[Dịch] Thiên Đỉnh Máu - Cormac McCarthy (Chương 15)
Giao kèo mới - Sloat - Tàn sát ở sông Nacozari - Chạm trán Elias - Bị đuổi về phía bắc - Cuộc rút thăm - Shelby và đứa trẻ - Con ngựa...

XV
Giao kèo mới - Sloat - Tàn sát ở sông Nacozari - Chạm trán Elias - Bị đuổi về phía bắc - Cuộc rút thăm - Shelby và đứa trẻ - Con ngựa què - Cơn gió bắc - Phục kích - Tẩu thoát - Cuộc chiến trên bình nguyên - Xuôi dốc - Một cây rực cháy - Theo dấu vết - Chiến lợi phẩm - Đứa trẻ quay lại đơn vị - Pháp quan - Hi sinh giữa hoang mạc - Toán trinh sát không trở về - Bộ tám - Santa Cruz - Dân quân - Tuyết trắng - Nơi an nghỉ - Chuồng ngựa.
Ngày năm tháng mười hai họ lên đường bắc tiến trong bóng tối se lạnh trước lúc hừng đông mang theo bản giao kèo ký tên thống đốc bang Sonora về việc cấp da đầu Apache. Phố xá lặng im và hiu quạnh. Carroll và Sandford đã đào ngũ và nay đi cùng nhóm là thằng nhỏ tên Sloat người lâm bệnh bị bỏ mặc tới chết bởi toán tìm vàng tới bờ biển vài tuần trước. Khi Glanton hỏi nó có bà con gì không với gã đô đốc trùng tên thì nó khẽ nhổ bọt và nói Không, và gã kia cũng vậy. Nó đi ngựa gần đầu đội hình và ắt hẳn nó nghĩ mình đã thoát khỏi nơi đó nhưng nếu nó biết ơn Chúa Trời thì vẫn chưa đúng lúc do vùng đất vẫn chưa tha.
Họ bắc tiến trên vùng hoang mạc Sonora rộng lớn và giữa nơi khô cằn đó họ phiêu bạc vô định suốt nhiều tuần đuổi theo tiếng đồn và cái bóng. Đây đó một vài băng cướp Chiricahua cơ chừng bị toán chăn thú phát hiện ở một bãi quây hoang phế. Một vài nông dân bị mai phục và giết chết. Hai tuần sau họ thảm sát một bản làng bên sông Nacozari và hai ngày kế khi họ mang da đầu tới Ures họ chạm trán một bọn kỵ binh vũ trang Sonora trên bình nguyên phía tây Baviacora dưới quyền Tướng Elias. Trận đánh ác liệt nổ ra và nhóm của Glanton có ba người thiệt mạng và thêm bảy người bị thương, trong đó bốn người không còn sức đi ngựa.
Đêm đó họ nhìn thấy được những đám lửa của quân thù dưới mười dặm phía nam. Họ ngồi nghỉ thâu đêm trong bóng tối và người bị thương xin nước và trong cái lạnh im ả trước lúc rạng đông các đám lửa kia vẫn còn cháy. Khi mặt trời dâng lũ Delaware đi ngựa vào khu trại và ngồi xuống đất với Glanton và Brown và pháp quan. Dưới nắng đông các đám lửa trên bình nguyên lịm tàn như cơn ác mộng và cả vùng đất hiện ra trần trụi và lấp lánh quyện bầu không trong vắt. Elias đang truy đuổi họ đằng xa với hơn năm trăm tên lính.
Họ đứng dậy và bắt đầu thắng yên. Glanton lấy xuống một ống tên da mèo gấm và đếm số mũi tên để mỗi người có một cái và hắn xé một mảnh vải dạ thành nhiều dải và buộc chúng vào bốn đuôi tên rồi đưa số mũi tên đã đếm lại vào ống.
Hắn ngồi xuống đất dựng thẳng ống tên giữa hai đầu gối trong lúc nhóm người ngang qua. Khi đứa trẻ lần rút một thân tên cậu nhìn thấy pháp quan dòm ngó mình và cậu dừng tay. Cậu nhìn sang Glanton. Cậu nhả mũi tên đã chọn và lựa cái khác và rút cái đó lên. Nó mang sợi tua đỏ. Cậu lại nhìn pháp quan và pháp quan thôi dòm ngó và cậu đi tiếp và ngồi cạnh Tate và Webster. Họ sau rốt có thêm một người nữa tên Harlan dân Texas đã rút mũi tên cuối cùng và cả bốn người họ đứng bên nhau trong lúc số còn lại thắng yên và dắt ngựa đi.
Trong số những người bị thương có hai kẻ Delaware và một tên Mễ. Người thứ tư là Dick Shelby và một mình gã ngồi quan sát cảnh chuẩn bị lên đường. Lũ Delaware còn lại thì bàn luận với nhau và một kẻ tới gần bốn người Mỹ và ngắm nghía từng người họ. Hắn ngang qua họ và quay lại và lấy mũi tên từ Webster. Webster nhìn Glanton nơi hắn đứng bên ngựa mình. Đoạn kẻ Delaware lấy mũi tên của Harlan. Glanton xoay thân và áp trán vào sườn con ngựa mình hắn siết dây cương rồi lên ngựa. Hắn chỉnh nón. Không ai mở lời. Harlan và Webster đi lấy con thú của mình. Glanton ngồi cưỡi ngựa còn nhóm người thì hàng một đi qua rồi hắn quành lại và theo họ ra bình nguyên.
Kẻ Delaware đã đi tìm ngựa của mình và hắn mang nó tới vẫn bị ràng qua những lõm cát nơi nhóm người từng ngủ. Trong hai kẻ da đỏ bị thương một kẻ im lìm, thở mạnh với hai mắt nhắm. Kẻ kia tụng ca nhịp nhàng. Kẻ Delaware thả cương và lấy cây chuỳ chiến ra khỏi túi và đứng xoạc chân trước một kẻ và vung chuỳ và đánh nát sọ bằng một phát. Kẻ đó gù lưng co giật nhẹ rồi nằm im. Kẻ sau cũng bị đoạt mạng như vậy rồi kẻ Delaware nhấc chân ngựa và tháo ràng và rút nó và đứng dậy và bỏ sợi ràng và cây chuỳ vào túi và lên yên và quành ngựa. Hắn nhìn hai người đứng đó. Hắn thì mặt và ngực lấm máu. Hắn lấy gót chân hích con ngựa và bỏ đi.
Tate ngồi bệt trên cát, hai tay buông thõng trước mặt. Gã quay sang nhìn đứa trẻ.
Ai lo thằng Mễ? hắn nói.
Đứa trẻ không đáp lời. Họ nhìn Shelby. Hắn đang quan sát họ.
Tate lấy tay vốc một nắm sỏi và gã thả từng viên một rơi xuống cát. Gã nhìn đứa trẻ.
Muốn thì cứ đi đi, đứa trẻ nói.
Gã nhìn lũ Delaware chết trùm mền. Có khi mày không dám, gã nói.
Không cần mày lo.
Biết đâu Glanton quay lại.
Dám lắm.
Tate nhìn sang nơi tên Mễ đang nằm thượt và hắn lại nhìn đứa trẻ. Tao vẫn dính dáng nhé, gã nói.
Đứa trẻ không đáp lời.
Mày có biết họ làm gì với chúng không?
Đứa trẻ nhổ bọt. Dễ đoán mà, cậu nói.
Làm gì mà biết.
Mày cứ đi đi. Muốn làm gì thì làm.
Tate bật dậy và nhìn phía nam còn miền hoang mạc thì trải rộng bao la không bị chiếm bởi đội quân nào đang tới. Gã rùn vai trong cái lạnh. Bọn thổ dân, gã nói. Chúng chẳng bận tâm gì. Gã băng qua khu trại và quành ngựa và dắt nó và trèo lên. Gã nhìn tên Mễ, khò khè uể oải, bọt hồng sủi trên môi. Gã nhìn sang đứa trẻ rồi thúc ngựa vượt qua cây keo khẳng khiu và biến mất.
Đứa trẻ ngồi trên cát và đưa mắt nhìn phía nam. Tên Mễ bị bắn xuyên phổi và trước sau cũng chết còn Shelby bị gãy xương hông do trúng đạn và hắn vẫn còn tỉnh. Hắn nằm nhìn đứa trẻ. Hắn xuất thân từ một gia đình danh giá ở Kentucky và đã vào trường đại học Transylvania và như bao chàng cùng tầng lớp hắn đã tây tiến vì một người phụ nữ. Hắn nhìn đứa trẻ và hắn nhìn mặt trời to lớn nóng đổ lửa trên rìa hoang mạc. Kẻ nào làm thảo khấu hay con bạc đều biết rõ là kẻ đầu tiên lên tiếng sẽ thua còn Shelby thì đã mất tất cả.
Sao mày không xử đi? hắn nói.
Đứa trẻ nhìn hắn.
Có súng là tao bắn mày nát óc, Shelby lên tiếng.
Đứa trẻ không đáp lời.
Mày biết quá mà, đúng không?
Mày có súng đâu, đứa trẻ nói.
Cậu lại nhìn sang phía nam. Có gì đó chuyển động, hình như là dòng nhiệt đầu tiên. Bụi không nổi lên sớm như vậy. Khi cậu lại nhìn sang Shelby thì Shelby đang khóc.
Tao mà xử thì sao mày cảm ơn được, cậu nói.
Giỏi thì làm đi thằng chó.
Đứa trẻ ngồi. Một cơn gió thoảng thổi từ phía nam và lũ bồ câu cất tiếng trong bụi thường xanh phía sau họ.
Muốn tao bỏ mày cứ nói đi tao làm liền.
Shelby không đáp lời.
Cậu lấy gót giày xẻ một rãnh trên cát. Mày phải nói thôi.
Cho tao cây súng nhé?
Mày biết tỏng là tao đâu có cho được.
Mày cũng chẳng hơn gì hắn. Đúng không?
Đứa trẻ không đáp lời.
Hắn quay lại thì sao.
Glanton hả.
Ừ.
Nếu hắn quay lại thì sao.
Hắn giết tao chứ gì nữa.
Mày có mất gì đâu mà lo.
Cái thằng chó này.
Đứa trẻ bật dậy.
Mày giúp tao trốn nhé?
Giúp mày?
Ừ.
Đứa trẻ nhổ bọt. Sao mày trốn được. Mày tính trốn ở đâu?
Hắn có quay lại không?
Tao không biết.
Chết ở đây khổ lắm.
Vậy chết ở đâu mới sướng?
Shelby lấy mu bàn tay lau nước mắt. Mày thấy tụi kia không? hắn nói.
Chưa thấy.
Kéo tao tới lùm cây kia nhé?
Đứa trẻ quay sang nhìn hắn. Cậu lại nhìn sang miền xuôi rồi cậu băng qua trũng và ngồi xổm sau lưng Shelby và đỡ hắn dưới cánh tay và xốc lên. Shelby ngửa đầu ra sau và hắn ngước nhìn rồi giật lấy báng cây súng ngắn ở thắt lưng đứa trẻ. Đứa trẻ tóm cánh tay hắn. Cậu thả hắn xuống và tránh xa và để hắn yên. Khi cậu quay về trũng dắt con ngựa thì hắn đang khóc. Cậu rút súng ngắn ra khỏi thắt lưng và nhét nó vào đồ đạc buộc trên yên và lấy bình nước xuống và tới chỗ hắn.
Hắn quay mặt hướng khác. Đứa trẻ rót nước vào bình của hắn và đặt lại cái nút treo lủng lẳng và lấy bàn tay nhấn chặt. Rồi cậu đứng lên và nhìn sang phía nam.
Đằng kia tụi nó đang tới, cậu nói.
Shelby chống dậy một khuỷu tay.
Đứa trẻ nhìn hắn và cậu nhìn vào mờ nhạt vô dạng cái đường nét dọc theo chân trời phía nam. Shelby nằm ngả lưng. Hắn đăm đắm nhìn trời. Một đám mây đen di chuyển xuống từ phía bắc và gió nổi lên. Một nắm lá bay vụt từ đám liễu rìa bãi cát rồi vụt trở lại. Đứa trẻ đi sang chỗ con ngựa đứng chờ và rút cây súng ngắn và nhét vào thắt lưng và mắc bình nước vào yên và lên ngựa và ngoái nhìn người bị thương. Đoạn cậu lên đường.
—
Cậu đang phi nước kiệu tới phía bắc bình nguyên khi cậu nhìn thấy một người đi ngựa khác phía trước tầm một dặm. Cậu nhìn không ra người đó và cậu đi chậm hơn nữa. Mội hồi sau cậu nhìn thấy người đó dắt ngựa và một hồi sau cậu nhận ra là con ngựa đi khập khễnh.
Đó là Tate. Gã ngồi bên vệ đường quan sát đứa trẻ lại gần. Con ngựa đứng ba chân. Tate không mở lời. Gã cởi nón và nhìn vào trong và đội lại. Đứa trẻ xoay người trên yên. Đoạn cậu nhìn Tate.
Nó đi được không?
Không được lâu.
Cậu xuống yên và nhấc chân ngựa. Móng guốc bị nứt và chảy máu và bờ vai run bần bật. Cậu hạ móng guốc. Mặt trời lên cao được hai tiếng và nay bụi đã che phủ chân trời. Cậu nhìn Tate.
Mày muốn tao làm gì?
Không biết nữa. Dắt nó đi một chút. Để coi ra sao.
Nó mà ra sao gì nữa.
Tao biết chứ.
Hay là cưỡi thay phiên.
Mày cứ ngồi trên đó đi.
Kiểu gì chẳng vậy.
Tate nhìn cậu. Muốn thì mày cứ đi trước, gã nói.
Đứa trẻ nhổ bọt. Đi thôi, cậu nói.
Tao ghét phải rời cái yên. Đúng hơn là ghét phải rời con ngựa.
Đứa trẻ nhặt lấy dây cương lượt thượt của con thú mình cưỡi. Biết đâu mày đổi ý về cái mày ghét phải rời, cậu nói.
Họ lên đường dắt cả hai con ngựa. Những con thú chịu đau cứ muốn dừng bước. Tate dỗ nó đi tiếp. Đi coi con đần, gã nói. Mày chẳng ưa mọi đen hơn tao đâu.
Tới trưa mặt trời là một vệt mờ trên cao và một cơn gió lạnh thổi từ phía bắc. Họ đón nhận nó người lẫn thú. Gió cuốn những hạt sạn cay mắt và họ kéo nón che mặt và dấn tới. Rơm rác khô miền hoang mạc bay theo luồng cát dữ. Một tiếng trôi qua và phía trước không còn dấu vết nào của nhóm chính. Bầu trời xám giăng xa ngút ngàn và gió vẫn không ngớt. Một hồi sau tuyết bắt đầu rơi.
Đứa trẻ đã lấy sẵn tấm mền và quấn quanh người. Cậu trở người và xây lưng về phía gió và con ngựa áp má vào mặt cậu. Lông mi nó bám tuyết. Khi Tate tới gần gã dừng lại và họ đứng nhìn xuôi gió nơi tuyết đang thổi. Họ nhìn thấy được chưa tới vài dặm.
Này khác gì địa ngục.
Ngựa mày chịu dẫn đường không?
Còn lâu. Khó ép nó đi theo lắm.
Lạc đường gặp phải bọn Tây Ban Nha cũng nên.
Tao đó giờ chưa thấy trời lạnh nhanh tới mức này.
Giờ mày muốn sao.
Cứ đi tiếp thôi.
Hay là lên vùng núi cao. Cứ leo dốc là không thể nào đi lòng vòng được.
Bị bỏ xa đó. Làm sao tìm thấy Glanton được.
Giờ bị bỏ xa rồi còn gì.
Tate ngoái lại ủ rũ dán mắt vào nơi những xoáy tuyết bay xuống từ phía bắc. Đi thôi, gã nói. Ở đây không được.
Họ dắt ngựa đi tiếp. Từ lâu mặt đất trở nên trắng xoá. Họ thay phiên cưỡi con ngựa khoẻ và dắt con ngựa què. Họ leo cả tiếng lên một con rạch khô dài rải đá và tuyết vẫn không vơi. Họ bắt gặp cây thông hạt lẫn sồi lùn và thảo nguyên bát ngát và tuyết trên những đồng cao đó chốc lát đã dày tới một phuốc và lũ ngựa thở phì và nhả khói như máy hơi nước và trời thêm lạnh và u tối.
Họ quấn mền nằm ngủ trong tuyết khi đám trinh sát thuộc đại đội tiên phong của Elias tới chỗ họ. Chúng đã đi cả đêm trên con đường duy nhất, dấn tới để không bỏ sót những lõm nông dần dần bị phủ tuyết. Có năm tên lính và chúng xuyên qua rừng thông trong bóng tối và xuýt vấp phải người đang ngủ, hai ụ tuyết mà một ụ bể ra và từ đó một thân hình chợt ngồi dậy như một thứ ghê rợn vừa nở.
Tuyết ngừng rơi. Đứa trẻ nhìn thấy được chúng và thú cưỡi rõ ràng trên nền đất lợt, người nửa đường và ngựa thở hơi lạnh. Cậu lấy một tay cầm ủng và một tay cầm súng ngắn và cậu chui ra khỏi mền và chĩa súng và bắn vào ngực kẻ gần nhất và xoay thân bỏ chạy. Chân cậu trượt và cậu khuỵu một gối. Vang một tiếng súng hoả mai phía sau lưng. Cậu lại đứng lên, chạy vào cánh rừng thông tối và quẹo sang sườn dốc. Vang thêm những phát súng phía sau lưng và khi cậu ngoảnh đầu cậu nhìn thấy được một kẻ đi qua những tán cây. Kẻ đó dừng bước và nâng khuỷu tay và đứa trẻ cúi người. Viên đạn hoả mai bay vụt qua những cành cây. Cậu trở mình và lên đạn cây súng ngắn. Nòng súng hẳn đã nghẹt tuyết vì khi cậu bắn một vòng sáng cam bùng toả xung quanh nó và phát bắn vang một tiếng kỳ lạ. Cậu sờ xem cây súng nổ chưa nhưng nó vẫn nguyên vẹn. Cậu không thấy kẻ đó nữa và cậu bật dậy và chạy tiếp. Dưới chân dốc cậu ngồi thở hồng hộc giữa bầu không lạnh giá và xỏ ủng và ngoảnh đầu quan sát giữa những tán cây. Không một động tĩnh. Cậu đứng lên và nhét súng vào thắt lưng và đi tiếp.

—
Mặt trời dâng tìm thấy cậu đang núp dưới một doi đất quan sát vùng phía nam. Cậu ngồi như vậy hơn một tiếng. Một đàn hươu lên phía xa của khe suối vừa ăn vừa di chuyển. Một hồi sau cậu đứng dậy và đi tiếp dọc theo sườn núi.
Cậu bước đi cả ngày qua những vùng cao hoang dã, ăn từng nắm tuyết đọng lại trên cành thường xanh dọc ven đường. Cậu theo dấu thú săn xuyên rừng thông và chiều tối cậu men theo vách đá nơi cậu nhìn thấy được hoang mạc nghiêng phía tây nam lổ đổ tuyết như phác lại những áng mây trôi về phía nam. Băng đóng trên đá tảng và vô số cột băng giữa đám lá kim long lanh máu đỏ trong ánh phản chiếu buổi hoàng hôn lan toả khắp thảo nguyên phía tây. Cậu ngồi dựa lưng vào một tảng đá và cảm nhận nắng ấm trên gương mặt và nhìn nó tụ lại và bừng lên và tan biến kéo theo sắc phấn lẫn hồng lẫn đỏ thắm nơi bầu trời. Một cơn gió buốt ào tới và đám cây bách xù bỗng tối sầm trên nền tuyết rồi chỉ còn lại tịch mịch và lạnh lẽo.
Cậu đứng dậy và đi tiếp, hối hả băng qua bãi đá phiến. Cậu sải bước thâu đêm. Các vì sao bay ngược chiều kim đồng hồ và chòm Gấu Lớn xoay chuyển và chòm Thất Nữ nhay nháy trên vòm trời. Cậu sải bước đến khi các ngón chân tê cứng và loạt xoạt trong ủng. Con đường trên rìa đá dẫn cậu vào sâu trong núi dọc theo bờ vách một hẻm lớn và cậu nhìn không thấy lối nào ra khỏi vùng đó. Cậu ngồi xuống và cố sức cởi ủng và ôm lần lượt từng bàn chân buốt cóng. Chúng không ấm lên và hàm cậu run vì lạnh và khi cậu mang ủng hai chân như cây gậy thọc vào bên trong. Khi cậu mang xong và đứng dậy và dậm chân tê cứng cậu biết mình không thể dừng nữa đến khi mặt trời mọc.
Trời thêm giá lạnh và đêm dài ở phía trước. Cậu vẫn di chuyển, lần theo trong bóng tối những khe đá trơ trọi không phủ tuyết. Những vì sao toả sáng không tì vết và chúng dần dần tiến sát trong đêm cho đến khi gần rạng cậu vấp phải đá hoả sinh của dãy núi cao vút thẳng lên trời, một dãy đá khô cằn bọc trong ngôi nhà lộng lẫy đó nên ánh sao ngập tràn dưới chân cậu và các mảnh vụn chất cháy di chuyển mãi xung quanh theo quỹ đạo khôn lường. Dưới ánh tờ mờ cậu bước ra một doi đất và nhận lấy trước mọi sinh vật hơi ấm mặt trời dâng.
Cậu ngủ cuộn người giữa sỏi đá, súng ngắn áp vào ngực. Chân cậu tan băng và phỏng rát và cậu tỉnh giấc và nằm ngắm một bầu trời xanh sứ nơi một cặp diều hâu đen đang bay chậm rãi và đối xứng quanh mặt trời như chim giấy treo trên cột.
Cậu bắc tiến cả ngày và dưới ánh tà dương cậu nhìn thấy từ vùng cao đó cuộc xung đột giữa những đạo quân xa xôi và lặng lẽ ở bình nguyên phía dưới. Lũ ngựa đen nhỏ vòng quanh và khung cảnh đổi thay trong ánh mờ và núi non muôn dặm càng lúc càng u tối. Những kỵ binh đằng xa phóng ngựa và đỡ đòn và một làn khói thoảng trôi qua chúng và chúng tiến vào bóng râm đậm dần nơi đáy thung lũng bỏ lại sau lưng dáng người trần tục đã tử trận. Cậu quan sát mọi sự diễn ra âm thầm và trật tự và vô nghĩa đến khi những kỵ binh gây chiến biến mất trong màn đêm chợt bao phủ hoang mạc. Cả vùng đó lạnh lẽo và màu lam và không rõ đường nét và mặt trời chỉ soi xuống những vách đá cao nơi cậu đứng. Cậu đi tiếp và chốc lát cậu hoà vào bóng tối và gió nổi lên từ hoang mạc và những tia sét hồi hiện hồi ẩn dọc theo cực tây của thế gian. Cậu men theo vách đá đến khi cậu dừng lại trước một hẻm cắt ngang dẫn về vùng núi. Cậu đứng cúi nhìn vực thẳm nơi những ngọn thường xanh xoắn vặn lào xào trong gió rồi cậu cất bước đi xuống.
Tuyết đọng thành những hõm trên sườn dốc và cậu hụt chân khi trượt xuống, bấu víu vào những tảng đá trơ trọi đến khi hai bàn tay tê buốt. Cậu cẩn thận băng qua một dốc sỏi và đi xuống phía bên kia giữa những hòn đá vụn và những cây nhỏ xù xì. Cậu té rồi ngã, lần mò chỗ bám trong bóng tối, đứng lên và sờ thắt lưng tìm cây súng ngắn. Cậu làm vậy cả đêm. Tới được dải đất bằng phía trên đáy hẻm cậu nghe thấy tiếng suối chảy bên dưới và cậu đi loạng choạng tay kẹp nách như trốn chạy trong chiếc áo kẻ tâm thần. Cậu tới một con rạch khô cát và xuôi dòng và cuối cùng nó dẫn cậu trở về hoang mạc nơi cậu đứng ngả nghiêng trong cái lạnh và ngơ ngác nhìn quanh tìm một vì sao trên bầu trời u ám.
Hầu hết tuyết trên bình nguyên cậu đang đứng đã bay đi hoặc tan chảy. Từng cơn bão dồn dập xuống từ phía bắc và tiếng sấm vang xa dần và bầu không giá lạnh và thoảng mùi đá ướt. Cậu băng qua lòng chảo khô cằn, không gì ngoài những đám cỏ thưa và lác đác cọ lùn đứng cô độc và im lặng dưới bầu trời u ám như những gì khác đành phải ở đó. Phía đông những ngọn núi sừng sững tối đen giữa hoang mạc và trước mặt cậu là vách đứng hay doi đất nhô ra như mũi biển hùng vĩ và âm u trên nền hoang mạc. Cậu bước đi nặng nề, nửa đóng băng, hai chân mất cảm giác. Cậu đã nhịn đói gần hai ngày và cậu nghỉ rất ít. Cậu ghi nhớ địa hình trước mặt mỗi lần loé tia sét và lê bước tiếp và cứ như vậy cậu vòng qua một mỏm đá u tối bên phải và dừng bước, run bần bật và thổi vào hai bàn tay co quắp tê liệt. Phía xa trước mắt cậu một ngọn lửa rực cháy trên thảo nguyên, một ánh lửa cô độc bập bùng theo gió hồi mạnh hồi yếu và phóng tia sáng vào cơn bão như bụi nóng thổi ra từ một lò rèn khôn tả đang gầm rú giữa vùng hoang. Cậu ngồi quan sát. Cậu không ước tính được là nó bao xa. Cậu nằm sấp toan nhờ ánh nắng soi địa hình để xem ai ở đó nhưng trời và nắng không còn nữa. Cậu nằm đó rất lâu quan sát nhưng không có gì cử động.
Khi cậu lại đi tiếp ngọn lửa dường như lùi xa dần. Một nhóm những bóng hình lướt qua giữa cậu và ánh sáng. Rồi lần nữa. Có lẽ là sói. Cậu đi tiếp.
Đó là một cây lẻ loi cháy giữa hoang mạc. Một cây điềm hiệu do cơn bão đã qua làm phát hoả. Người hành hương cô độc đứng trước nó đã đi một chặng đường dài tới đây và cậu quỳ gối trên cát nóng và chìa hai bàn tay tê lạnh còn bên trong vòng tròn đó là những đoàn phò tá hèn mọn bị hút vào ánh mai khác thường, cú nhỏ nép mình trong im lặng và đứng chân kề chân và nhện lông và nhện mặt trời và bọ cạp roi và nhện huyền hung ác và thằn lằn da cườm mõm đen như sư khuyển, nguy hiểm với người, và thằn lằn nhỏ miền hoang mạc phun máu từ mắt và rắn cát nhỏ như những vị thần tề chỉnh, im tiếng và tựa y, ở Jedda, ở Babylon. Một chòm rực những con ngươi viền quanh vầng sáng thảy duy trì sự thuận hoà mỏng manh trước đuốc lửa tỏ ngời che đi những vì sao trong hốc mắt.

Khi mặt trời dâng cậu vẫn ngủ say dưới cái cốt âm ỉ của một cành ngả đen. Cơn bão từ lâu đã trôi về phía nam và bầu trời mới thì trong xanh và khói toả từ thân cây rụi đứng thẳng trong buổi rạng đông êm ả như cây viết mảnh ghi dấu thời gian bằng cái bóng đặc thù và khẽ thở trên bề mặt một vùng không có gì chỉ dẫn. Thảy sinh vật từng canh thức cùng cậu đều mất tăm và gần quanh chỉ còn những dạng san hô kỳ lạ của sét đá trong những rãnh cháy xém tạo nên từ cát nơi điện cầu lăn trượt trong đêm lẹt xẹt và nồng nặc mùi lưu huỳnh.
Ngồi khoanh chân giữa lòng chảo cằn cỗi cậu xem thế gian phai mờ ở rìa làm nên một ảo cảnh lung linh bao viền quanh hoang mạc. Một hồi sau cậu đứng lên và lại gần mép lòng chảo và men theo một con rạch khô cạn, lần theo dấu chân nhỏ ma quái của heo lòi đến khi cậu gặp chúng đang uống nước bên một vũng tù. Chúng khịt mũi lao vào bụi rậm và cậu nằm xuống bãi cát ướt và uống và nghỉ và lại uống.
Buổi chiều cậu nhấc bước băng qua đáy thung lũng với cái bụng đầy óc ách. Ba tiếng sau cậu đứng giữa đường cung dài những vết vó ngựa chạy từ phía nam nơi nhóm người từng đi qua. Cậu bám theo mép vết và phân biệt từng người và cậu đếm số lượng và cậu cho rằng họ đang phi nước kiệu. Cậu bám theo vệt mờ thêm vài dặm và cậu thấy qua những dấu vết xen kẽ rằng những người này đã đi cùng nhau và cậu thấy qua những viên đá lật úp và những hố bị đạp rằng họ đã đi vào ban đêm. Cậu đứng lấy tay chắn mắt nhìn xuống miền xuôi để tìm dấu vết của Elias. Không có gì cả. Cậu đi tiếp. Một dặm nữa và cậu gặp phải một khối đen kỳ lạ trên đường mòn như thân xác bị thiêu của một con ác thú. Cậu vòng qua nó. Vết chân sói và chó rừng bước qua vết vó ngựa và ủng, những cuộc giải vây và công kích tới rìa cái khối cháy khô đó và lại biến mất.
Đó là những mảnh da đầu sót lại sau cuộc săn người Nacozari và chúng đã cháy thành tro trong ngọn lửa lục nặc mùi hôi nên chẳng còn gì của lũ Puebla trừ khối than kết lại từ sự sống đã tàn của chúng. Nơi hoả táng nằm trên một gò đất và cậu ngắm nhìn từng góc xung quanh nhưng không thấy gì. Cậu đi tiếp, bám theo những dấu vết gợi lên sự truy đuổi và bóng tối, dõi nhìn chúng qua ánh nhá nhem tối. Khi mặt trời lặn bầu không lạnh lẽo, nhưng không lạnh như trên núi. Nhịn ăn đã làm cậu kiệt sức và cậu ngồi xuống cát để nghỉ chân và tỉnh giấc thườn thượt và vặn vẹo trên nền đất. Trăng lên, một vầng trăng khuyết như chiếc thuyền trẻ con giữa khe núi đen mỏng giấy phía đông. Cậu đứng lên và đi tiếp. Chó rừng sủa vang và chân cậu đi chệch choạc. Một tiếng nữa như vậy và cậu gặp một con ngựa.
Nó vẫn đứng trên vệt mờ và nó di chuyển trong bóng tối và lại đứng im. Cậu dừng bước với cây súng trong tay. Con ngựa đi qua, một bóng đen, có người cưỡi chăng cậu không biết. Nó vòng quanh và quay lại.
Cậu nói với nó. Cậu nghe thấy được tiếng phổi nó thở sâu và cậu nghe thấy được tiếng nó di chuyển và khi nó quay lại cậu ngửi được mùi nó. Cậu theo nó gần một tiếng, mở lời với nó, huýt gió, chìa bàn tay. Khi cậu sau rốt tới đủ gần để chạm nó cậu túm bờm nó và nó lại chạy như trước và cậu chạy theo và bám lấy nó và cuối cùng quặp chân quanh một chân trước của nó và quật xuống đất thành một đống.
Cậu đứng dậy đầu tiên. Con thú đang cố rướn mình và cậu tưởng nó bị thương sau cú ngã nhưng không phải vậy. Cậu siết dây lưng quanh mõm nó và trèo lên và nó đứng dậy và run run dưới người cậu với bốn chân dang rộng. Cậu vỗ dọc vai nó và rỉ tai nó và nó tiến lên vẻ do dự.
Cậu đoán nó là con ngựa thồ mua ở Ures. Nó dừng bước và cậu thúc nó đi nhưng nó không đi. Cậu lấy gót ủng đá vào sườn nó và nó khuỵu xuống và đi lệch sang ngang. Cậu với tay tháo dây lưng khỏi mõm nó và đá nó và cầm dây lưng quất nó và nó bước đi ngay lập tức. Cậu xoắn trong tay một nắm bờm và nhét cây súng ngắn vào thắt lưng và đi tiếp, ngồi trên sống lưng con thú với đốt sống gồ dễ cảm nhận dưới lớp da.
Trên đường họ gặp một con ngựa khác tới từ hoang mạc và đi bên cạnh họ và nó vẫn ở đó lúc rạng đông. Cũng trong đêm dấu vết những kỵ binh đã nhập vào một nhóm lớn hơn và bị dẫm thành một con đường bồi rộng rãi dẫn lên đáy thung lũng phía bắc. Khi trời sáng cậu cúi mình áp mặt vào vai ngựa và xem dấu chân. Đó là ngựa tơ không móng của đám da đỏ và có khoảng một trăm con. Không phải chúng nhập vào đoàn kỵ binh mà là đoàn kỵ binh nhập vào chúng. Cậu đi tiếp. Con ngựa nhỏ tới bên họ đêm trước đã đi được một quãng và nay bám theo họ với ánh mắt dè chừng và con ngựa cậu cưỡi thì bồn chồn và yếu ớt do khát nước.
Tới trưa con thú dần rệu rã. Cậu cố dỗ dành nó rời khỏi dấu chân nhằm đuổi kịp con ngựa kia nhưng nó không chịu bỏ cái lối đi đã chọn. Cậu ngậm viên sỏi và quan sát vùng nông thôn. Đoạn cậu nhìn thấy những người đi ngựa phía trước. Họ không ở đó, rồi chợt ở đó. Cậu nhận ra sự có mặt của họ là nguồn cơn khiến hai con ngựa lo âu và cậu đi tiếp dõi nhìn nay lũ thú và nay đường trời phía bắc. Con ngựa cậu cưỡi thì lẩy bẩy và lao tới trước và một hồi sau cậu thấy là người đi ngựa đang đội nón. Cậu thúc ngựa tiến lên và khi cậu tới nơi nhóm người dừng lại và ngồi xuống đất thảy đều quan sát cậu lại gần.
Họ trông thảm bại. Họ kiệt sức và bết máu và thâm cả hai mắt và họ đã băng vết thương bằng vải lanh dơ dáy và rướm máu và quần áo họ đóng máu khô và nhọ súng. Cặp mắt Glanton trong hốc sẫm là trọng tâm hực sát khí và hắn cùng các kỵ binh tiều tuỵ trợn trừng hung dữ nhìn đứa trẻ như thể cậu không thuộc về họ tuy họ đều mắc cảnh khốn cùng. Đứa trẻ trượt khỏi lưng ngựa và đứng giữa họ gầy gò và khát khô và vẻ điên dại. Ai đó quăng cho cậu bình nước.
Họ mất bốn người. Những người còn lại đang trên đường trinh sát. Elias đã vượt qua vùng núi suốt đêm cho tới sáng hôm sau và đã đuổi theo họ qua lớp tuyết trong bóng tối trên bình nguyên xa bốn mươi dặm phía nam. Họ bị lùa tới phía bắc qua hoang mạc như gia súc và đã cố tình bám theo dấu vết bọn cuồng chiến nhằm cắt đuôi đám truy đuổi. Họ không biết quân Mễ bao xa ở phía sau và họ không biết quân Apache bao xa ở phía trước.
Cậu uống nước bình và quan sát họ. Trong số những người mất tích cậu không thể biết ai đang đi cùng toán trinh sát và ai đã chết ở hoang mạc. Con ngựa Toadvine dắt tới cho cậu là con mà tân binh Sloat từng cưỡi ra khỏi Ures. Khi họ di chuyển nửa giờ sau đó có hai con ngựa không chịu đứng và bị bỏ lại phía sau. Cậu ngồi trên cái yên không bọc da và ọp ẹp gắn trên lưng con ngựa của người chết và cậu ngồi gục thân và lảo đảo và chốc lát chân tay cậu buông thõng và cậu lắc lư trong giấc ngủ như con rối cưỡi ngựa. Cậu thức giấc và thấy cựu linh mục bên cạnh mình. Cậu lại chợp mắt. Khi cậu thức giấc lần nữa đó là pháp quan. Y cũng mất nón và y đi ngựa đầu đội một vòng hoa kết bằng bụi cây hoang mạc như một thi sĩ khét tiếng ở vùng mặn và y cúi nhìn người tị nạn với vẫn một nụ cười, tựa như thế gian này thật êm dịu ngay cả với riêng y.
Họ đi suốt phần ngày còn lại, lên những đồi thoải phủ chô-la và bụi vàng. Thi thoảng một trong những con ngựa dự phòng dừng bước và đứng lảo đảo trên đường và nhỏ dần phía sau họ. Họ xuôi một sườn dốc dài trong trời lạnh sắc lam vào buổi tối và qua một vùng bồi tích khô cằn chỉ mọc thưa cây phúc quế và cỏ bản địa rồi họ cắm trại trên mặt đất bằng phẳng. Cả đêm gió thổi và họ nhìn thấy được những đám lửa khác đang cháy trên hoang mạc phía bắc. Pháp quan bước ra và xem xét những con ngựa và chọn trong bầy đáng thương đó một con nhìn ốm nhất và bắt nó. Y dắt nó ngang qua ngọn lửa và nhờ người tới giúp. Không ai đứng dậy. Cựu linh mục ngả sang đứa trẻ.
Cứ mặc kệ đi nhóc.
Pháp quan lại cất tiếng nhờ từ bóng tối bên ngoài ánh lửa và cựu linh mục đặt một bàn tay cảnh báo lên cánh tay đứa trẻ. Nhưng đứa trẻ bật dậy và nhổ bọt vào ngọn lửa. Cậu quay sang dán mắt vào cựu linh mục.
Bây tưởng đây sợ hả?
Cựu linh mục không trả lời và đứa trẻ xoay thân đi vào bóng tối nơi pháp quan chờ sẵn.
Y đứng giữ con ngựa. Chỉ có hàm răng y lấp lánh trong ánh lửa. Cả hai cùng dắt con thú đi một đoạn và đứa trẻ cầm sợi dây bện còn pháp quan thì nhấc lên một tảng đá tròn nặng gần một trăm pao và đập nát sọ ngựa chỉ bằng một phát. Máu bắn ra khỏi tai nó và nó phịch xuống đất mạnh tới nỗi một chân trước gãy nát.
Họ lột da phần thân sau mà không mổ bụng con thú và nhiều người xẻ nó thành từng lát và nướng chúng trên lửa và xẻ phần thịt còn lại thành từng dải và đem xông khói. Toán trinh sát chưa trở về và họ lập nên chốt canh và đi ngủ mỗi người vũ khí gần bên ngực.

Giữa sáng hôm sau họ băng qua một lòng chảo nước kiềm nơi tập trung những cái đầu người. Cả nhóm dừng lại và Glanton cùng pháp quan đi tới trước. Có tám cái đầu và từng cái đều đội nón và chúng hợp nên một vòng tròn thảy đều hướng ra ngoài. Glanton và pháp quan vòng qua chúng và pháp quan dừng lại và bước xuống và lấy ủng đạp đổ một cái đầu. Như để chắc rằng không có ai bị vùi dưới cát. Mấy cái đầu khác trừng cặp mắt nhăn nheo nhìn mù quáng như đồng đệ của một kẻ nhập môn trong sạch đã hiến thân cho yên lặng và cái chết.
Đoàn kỵ binh nhìn ra phía bắc. Họ đi tiếp. Bên kia một gò thấp phủ tro lạnh là xác một cặp xe ngựa ngả đen và những thân người trần trụi. Gió đã cuốn bay tro tàn và trục sắt in hình dạng những cỗ xe như sống giằng vạch nên những con thuyền dưới đáy biển. Các thi thể bị ăn dở và lũ quạ bay lên khi đoàn kỵ binh tới gần và một cặp kên kên nhấc chân chạy vụt qua lớp cát với hai cánh dang rộng như lũ dơi lem luốc, cái đầu như bị luộc giần giật thô thiển.
Họ đi tiếp. Họ băng qua một cửa sông khô cạn giữa vùng hoang mạc bằng phẳng và buổi chiều họ đi qua một chuỗi khe núi hẹp vào vùng đồi nhấp nhô. Họ ngửi thấy được mùi khói từ đám củi thông và gần chập tối họ tiến vào thị trấn Santa Cruz.
Thị trấn này như mọi đồn luỹ dọc biên giới cũng nhỏ dần so với trước kia và có nhiều công trình vắng người và đổ nát. Việc đoàn kỵ binh xuất hiện đã được loan báo từ trước và dọc hai bên đường đám cư dân đứng lặng nhìn họ đi qua, những mụ già choàng khăn đen và những gã cầm súng hoả mai cũ và súng kíp hay súng chế tạo từ mấy phần ghép thô sơ vào báng gỗ bạch dương đẽo bằng rìu như đồ chơi con nít. Có những cây súng không khoá bắn được bằng cách nhét điếu xì-gà vào lỗ mồi, tống những viên đá nhặt ở đáy sông nạp vào nòng bay vù giữa không trung theo quỹ đạo kỳ quái như đường bay của thiên thạch. Dân Mỹ thúc ngựa tiến bước. Tuyết rơi trở lại và một cơn gió lạnh thổi từ con phố hẹp phía trước. Ngay cả trong cảnh khốn cùng họ vẫn ngồi trên yên trừng mắt nhìn đám dân quân Falstaff với vẻ khinh miệt lộ rõ.
Họ đứng lẫn vào ngựa mình trên lối đi nhếch nhác rợp bóng dương khi gió đang quật mạnh vào cây cối và lũ chim đậu trong ánh xám buổi hoàng hôn thì kêu lên và bấu vào cành và tuyết xoáy bay khắp quảng trường nhỏ và che phủ những căn nhà bùn phía xa và át tiếng rao của đám bán hàng theo gót họ. Glanton và tên Mễ đi cùng hắn đã quay về và nhóm người lên ngựa và nối đuôi nhau trên đường phố đến khi họ dừng bên một cổng gỗ cũ vào một sân trong. Mảnh sân phủ tuyết và nơi đó có gia cầm lẫn gia súc—dê, lừa—cào loạn vào tường khi đoàn kỵ binh tiến vào trong. Ở một góc là một giá ba chân bằng que củi đen và có một vệt máu loang phần nào bị phủ tuyết và ửng màu hồng nhạt dưới nắng cuối ngày. Một gã bước ra khỏi nhà và gã cùng Glanton trò chuyện và gã nói với tên Mễ rồi gã ra hiệu cho họ vào nhà tránh cái lạnh.
Họ ngồi trên sàn một căn phòng dài trần cao dầm ám khói trong lúc một người nữ và một đứa gái mang tới những tô dê hầm và một đĩa đất sét đầy ắp bánh tô-ti-la và họ được thêm những tô đậu và cà phê và cháo bột bắp có những viên đường. Ngoài trời u tối và tuyết rơi lã chã. Không có lửa trong phòng và thức ăn nóng nghi ngút. Ăn xong họ ngồi hút thuốc và đám đàn bà thu dọn chén đĩa và một hồi sau một thằng nhỏ cầm đèn dẫn họ ra ngoài.
Họ băng qua mảnh sân giữa những con ngựa khịt mũi và thằng nhỏ mở cánh cửa gỗ thô của căn lán gạch bùn và sang một bên giơ cao chiếc đèn. Họ mang yên và mền của mình. Trong sân ngựa dẫm đạp trong cái lạnh.
Căn lán có một con ngựa cái và một con ngựa non đang bú và thằng nhỏ toan đưa con cái ra ngoài nhưng họ kêu để yên đó. Họ mang rơm từ một ngăn chuồng và liệng xuống và thằng nhỏ cầm đèn soi trong lúc họ dọn nơi ngủ. Căn chuồng xộc mùi đất sét và rơm và phân ngựa và dưới ánh đèn xỉn vàng hơi thở họ trở thành khói trong cái lạnh. Khi họ đã trải xong mền thằng nhỏ hạ đèn và bước vào sân và đóng cửa, để họ chìm vào bóng tối sâu thẳm.
Không ai cử động. Trong căn chuồng lạnh lẽo tiếng đóng cửa sẽ khơi trong lòng vài kẻ những nhà trọ khác mà không phải mình chọn. Con ngựa cái khịt mũi lo âu và con ngựa non đi lởn vởn. Đoạn từng người họ bắt đầu cởi trang phục, áo khoác da và khăn choàng len thô và vét-tông, và từng người họ tạo ra xung quanh mình lách tách những tia loé và từng người họ mang một tấm lửa nhạt nhoà. Cánh tay họ giơ cao kéo trang phục thì phát quang và từng linh hồn mờ ảo đều được bọc trong hình thù nghe rõ của ánh sáng như thể nó vốn là vậy. Con ngựa cái ở cuối chuồng khịt mũi và giật mình trước ánh rỡ từ các sinh vật u tối và con ngựa nhỏ rúc đầu vào lòng mẹ.
(hết chương 15)

Sáng tác
/sang-tac
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

