiếng rống của bò đực trong bóng tối.
Ngày hôm sau họ đi qua tàn tích một trang viên cũ ở San Bernardino. Trên đồng cỏ đó họ nhìn thấy lũ bò đực hoang già tới nỗi chúng mang con dấu Tây Ban Nha ở trên hông và vài con trong số đó lao tới nhóm người nhỏ bé và bị bắn gục và nằm trên mặt đất đến khi một con phóng ra khỏi lùm cây keo và găm sừng vào sườn con ngựa chở James Miller. Gã đã rút sẵn một chân khỏi bàn đạp khi gã thấy nó lao tới và cú đâm gần như hất gã văng khỏi yên. Con ngựa la hét và giãy đạp nhưng con bò đã chôn chân và nó nhấc cả ngựa lẫn người lên khỏi mặt đất trước khi Miller rút kịp cây súng ngắn và khi gã kê nòng súng ngay trán con bò và khai hoả và cả cái khối quái dị sụp xuống thì gã bước ra khỏi đống đổ nát và bỏ đi trong ghê tởm với cây súng trong tay còn toả khói. Con ngựa gồng mình đứng dậy và gã quay lại và bắn nó và nhét súng vào thắt lưng và xắn tay tháo bộ yên cương. Con ngựa nằm gọn trên con bò và phải kéo vài lần gã mới gỡ được cái yên. Những kỵ binh khác đã dừng lại để xem và có người lùa con ngựa dư cuối cùng ra khỏi đàn và ngoài ra họ không giúp gì nữa.
Họ đi tiếp, men theo dòng sông Santa Cruz, xuyên qua những khu rừng bạch dương khổng lồ ở lòng sông. Họ lại không tìm thấy dấu vết đám Apache và họ không tìm thấy dấu vết nào của toán trinh sát biệt tăm. Ngày hôm sau họ đi qua nơi truyền giáo cũ ở San José de Tumacacori và pháp quan cưỡi ngựa đi xem nhà thờ cách đường tầm một dặm. Y đã trình bày sơ lược về lịch sử và kiến trúc của nơi truyền giáo và những ai đã nghe thì không tin được là y chưa từng tới đó. Ba người trong nhóm đi cùng y và Glanton nhìn họ vẻ lo âu. Hắn và người khác đi thêm một đoạn ngắn rồi hắn dừng và quay lại.
Nhà thờ cũ hoang phế và cửa mở toang dẫn vào một khu đất bốn bề tường cao. Khi Glanton và người của mình qua lối vào đổ nát bốn con ngựa đứng trong khuôn viên trống bên những cây ăn trái và giàn nho khô héo. Glanton đi với cây súng trường dựng thẳng trước mặt, báng súng đặt trên đùi. Con chó của hắn bám sát con ngựa và họ cẩn trọng tiến tới những bức tường đổ sụp của nhà thờ. Họ toan đi qua cửa nhưng khi họ vừa tới thì vang tiếng súng bên trong và bồ câu bay vút và họ trượt khỏi lưng ngựa và núp sau chúng tay cầm súng trường. Glanton ngoái nhìn những người khác rồi dắt ngựa tới một nơi hắn nhìn thấy được bên trong. Một phần tường đã sụp từ lâu và hầu hết mái nhà cũng vậy và có một gã đàn ông nằm trên sàn. Glanton dắt ngựa vào phòng thánh và đứng cúi nhìn cùng những người khác.
Gã đàn ông dưới đất đang thoi thóp và gã vận quần áo tự may bằng da cừu kể cả ủng và nón kỳ dị. Họ lật người gã trên những ô gạch sét nẻ và gã hàm cử động và có nước dãi máu đọng ở môi dưới. Mắt gã đờ đẫn và có nỗi sợ trong chúng và còn gì đó khác. John Prewett đặt báng súng xuống sàn và vung bình thuốc để nạp đạn. Mới thấy một thằng nữa bỏ chạy, gã nói. Có hai thằng lận.
Gã đàn ông dưới đất cựa quậy. Gã đặt một tay lên bẹn và gã khẽ nhích người và chỉ tay. Vào họ hay là vào độ cao gã từng rơi xuống hay là vào cái đích vĩnh hằng của gã họ đều không biết. Rồi gã chết.
Glanton nhìn quanh tàn tích. Gã con hoang này từ đâu tới? hắn nói.
Prewett hất đầu về phía vách bùn đang đổ sụp. Thằng đó ở đằng kia. Không biết gã từng là ai. Giờ cũng không. Đây mới bắn chết gã con hoang đó.
Glanton nhìn pháp quan.
Ta nghĩ gã bị khờ, pháp quan nói.
Glanton dắt con ngựa mình qua nhà thờ và ra ngoài bên một cánh cửa nhỏ trong gian giữa vào sân. Hắn đang ngồi đó khi họ lôi tên ẩn sĩ còn lại ra ngoài. Jackson thúc hắn đi tới bằng nòng cây súng trường, một người ốm nhom, không trẻ. Kẻ họ đã giết là anh hắn. Chúng đã bỏ thuyền ngoài khơi từ rất lâu và tìm đường tới nơi này. Hắn run sợ và nói không được tiếng Anh và được một ít tiếng Tây Ban Nha. Pháp quan nói với hắn bằng tiếng Đức. Chúng đã ở đây nhiều năm. Người anh mất trí ở nơi này và cái người trước mặt họ trong bộ da thú và cặp ủng lạ kỳ lại không hề tỉnh táo. Họ để mặc hắn. Khi họ lên đường hắn vừa chạy quanh sân vừa gào thét. Hắn có vẻ không nhận ra rằng anh mình đã chết trong nhà thờ.
Pháp quan đuổi kịp Glanton và họ cùng đi ngựa ra đường.
Glanton nhổ bọt. Đáng lẽ phải bắn chết hắn luôn, hắn nói.
Pháp quan mỉm cười.
Dân da trắng như vậy đây nhìn không nổi, Glanton nói. Hà Lan hay bất cứ đâu. Đây nhìn không nổi cảnh đó.
Họ bắc tiến dọc theo vết sông. Khu rừng trơ trọi và lá rụng nằm dưới đất bám vảy băng và những cành lốm đốm khẳng khiu của cây bạch dương thì nổi bật và nặng trĩu trước bầu trời u ám vùng hoang mạc. Chiều tà họ đi qua Tubac, hoang tàn, lúa mì héo trên ruộng mùa đông và cỏ mọc trên đường phố. Có một kẻ mù ngồi trên ghế đẩu quan sát quảng trường và khi họ ngang qua thì hắn ngẩng đầu nghe ngóng.
Họ đi ra hoang mạc dựng trại. Trời lặng gió và bầu im ả cũng như chính cái vùng trống trải kia đều được những kẻ trốn chạy ưa thích vô cùng và không có dãy núi nào cho kẻ thù núp bóng. Họ thức giấc và thắng yên khi trời tờ mờ sáng, tất thảy đi cùng nhau, vũ khí sẵn sàng. Từng người một nhìn lướt qua địa thế và những cử động của loài nhỏ nhất thì khắc sâu vào ý nghĩ chung đến khi họ được nối kết bằng những sợi dây vô hình về sự cảnh giác và tiến vào khung cảnh đó với cùng một âm vang. Họ đi qua những trang viên hoang phế và những ngôi mộ bên đường và giữa sáng họ đã theo được dấu vết đám Apache rời hoang mạc phía tây và đang lao tới họ qua cát xốp ở đáy sông. Họ xuống yên và bốc một ít cát bên rìa dấu chân và xoa chúng vào kẽ tay và kiểm tra độ ẩm dưới ánh nắng và thả nó rơi và nhìn lên thượng nguồn sông qua những hàng cây trơ trọi. Họ lại lên yên và đi tiếp.
Họ tìm thấy toán trinh sát biệt tăm treo ngược đầu trên cành kim tước cháy đen. Họ bị đâm qua gân gót chân bởi những thoi nhọn gỗ lục và họ loã thân và xám xịt trên đám tro tàn nơi họ bị nướng đến khi đầu hoá than và não sủi tăm trong hộp sọ và khói bốc ra từ lỗ mũi. Lưỡi họ bị kéo ra giữ chặt bằng những que nhọn và họ bị cắt mất tai và người họ bị đá lửa rạch toác làm ruột gan thòng xuống ngực. Vài người bước tới cầm dao và cắt xác rơi xuống và họ để chúng nằm trong tro tàn. Hai hình dáng sẫm màu hơn là những kẻ Delaware cuối cùng và hai cái còn lại là tên xứ Van Diemen và một người miền đông tên Gilchrist. Giữa những kẻ xâm lược hung ác họ không được ưu ái hay phân biệt mà chỉ chịu đựng và chết trong công bình.
Đêm đó họ đi qua nơi truyền giáo San Xavier del Bac, một nhà thờ cổ kính uy nghi dưới ánh sao. Không một con chó nào sủa. Những cụm lều của dân Papago như vắng người. Khí trời trở lạnh và trong lành và vùng đất xa hơn nữa chìm trong bóng tối không gì ở đó cú cũng không. Một vệt sao băng phớt màu lục xuất hiện từ đáy thung lũng phía sau họ và bay ngang đầu và tan biến lặng lẽ vào hư không.

Rạng đông ở rìa đồn luỹ Tuscon họ đi qua tàn tích một vài trang viên và họ đi qua các dấu hiệu ven đường nơi người bị sát hại. Trên bình nguyên là một trang trại nhỏ nơi các toà nhà vẫn còn bốc khói và dọc theo hàng rào dựng nên bằng xương rồng lũ kền kền đứng sát nhau hướng mắt nhìn phía đông đón mặt trời hứa, nhấc từng chân một và dang cặp cánh như áo choàng. Họ nhìn thấy xương những con heo chết trong một mảnh sân tường đất sét và họ nhìn thấy một con sói trong luống dưa đang nằm rạp và dõi nhìn họ đi qua. Thị trấn nằm trên bình nguyên phía bắc thành một dãy tường mỏng mờ nhạt và họ dồn ngựa dọc theo một gò rắn thấp rải sỏi và quan sát nó và vùng đất và những núi xa trơ trọi. Những hòn đá hoang mạc làm nên những dải bóng đen và cơn gió đang thổi từ phía mặt trời nằm im và rung động ở miền đông địa cầu. Họ thúc ngựa xông ra đồng bằng như đám Apache đã làm hai ngày trước đó với hàng trăm tên kỵ binh.
Họ đi ngựa súng đặt trên đầu gối, tản rộng, song song. Mặt trời dâng ở hoang mạc soi tỏ vùng đất trước mặt họ và bồ câu bay ra khỏi lùm cây từng con và từng cặp và khe khẽ hót. Thêm một ngàn i-át và họ nhìn thấy được đám Apache cắm trại bên bức tường phía nam. Gia súc chúng đang gặm cỏ dưới tán cây liễu ở lòng sông theo mùa phía tây thị trấn và thứ trông như đá hay mảnh vụn dưới tường lại là xập xệ những mái che và lều tạm làm bằng cột và da thú và bạt xe ngựa.
Họ đi tiếp. Một vài con chó sủa. Con chó của Glanton bước tới bước lui vẻ lo lắng và một phái đoàn kỵ binh đã rời trại.
Chúng là người Chiricahua, hai mươi, hăm lăm kẻ. Tuy mặt trời đã lên nhưng cái băng giá cũng không giảm vậy mà chúng vẫn ở trần, chỉ mang ủng và khố và nón da gắn lông chim, đám man rợ thời đồ đá bôi sơn đất sét nên những hình bí ẩn, nhớp nhúa, hôi hám, lớp sơn trên ngựa nhạt màu mờ bụi và lũ ngựa bật nhảy và thở phì trong cái lạnh. Chúng có giáo và cung tên và một vài kẻ có súng hoả mai và chúng nuôi tóc dài đen và hướng mắt đen vô hồn vào đoàn kỵ binh đang xem xét vũ khí chúng, tròng trắng đỏ ngầu và mờ đục. Không ai mở lời với nhau và chúng lấy vai đẩy ngựa đi qua nhóm người theo một lối di chuyển nghi thức như thể phải dẫm lên từng chỗ nhất định theo trình tự nhất định như trong một trò con nít nhưng với một hình phạt kinh khủng chờ xảy đến.
Tên thủ lĩnh đám chiến binh chó rừng này là một gã nhỏ thó da ngăm vận bộ quân phục Mễ cũ sờn và gã mang một thanh kiếm và gã mang trong chiếc đai vai rách nát loè loẹt một trong những cây súng Whitneyville từng thuộc về trinh sát. Gã dừng ngựa trước Glanton và xác định vị trí của từng kỵ binh khác rồi hỏi bằng tiếng Tây Ban Nha trôi chảy là họ đang đi đâu. Gã vừa dứt lời thì con ngựa Glanton vồ tới cắn tai con ngựa gã. Máu văng tung toé. Con ngựa kêu hét và lồng lên và gã Apache cố giữ thăng bằng và rút kiếm và đang đối mặt với hai họng súng trường của Glanton. Glanton tát mõm con ngựa mình hai lần và nó hất ngược đầu một mắt chơm chớp và máu chảy từ miệng. Gã Apache giật đầu con ngựa tơ của mình và khi Glanton quay sang nhìn người của mình hắn thấy họ chết trân do bế tắc với đám man rợ, họ và vũ khí của họ gắn thành một khối căng thẳng và mỏng manh như một trò lắp ráp với từng mảnh nằm ở các vị trí phụ thuộc vào mọi mảnh khác và ngược lại sao cho không mảnh nào lay động làm sụp đổ cả kết cấu.
Tên thủ lĩnh là người đầu tiên cất lời. Gã chỉ vào cái tai rỉ máu của con ngựa mình và gào lên tiếng Apache, cặp mắt đen lảng tránh Glanton. Pháp quan thúc ngựa đi tới.
Nào nào cứ bình tĩnh, y nói. Là tai nạn thôi, không gì nghiêm trọng cả.
Nhìn, là lời gã Apache. Nhìn tai con ngựa kìa.
Gã giữ đầu con ngựa cho dễ nhìn thấy nhưng nó vùng thoát và vẩy cái tai gãy làm máu bắn lên những kỵ binh. Máu ngựa hay máu nào thì cơn run cũng lan khắp cái kết cấu nguy hiểm kia và bầy ngựa tơ cứng thân và rùng mình dưới ánh đỏ rực khi ngày rạng và vùng hoang mạc bên dưới ình ình như trống lẫy. Sự đình chiến không ai công nhận này được kéo dài đến tối đa khi pháp quan hơi nhổm người trên yên và giơ cao cánh tay và gửi lời chào về phía chúng.
Tám tới mười tên kỵ binh khác đã rời khỏi bức tường. Thủ lĩnh của chúng là một kẻ cao nhồng với cái đầu lớn và hắn mang quần yếm cắt tới đầu gối cho vừa ống giày da và hắn mang áo kẻ ô và quàng khăn đỏ. Hắn không có vũ khí còn những kẻ xung quanh thì trang bị súng trường nòng cụt và chúng cũng mang súng ngắn cài yên và những đồ dùng khác của toán trinh sát bị giết. Khi chúng tới gần những kẻ man rợ khác nhường lối cho chúng. Tên da đỏ chủ con ngựa bị cắn thì chỉ vào vết thương cho chúng thấy nhưng kẻ thủ lĩnh chỉ gật đầu hoà nhã. Hắn quành ngựa về phía pháp quan và nó ngoặt cổ và hắn ngồi im. Buổi sáng tốt lành, hắn nói. Các anh từ đâu tới vậy?
Pháp quan mỉm cười và chạm vòng hoa héo trên trán, có lẽ là quên mình không đội nón. Y đưa người thủ lĩnh Glanton tới rất trang trọng. Lời giới thiệu trao nhau. Người đàn ông tên Mangas và hắn thân mật và nói tiếng Tây Ban Nha rất giỏi. Khi cái gã cưỡi con ngựa bị thương nhắc lại lời yêu cầu thì hắn xuống yên và tóm đầu con thú và kiểm tra. Hắn chân vòng kiềng mặc dù cao lớn và cơ thể mất cân đối đến kỳ lạ. Hắn ngước nhìn dân Mỹ và hắn nhìn sang những tên kỵ binh khác và vẫy tay với chúng.
Đi đi, hắn nói. Hắn quay sang Glanton. Họ thân thiện lắm. Mặc dù hơi say, nhưng chỉ vậy thôi.
Những tên kỵ binh Apache đã bắt đầu tách ra khỏi dân Mỹ như tránh xa bụi gai. Dân Mỹ dựng súng trường và Mangas dắt con ngựa tiến bước và nâng đầu nó, giữ con thú chỉ bằng hai tay và con mắt trắng đảo điên cuồng. Sau một hồi bàn luận hiển nhiên là dù thiệt hại được đánh giá ra sao thì không thứ tiền nào có thể bồi thường trừ rượu uýt-ki.
Glanton nhổ bọt và nhìn người đàn ông. Không có rượu, hắn nói.
Bầu im lặng ập xuống. Những tên Apache nhìn nhau. Chúng nhìn túi yên và bình nước và bình bầu. Sao cơ? là lời Mangas.
Không có uýt-ki, là lời Glanton.
Mangas lỏng sợi cương da thô của con ngựa. Người của hắn nhìn hắn. Hắn nhìn thẳng tới thị trấn bốn bề tường và nhìn pháp quan. Không có uýt-ki sao? hắn nói.
Không có.
Giữa những gương mặt u ám hắn có vẻ không nao núng. Hắn săm soi dân Mỹ, đồ đạc của họ. Thực tế họ không giống người có uýt-ki chưa uống. Pháp quan và Glanton dừng ngựa và không đưa thêm lời đàm phán nào nữa.
Có uýt-ki ở Tucson, là lời Mangas.
Hẳn rồi, là lời pháp quan. Và cả binh lính nữa. Y cho ngựa tiến bước, một tay cầm súng trường và một tay cầm sợi cương. Glanton di chuyển. Con ngựa sau lưng hắn cũng cử động. Đoạn Glanton dừng lại.
Bây có vàng không? hắn nói.
Có chứ.
Bao nhiêu.
Kha khá.
Glanton nhìn pháp quan rồi lại nhìn Mangas. Được, hắn nói. Ba ngày. Ngay tại đây. Một thùng uýt-ki.
Một thùng?
Một thùng. Hắn thúc con ngựa tơ và đám Apache nhường lối và Glanton và pháp quan và những người phía sau đi hàng một tới cánh cổng nơi thị trấn bùn xập xệ đang bốc cháy dưới ánh mặt trời mọc mùa đông trên bình nguyên.

—
Viên trung úy đảm nhiệm khu đồn trú nhỏ tên là Gouts. Gã từng tới bờ biển cùng đơn vị của Thiếu tá Graham và quay về đây bốn ngày trước thấy thị trấn bị vây lỏng bởi đám Apache. Chúng say xỉn vì rượu bắp tự ủ và từng có cuộc nổ súng hai đêm liên tiếp và tiếng la không ngớt đòi uýt-ki. Khu đồn trú có một khẩu trung pháo mười hai pao nạp đạn hoả mai đặt trên kè và Couts đoán rằng lũ man rợ sẽ rút lui khi chẳng còn gì uống. Gã rất lịch sự và gã kêu Glanton là Đại uý. Không một người du kích tả tơi xuống ngựa. Họ nhìn thảm cảnh hoang tàn nơi thị trấn. Một con lừa bịt mắt buộc vào cột đang quay máy nhào đất, vòng quanh không ngơi nghỉ, trục máy bằng gỗ kêu cót két trong các khối đỡ. Gà và chim nhỏ đang bớt đất bên gốc máy. Cây cột tầm bốn phít so với mặt đất nhưng lũ chim vẫn cúi xuống hoặc ngồi bệt mỗi khi nó ngang qua đầu. Giữa bụi đất nơi quảng trường là một số kẻ rõ ràng đang nằm ngủ. Da trắng, da đỏ, Mễ. Vài kẻ đắp mền và vài kẻ không. Cuối quảng trường là một giá roi thị chúng sẫm màu xung quanh đế do chó từng đứng đái. Viên trung uý dõi nhìn ánh mắt họ. Glanton ngửa nón ra sau và cúi nhìn trên lưng ngựa.
Trong cái xó này có chỗ nào bán rượu? hắn nói.
Đó là câu đầu tiên bất cứ ai trong số họ thốt lên. Couts nhìn khắp người họ. Tiều tuỵ và cau có và ngả đen dưới ánh nắng. Nếp nhăn và lỗ lông trên da họ lấm lem nhọ súng sau khi họ rửa nòng. Ngay cả bầy ngựa cũng trông xa lạ với những con gã từng thấy, trang trí bộ phận người gồm tóc và răng và da. Ngoại trừ súng ống và khoá thắt lưng và một vài mảnh kim loại trên bộ yên cương của bầy thú thì chẳng có gì ở những người mới tới này gợi rằng họ đã biết về bánh xe.
Có mấy chỗ, là lời viên trung uý. Mà e là chưa có chỗ nào mở.
Mấy chỗ đó sắp mở rồi, là lời Glanton. Hắn thúc ngựa tiến bước. Hắn không nói thêm lời nào và những người khác cũng im tiếng. Khi họ băng qua quảng trường vài kẻ ở lang ngẩng đầu ra khỏi mền và dõi nhìn họ.
Quán rượu họ bước vào là một căn phòng bùn vuông vức và một người chủ trong bộ đồ lót phục vụ họ. Họ ngồi trên một băng ghế bên chiếc bàn gỗ trong góc tối uống rượu uể oải.
Các anh từ đâu tới vậy? là lời người chủ.
Glanton và pháp quan ra ngoài xem là sẽ tuyển mộ được ai trong đám người nằm nghỉ giữa bụi đất quảng trường. Vài kẻ đang ngồi, nheo mắt dưới nắng. Một gã cầm dao bowie thách đấu bất cứ ai để xem dao nào bền hơn. Pháp quan chen vào họ với cái cười mỉm.
Đại uý ông có cái gì trong túi yên vậy?
Glanton xoay thân. Hắn và pháp quan vác những chiếc va-li trên vai. Gã đàn ông vừa lên tiếng đang dựa cột co đầu gối lại để kê khuỷu tay.
Mấy túi này hả? là lời Glanton.
Mấy túi đó đó.
Mấy túi này toàn vàng với bạc thôi, là lời Glanton, toàn mấy cái đó.
Kẻ nhàn rỗi cười nhe răng và nhổ bọt.
Bởi vậy mới muốn tới Californy đó, là lời kẻ khác. Vì giờ có túi đầy vàng rồi.
Pháp quan mỉm cười hiền hậu với những kẻ lưu manh. Các anh nằm ở đây dễ cảm lắm, y nói. Giờ ai muốn vàng nào.
Một người bật dậy và đi vài bước tránh xa và đứng đái giữa đường.
Biết đâu cái tên hoang dã kia chịu đi cùng ông, là lời một người khác. Hắn và Cloyce có ích cho ông đó.
Họ ráng đi từ rất lâu rồi.
Glanton và pháp quan tìm tới họ. Một căn lều đơn sơ dựng nên bằng một tấm bạt cũ. Một tấm bảng ghi: Xem Người Hoang Dã Giá Hai Đồng. Họ đi qua phía sau tấm bạt xe ngựa ở đó trong một cái lồng thô kệch bằng cọc gỗ ngồi co ro là một kẻ khờ loã thể. Sàn lồng ngập rác lẫn đồ ăn thừa và ruồi lượn vo vo. Kẻ khờ nhỏ thó và dị dạng và mặt dính phân và ngồi nhìn họ vẻ thù địch ảo não im lặng nhai một cục phân.
Người chủ từ phía sau đi ra lắc đầu nhìn họ. Có ai cho vào đâu. Chưa mở cửa.
Glanton nhìn quanh căn lều thảm hại. Căn lều xộc mùi dầu và khói và chất thải. Pháp quan ngồi bệt săm soi kẻ khờ.
Nó là của bây hả? Glanton nói.
Đúng. Đúng như vậy.
Glanton nhổ bọt. Có người nói là bây muốn tới Californy.
À thì, là lời người chủ. Đúng. Chính xác rồi.
Thứ kia bây tính sao?
Cho nó đi theo.
Bây tính làm thế nào?
Có con ngựa với xe kéo. Để đưa nó đi.
Bây có tiền không?
Pháp quan đứng dậy. Đây là Đại uý Glanton, y nói. Người này dẫn đoàn thám hiểm tới California. Anh ta sẵn lòng nhận thêm vài lữ khách dưới sự bảo vệ của người mình miễn là họ có đủ tiền.
Ồ vậy thì hay quá. Có tiền đây. Mà đang nói tới bao nhiêu?
Bây có nhiêu? là lời Glanton.
À thì. Vừa đủ, đây nghĩ vậy. Vừa đủ tiền.
Glanton ngắm nghía người đàn ông. Để nói cho bây biết đây sẽ làm gì, hắn nói. Bây muốn tới Californy hay chỉ nói suông?
California, là lời người chủ. Bằng mọi giá.
Vậy thì một trăm đô, trả trước.
Cặp mắt người chủ liếc từ Glanton sang pháp quan rồi ngược về. Cũng chừng đó tiền, gã nói.
Tụi này còn ở thêm một hai bữa, là lời Glanton. Bây kiếm thêm vài người nữa đi rồi tụi này bớt giá cho phù hợp.
Đại uý sẽ đối xử tốt với anh, là lời pháp quan. Anh cứ yên tâm.
Thưa rõ, là lời người chủ.
Họ vừa đi qua cái lồng thì Glanton chợt ngoái lại nhìn kẻ khờ. Bây để đàn bà con gái thấy cái thứ kia à? hắn nói.
Sao biết được, là lời người chủ. Trước giờ có ai hỏi đâu.
Tới trưa nhóm người đã sang một nhà ăn. Có ba bốn người bên trong khi họ bước vào và chúng bật dậy và rời đi. Có một lò bùn ở mảnh đất phía sau nhà và bộ sàn xe ngựa đã hư trên đó có một vài chiếc bình và một két nước. Một mụ già choàng khăn xám đang cầm rìu chặt sườn bò trong lúc hai con chó ngồi xem. Từ phía sau căn phòng một gã cao ốm mang tạp dề dính máu bước vào trong và quan sát họ. Gã nghiêng tới và đặt cả hai tay lên bàn trước mặt họ.
Thưa các anh, gã nói, đây không phiền phục vụ người da màu. Rất vui lòng là đằng khác. Nhưng mà xin mời người đó ngồi sang bàn đằng kia. Ngay đằng kia kìa.
Gã lùi bước và chìa một tay với cử chỉ kỳ lạ của người săn sóc. Khách của gã nhìn nhau.
Gã nói con mẹ gì vậy?
Ở ngay đằng kia, là lời của gã.
Toadvine nhìn xuống bàn về phía Jackson ngồi. Vài kẻ nhìn sang Glanton. Hai tay hắn đặt trên ván gỗ trước mặt và đầu hắn hơi cúi như một người cầu nguyện. Pháp quan ngồi cười mỉm, hai cánh tay bắt tréo. Thảy đều ngà ngà say.
Gã nghĩ chúng ta là mọi đen.
Họ ngồi im lặng. Mụ già trong sân cất tiếng than ảo não và gã đàn ông đứng chìa tay. Chất đống ngay sát cửa là túi vải và dây đeo và súng đạn của nhóm người.
Glanton ngẩng đầu. Hắn nhìn gã đàn ông.
Bây tên gì? hắn hỏi.
Đây tên Owens. Là chủ nơi này.
Owens, không đần thì lại đây dòm cái đám người này và biết ngay chóc là chẳng ai rảnh hơi mà nhấc mông chỉ để ngồi chỗ khác.
Vậy thì đây không hầu được.
Tuỳ bây thôi. Hỏi coi mụ kia có gì, Tommy.
Harlan đang ngồi ở đầu bàn và gã chồm tới và kêu mụ già bên chậu nhổ và dùng tiếng Tây Ban Nha hỏi là mụ có cái gì ăn không.
Mụ nhìn thẳng tới căn nhà. Xương, mụ đáp.
Xương, là lời Harlan.
Kêu mụ mang tới đây, Tommy.
Đây kêu cái gì bả mới được làm cái đó. Đây là chủ.
Harlan kêu vọng ra cánh cửa mở.
Đây biết rõ mồn một cái thằng kia là mọi đen, là lời Owens.
Jackson ngước nhìn gã.
Brown quay sang người chủ.
Bây có súng không? gã hỏi.
Súng?
Súng. Có súng không.
Không có trên người.
Brown rút ra khỏi thắt lưng cây súng Colt nhỏ năm viên đạn và ném nó cho gã. Gã chụp lấy và đứng cầm vẻ bối rối.
Có rồi kìa. Giờ bắn thằng đen đi.
Từ từ đã, là lời Owens.
Bắn đi, là lời Brown.
Jackson bật dậy và rút ra khỏi thắt lưng cây súng ngắn lớn. Owens chĩa súng sang hắn. Bỏ xuống, gã nói.
Ra lệnh gì nữa bắn thằng chó đó đi.
Bỏ xuống. Con mẹ nó. Bảo hắn bỏ xuống.
Bắn nó.
Gã gài búa.
Jackson bóp cò. Hắn đơn thuần lấy bàn tay trái đặt lên cây súng đang cầm bằng cử chỉ loáng như tia lửa và gài búa. Cây súng lớn giật bắn và hai nắm óc của Owens phọt ra khỏi phía sau hộp sọ và rơi bẹp xuống sàn phía sau. Gã sụp người không một tiếng động và nằm co ro với gương mặt trên sàn nhà và một mắt mở và máu túa ra khỏi cái hốc tan nát sau đầu. Jackson ngồi. Brown đứng lên và lấy lại cây súng ngắn và cho búa lửa nhả và nhét vào thắt lưng. Thằng mọi đen ghê nhất tao từng thấy, gã nói. Tìm cái gì bỏ bụng đi, Charlie. Dễ gì mụ kia còn ở đây.
Họ đang uống ở một quán rượu xa cảnh tượng này chưa tới một trăm phít khi viên thiếu uý và sáu bảy tên lính vũ trang tiến vào quán. Quán chỉ có một phòng và có một lỗ trên trần nơi một luồng nắng soi xuống sàn bùn và những dáng thân ngang qua phòng cẩn thận tránh xa luồng sáng này như thể chạm vào sẽ bị phỏng. Họ là đám cư dân cứng rắn và họ lê bước tới quầy và trở lại trong bộ đồ rách nát và da thú như người tiền sử đang làm cuộc trao đổi vô danh. Viên thiếu uý lởn vởn trong căn phòng sưởi nắng nặc mùi hôi và đứng trước Glanton.
Thưa Đại uý, chúng tôi buộc phải bắt người khiến anh Owens mất mạng.
Glanton ngước nhìn. Owens nào? hắn nói.
Anh Owens chủ nhà ăn dưới kia. Anh ta bị bắn chết.
Xin chia buồn, là lời Glanton. Mời ngồi.
Couts bỏ qua lời mời. Chỉ huy, anh tính nói là không phải người của anh bắn chết?
Chính xác, là lời Glanton.
Đại uý, nói như vậy sao được.
Pháp quan bước ra từ trong bóng tối. Chào buổi tối, thiếu uý, y nói. Những người này là nhân chứng?
Couts nhìn tên hạ sĩ. Thưa không, gã nói. Họ không phải nhân chứng. Trời đất, Đại uý. Người ta thấy các anh đã vào trong và ra ngoài sau khi có tiếng súng. Anh tính nói là các anh chưa từng ăn tối ở đó sao?
Chứ còn gì nữa, là lời Glanton.
Thề với Chúa tôi chứng minh được là anh có ăn ở đó.
Xin anh hãy trình bày ý kiến với tôi, thưa Trung uý, là lời pháp quan. Tôi đại diện cho Đại uý về mọi vấn đề pháp lý. Thứ nhất thì anh nên biết rằng đại uý không muốn bị gọi là kẻ dối trá và tôi sẽ phải suy nghĩ cho thấu đáo trước khi can thiệp vào chuyện danh dự của anh ta. Thứ hai thì tôi đã ở bên cạnh anh ta và bất cứ ai dưới quyền đều chưa từng đặt chân tới khu vực mà anh đề cập.
Viên thiếu uý có vẻ bất ngờ trước sự trơ trẽn của những lời phủ nhận này. Gã nhìn từ pháp quan sang Glanton rồi ngược lại. Thằng này chịu thua, gã nói. Đoạn gã xoay thân và xô nhóm người và rời khỏi nơi đó.
Glanton nghiêng ghế và dựa lưng vào tường. Họ đã tuyển được hai người từ đám dân nghèo trong thị trấn, một cặp không khả quan ngồi thẫn thờ ở cuối băng ghế tay cầm nón. Glanton hướng mắt đen nhìn lướt qua chúng và dừng lại ở người chủ kẻ khờ đang ngồi một mình bên kia phòng quan sát hắn.
Bây có hay uống rượu không? là lời Glanton.
Sao vậy?
Glanton thở từ từ qua lỗ mũi.
Ồ có, là lời người chủ. Đây có.
Một cái xô gỗ bình thường ở trên bàn trước mặt Glanton với gáo thiếc bên trong và chứa khoảng một phần ba uýt-ki lấy từ thùng ở quầy. Glanton hất đầu về phía nó.
Đây không mang dùm đâu.
Người chủ đứng dậy và cầm cái ly của mình và đi tới bàn. Gã cầm cái giá múc và rót vào ly và thả cái giá vào lại xô. Gã khẽ ra dấu bằng cái ly và đưa lên và uống cạn.
Xin cảm ơn.
Con vượn của bây đâu?
Gã đàn ông nhìn pháp quan. Gã lại nhìn sang Glanton.
Đây thường không dắt nó ra ngoài.
Bây có cái thứ kia ở đâu vậy?
Nó được giao cho đây. Má chết rồi. Chẳng ai chịu nuôi nó. Người nhà tống nó cho đây. Joplin Missouri. Cho nó vô cái thùng và tống nó đi. Mất năm tuần. Chẳng làm nó thấy phiền. Vừa mở thùng là thấy nó ngồi ở trỏng.
Thêm một ly nữa đi.
Gã cầm giá múc và rót đầy ly mình.
Bằng xương bằng thịt. Chưa từng làm đau nó. Đây may cho nó bộ đồ lông mà nó ăn mất rồi.
Ở thị trấn này không ai coi thằng con hoang đó sao?
Có chứ. Có người coi. Đây cần tới California. Tới đó thì sẽ tính bốn đồng.
Coi chừng bị người ta trây nhựa trùm lông.
Từng bị như vậy rồi. Ở bang Arkansas. Người ta nói đây cho nó ăn gì đó. Đánh thuốc mê nó. Người ta thả nó ra ngoài và chờ nó khá hơn mà dĩ nhiên nó vẫn như vậy. Người ta mời cả mục sư đặc biệt tới cầu nguyện cho nó. Rốt cuộc đây cũng đưa nó về. Không vì nó thì đây đã là người có ích trong thế gian rồi.
Ta hiểu có đúng không, là lời pháp quan, kẻ khờ là em anh.
Thưa đúng, là lời gã đàn ông. Chính xác là vậy.
Pháp quan vươn tay và tóm đầu gã đàn ông và bắt đầu săm soi từng đường nét. Mắt gã đảo quanh và gã bám vào cổ tay pháp quan. Pháp quan tóm trọn đầu gã như một tên to lớn và nguy hiểm trị bệnh bằng đức tin. Gã đứng nhón chân như để tạo điều kiện giúp y dễ nghiên cứu và khi pháp quan thả gã gã lùi bước và nhìn Glanton bằng cặp mắt trắng dã trong góc tối. Những tân binh ở cuối băng ghế ngồi quan sát há hốc miệng và pháp quan nheo mắt nhìn gã đàn ông và săm soi gã rồi vươn tay và lại tóm lấy gã, giữ trán gã đồng thời y lấy đầu ngón tay cái nhấn vào phía sau hộp sọ gã. Khi pháp quan thả gã gã lùi bước và quăng mình xuống băng ghế và những tân binh nhảy nhót và thở hổn hển và kêu òm ọp. Người chủ kẻ khờ nhìn quanh cái quán xập xệ, liếc qua từng gương mặt như thể vẫn chưa đủ. Gã tự mình đứng dậy và đi qua cuối băng ghế. Khi gã qua được nửa phòng pháp quan kêu gã.
Xưa giờ nó là như vậy hay sao? là lời pháp quan.
Đúng rồi. Sinh ra đã như vậy.
Gã quay người đi. Glanton nốc cạn ly của mình và đặt nó trước mặt và ngẩng nhìn. Còn bây? hắn nói. Tuy nhiên người chủ đẩy cánh cửa mở toang và biến mất trong ánh chói loá bên ngoài.
Viên trung uý lại tới buổi chiều muộn. Gã và pháp quan ngồi cùng nhau và pháp quan giải thích cho gã nghe những vấn đề pháp lý. Viên trung uý gật đầu, môi mím chặt. Pháp quan dịch cho gã những thuật ngữ pháp lý tiếng La-tinh. Y trích dẫn các vụ án dân sự lẫn quân sự. Y dẫn lời Coke và Blackstone, Anaximander, Thales.
Sáng hôm sau có thêm rắc rối. Một đứa con gái Mễ đã bị bắt. Quần áo con bé được tìm thấy rách bươm và dính máu dưới bức tường phía bắc, nơi con bé hẳn đã bị ném qua. Trên hoang mạc có những vết kéo lê. Một chiếc giày. Người cha con bé quỳ xuống ôm mảnh áo dính máu vào ngực và không ai thuyết phục được hắn đứng dậy hay rời đi. Đêm đó lửa được nhóm trên đường phố và một con bò bị thịt và Glanton và người của mình tiếp đón một đám hỗn tạp gồm thường dân và binh lính và lũ da đỏ bị khuất phục hay còn gọi là lũ đần theo lời những anh em của chúng ở ngoài cổng. Một thùng uýt-ki được khui mở và chốc lát mọi người lảo đảo trong vô định qua màn khói. Một thương gia ở thị trấn đó mang tới một đàn chó có con sáu chân có con hai chân và có con bốn mắt trên đầu. Gã rao bán chúng cho Glanton và Glanton bảo gã đi ra chỗ khác và doạ bắn chết chúng.
Thịt bò bị ăn tới tận xương và xương cũng được mang đi và những thanh xà gỗ được kéo ra từ các toà nhà đổ nát rồi chất lên đám lửa. Lúc này nhiều người của Glanton đã loã thân và lảo đảo và pháp quan lập tức làm họ nhảy múa còn y thì gảy một nhạc cụ thô sơ đã chiếm được. Những tấm da dơ bẩn họ từng cởi bỏ toả khói và nặc mùi và ngả đen trong ánh lửa và những tia đỏ bốc lên như linh hồn những sinh mạng nhỏ bé họ từng chở che.
Tới nửa đêm dân chúng đã tản đi và có những người đàn ông loã thể cầm vũ khí đập cửa đòi rượu và gái. Khoảng đầu buổi sáng khi lửa đã cháy thành than và một vài tia loé vút bay trong gió trên đường đất lạnh thì lũ chó hoang chạy quanh lửa bếp giành lấy những mẩu thịt ngả đen và người nằm co ro loã thể trước cửa ôm khuỷu tay và ngáy trong cái lạnh.
Tới trưa họ lại ra ngoài, lang thang mắt đỏ hoe trên đường phố, hầu hết đều vận quần áo mới tinh. Họ lấy những con ngựa còn lại từ gã thợ rèn và gã mời họ uống. Gã là một người nhỏ bé chắc nịch tên Pacheco và gã có một chiếc đe bằng thiên thạch sắt khổng lồ hình dạng như chiếc răng hàm lớn và pháp quan trong một vụ cược đã nhấc nó và trong một vụ cược khác đã nhấc nó qua đầu mình. Vài người chen lấn đưa tay sờ lớp sắt và lay lay nó tại chỗ, và pháp quan nhân cơ hội này công bố bản chất sắt của thiên thể và sức mạnh và quyền năng của chúng. Hai đường thẳng được vạch trên nền đất cách nhau mười phít và vụ cược thứ ba được lập nên, tiền xu từ năm sáu quốc gia vàng và bạc và cả một vài tờ biên lai hay giấy chiết khấu từ các mỏ gần Tubac. Pháp quan tóm lấy khối sắt khổng lồ đã phiêu bạc hàng thiên niên kỷ từ một góc nào đó khôn tả của vũ trụ và y nhấc nó qua đầu và đứng loạng choạng rồi lao tới trước. Nó vượt qua vạch đích một phuốc và y chẳng chia ai số tiền chất trên tấm lót yên ngựa dưới chân gã thợ rèn vì ngay cả Glanton cũng không sẵn lòng tài trợ cho lần thứ ba.
(hết chương 16)

Sáng tác
/sang-tac
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

