XIV

Bão vùng núi - Miền đất cháy rụi, miền đất vắng người - Jesús María - Quán trọ - Người chủ - Nhà rượu - Tên kéo vĩ cầm - Linh mục - Hương hồn - Đám rước - Săn hồn - Glanton phát rồ - Chó đem bán - Pháp quan nhà xảo thuật - Lá cờ - Đấu súng - Cuộc đại xuất hành - Đoàn hộ tống - Máu đỏ và thuỷ ngân - Ở chỗ cạn - Jackson trở về - Rừng rậm - Nhà thảo mộc - Pháp quan thu thập mẫu vật - Góc nhìn về việc mình làm như nhà khoa học - Ures - Dân chúng - Đám ăn xin - Điệu Fandango - Chó hoang - Glanton và pháp quan.
Cả phía bắc trận mưa đã kéo các tua đen xuống khỏi đám mây dông như muội đèn lắng trong ly đốt và trong đêm họ nghe thấy được đồm độp tiếng mưa hàng dặm trên thảo nguyên. Họ ngược qua một con đèo đá và sấm chớp phô bày những ngọn núi run rẩy đằng xa và sấm chớp rung những hòn đá và những chùm lửa lam bám vào ngựa như nguyên tố sáng ngời không thể nào rũ bỏ. Ánh dịu nhẹ từ lò luyện rọi vào kim loại của yên cương, ánh lam lỏng trên nòng súng. Thỏ rừng dại giật thót và đứng im dưới ánh lam chói lòa và trên cao giữa những vách đá vang dội lũ diều hâu hung đỏ rúc vào bộ lông hoặc hé con mắt vàng khi sấm rền dưới vuốt.
Họ rong ngựa nhiều ngày dưới cơn mưa và họ rong ngựa dưới mưa rồi mưa đá rồi lại mưa. Dưới ánh xám cơn bão đó họ băng qua một bình nguyên úng ngập với những hình thù vó ngựa phản chiếu trên mặt nước giữa mây và núi và đoàn kỵ binh nhoài tới trước và hoài nghi chính đáng về thành phố lung linh trên bờ biển mù khơi họ đặt chân tới như phép màu. Họ lên những đồng cỏ mấp mô nơi lũ chim nhỏ tránh xa ríu rít xuôi làn gió và một con kền kền nặng nhọc bay lên khỏi đám xương với hai cánh vút vùn vụt như đồ chơi con nít mắc trên dây và dưới ánh đỏ dài buổi hoàng hôn những vũng nước nơi bình nguyên bên dưới loang như những hồ triều chứa máu sơ thuỷ.
Họ đi qua một đồng cỏ cao nguyên trải hoa dại, hàng ắc-rê cúc vàng và cúc ngũ sắc và long đởm tím đậm và đám leo dại bìm bìm lam và một bình nguyên rộng lớn đủ loài hoa nhỏ chạy dài như vải kẻ ô tới những vùng rìa trùng điệp xa xôi nhất phô sắc lam giữa sương mù và những dãy đá kiên cang nhô khỏi hư không như tấm lưng các sinh vật biển thuở đầu kỷ Devon. Mưa lại trút và họ đi ngựa khom mình dưới những chiếc áo chặt từ da thuộc nửa vời nhớp nhúa và trùm kín bằng những tấm da thô kệch này giữa cơn mưa xám dữ dội họ trông như toán canh của giáo phái mờ ám phái đi truyền đạo giữa muôn thú nơi kia. Miền đất trước mặt họ thì mù mây và tăm tối. Họ đi qua ánh dài buổi chạng vạng và mặt trời lặn và vắng mặt trăng và ở phía tây non núi hồi rung hồi động thành những khung lách cách và cháy rụi trong bóng tối thăm thẳm và cơn mưa rít lên trong màn đêm mịt mù. Họ lên qua những đồi chân núi giữa rừng thông và đá tảng khô cằn và họ lên qua những cây bách xù và vân sam và những cây lô hội lớn hiếm gặp và những thân ngọc giá vươn mình nở hoa nhạt yên lặng và ma quái giữa những cây thường xanh.
Ban đêm họ theo một dòng nước núi chảy xiết trong một hẻm hoang nghẽn đá bám rêu và họ đi dưới những hang tăm tối nơi từng giọt nhỏ xuống và văng tóe và mang vị sắt và họ nhìn thấy những dải thác bạc bị chia cắt trên sườn đồi xa hiện ra như phép lạ trên trời u ám thay nơi chúng bắt nguồn. Họ băng qua khu rừng ngả đen sau vụ cháy và họ đi qua một vùng toàn đá chẻ đôi nơi những khối lớn nằm đây nằm đó với mặt nhẵn lệch tâm và trên sườn dốc phủ đất sắt là những con đường lửa cũ và xương đen của những cây bị tàn hoại do bão vùng núi. Ngày hôm sau họ gặp phải cây ô rô lẫn cây sồi, những khu rừng gỗ cứng tựa như những nơi họ xa lìa khi còn trẻ. Thành từng cụm trên sườn phía bắc mưa đá đọng lại như téc-tít giữa lá cây rụng rời và ban đêm trời dìu dịu. Họ đi sâu vào vùng núi cao nơi bão tố nương ngụ, một vùng rực cháy tanh tách nơi lửa trắng lan trên các đỉnh và nền đất xông mùi đá lửa vụn. Về đêm lũ sói trong rừng tối của thế gian bên dưới kêu họ như thể chúng là bạn con người và con chó của Glanton chạy lon ton ư ử giữa những cẳng chân bầy ngựa mãi hoài dời chuyển.
Chín ngày rời khỏi Chihuahua họ vượt qua một khe núi và bắt đầu xuôi dốc bên con đường mòn hằn dọc theo bề mặt đá rắn nơi vách đứng cả ngàn phít lên mây. Con voi ma-mút đá khổng lồ đứng sững từ vách xám bên trên họ. Họ men theo lối xuống từng người một. Họ đi qua một đường hầm đục đẽo trong đá và cách đó vài dặm bên dưới trong hẻm núi là những mái nhà một thị trấn.
Họ xuôi con đèo đá khúc khuỷu và băng qua lòng suối nơi cá hồi nhỏ nhú chiếc vây nhạt màu và nhìn mũi những con ngựa uống nước. Làn sương mùi vị kim loại bốc ra từ hẻm núi và bao phủ họ và lan qua rừng. Họ thúc ngựa băng qua chỗ cạn và xuôi đường mòn và lúc ba giờ chiều phơn phớt mưa họ đi vào thị trấn cổ bằng đá tên Jesús María.
Họ đi lách cách trên những hòn cuội ướt mưa dính lá và băng qua cây cầu đá và đi trên đường phố dưới mái hiên nhỏ giọt của các tòa nhà có hành lang và dọc theo dòng thác núi chảy xuyên qua thị trấn. Những cỗ máy nhỏ nghiền quặng được xây trên những tảng đá bóng nhẵn dưới sông và những đồi phía trên thị trấn đều bị đào hầm và lắp giàn giáo và đầy dẫy đường ngang lẫn đuôi quặng. Đoàn kỵ binh ô hợp tới nơi thì vang tiếng hú của vài con chó ướt co ro ở khung cửa và họ quẹo vào một con phố hẹp và dừng lại nhỏ giọt trước cánh cửa một quán trọ.
Glanton đập ầm ầm cánh cửa và nó mở và một đứa con trai ngó ra ngoài. Một người phụ nữ xuất hiện và nhìn họ và trở vào trong. Sau rốt một gã đàn ông tới mở cổng. Gã hơi say và gã giữ cổng trong lúc đoàn kỵ binh đi qua từng người một vào sân nhỏ ngập nước rồi gã đóng cánh cổng sau lưng.
Sáng hôm sau mưa tạnh và họ xuất hiện trên đường phố, tả tơi, hôi hám, mang bộ phận người như những kẻ ăn đồng loại. Họ đeo súng ngắn khổng lồ ở thắt lưng và đồ da ghê tởm của họ nhuốm máu và khói và nhọ súng. Mặt trời ló rạng và những mụ già quỳ bên xô và giẻ đang chà lớp đá trước cửa tiệm liền quay sang ngó chừng họ và những chủ tiệm đang bày hàng e dè gật đầu chào buổi sáng. Họ là những người khách lạ giữa cảnh buôn bán đó. Họ đứng chớp mắt trước những ô cửa nơi chim sẻ treo trong lồng nhỏ bằng tre và vẹt lục pha thau đứng một chân và quang quác vẻ bồn chồn. Có những chuỗi trái cây khô và ớt và những chùm đồ thiếc treo như chuông gió và túi da heo đựng rượu thùa đẩy đưa trên xà nhà như lũ heo căng phình trong lò mổ. Họ sai người tìm chỗ uống. Một tên kéo vĩ cầm xuất hiện và ngồi xổm trên bậu đá và tấu lên một làn điệu dân ca Moor và không ai ghé qua bận việc buổi sáng rời mắt nổi khỏi toán người khổng lồ đó xanh xao và hôi hám.
Tới trưa họ tìm thấy một nhà rượu điều hành bởi một người tên Frank Carroll, một căn thấp bé từng là chuồng ngựa với cánh cửa mở ra đón ánh ngày duy nhất. Tên kéo vĩ cầm đã theo sau tỏ vẻ buồn rầu và hắn đứng ngay ngoài cửa tiện mắt xem những người lạ uống và đặt lẻng kẻng xu vàng lên tấm gỗ. Ở ngạch cửa là một lão già phơi nắng và lão ngả người hướng ống nghe bằng sừng dê tới tiếng ồn ã bên trong và gật đầu liên tục vẻ đồng thuận tuy chẳng lời nào được nói ra bằng tiếng mà lão hiểu.
Pháp quan đã chú ý tới tên nhạc công và y kêu gã và ném một đồng xu rơi keng xuống đá. Tên kéo vĩ cầm giơ đồng xu lên một hồi trước luồng sáng như thể không dùng được rồi giấu nó vào trong trang phục và kẹp cây đàn dưới cằm và tấu lên một giai điệu xưa của giới thuốc rong Tây Ban Nha hai trăm năm trước. Pháp quan bước vào ô cửa ngập nắng và làm một loạt bước chân trên đá với độ chính xác kỳ lạ và y và tên kéo vĩ cầm như hai kẻ lưu đãng xa lạ tình cờ gặp nhau trong thị trấn trung đại này. Pháp quan cởi nón và cúi chào hai bà ra phố tránh xa quầy rượu và y xoay một vòng bằng cặp chân điệu đà và rót rượu thùa từ ly mình sang ống nghe của lão già. Lão nhanh tay bít ống bằng ngón cái và lão cẩn thận giữ ống phía trước trong lúc lão dùng một ngón ngoáy lỗ tai rồi uống rượu.
Tối trời đường phố chật ních những kẻ say cuồng lắc lư và chửi rủa và rung chuông nhà thờ bằng đạn súng ngắn trong sự hỗn loạn vô thần đến khi tên linh mục bước ra cầm bức tượng Chúa bị đóng đinh và khuyên họ bằng những câu La-tinh rời rạc thành bài tụng đều đều. Tên này bị đánh và bị suồng sã trên đường phố và họ liệng xu vàng vào hắn khi hắn đang nằm siết chặt bức tượng. Hắn đứng dậy phớt lờ đám xu đến khi vài đứa trẻ chạy ra thu nhặt rồi hắn bảo mang chúng tới chỗ mình còn toán người man dã thì hò reo và nâng ly chúc mừng hắn.
Khán giả tản đi, con phố hẹp vắng hoe. Một vài dân Mỹ đã lạc vào dòng suối lạnh và té nước khắp nơi và họ nhỏ giọt trèo ra đường và đứng tối om và bốc khói và toát vẻ khải huyền dưới ánh đèn mờ tỏ. Đêm lạnh lẽo và họ lê bước toả hơi qua thị trấn rải cuội như dã thú sách thần tiên và trời lại đổ mưa.
Ngày hôm sau là lễ tưởng nhớ hương hồn và một đám rước trên đường phố và một cỗ xe ngựa chở bức tượng Chúa thô kệch trong chiếc quan tài cổ vàng ố. Đám giáo dân theo sau và tên linh mục đi trước rung chiếc chuông nhỏ. Một đám huynh đệ chân trần vận đồ đen hành bước phía sau cầm những cây trượng bằng cỏ dại. Bức tượng Chúa lấn qua, một hình thù tệ hại bằng rơm có đầu và chân được chạm khắc. Y đội vương miện bằng cây gai núi và trên trán vẽ những giọt máu và trên gò má cứng khô nước mắt màu lam. Đám dân làng quỳ gối làm dấu thập tự và vài kẻ bước tới sờ áo choàng của bức tượng và hôn đầu ngón tay mình. Đoàn rước ngang qua vẻ u buồn và trẻ con ngồi trước cửa ăn bánh đầu lâu và ngắm đoàn rước và cơn mưa trên đường phố.
Pháp quan ngồi một mình trong quán rượu. Y cũng ngắm cơn mưa, cặp mắt nhỏ trên gương mặt lớn phơi trần. Y nhét sẵn vào túi những viên kẹo nhỏ hình đầu lâu và y ngồi bên cửa và mời đám trẻ ghé qua dưới mái hiên nhưng chúng tránh xa như ngựa non.
Chiều tà từng nhóm dân thị trấn đi xuống từ nghĩa trang bên sườn đồi và sau đó trong bóng tối dưới ánh đèn sáp lẫn đèn dầu chúng lại lộ hình và lên tới nhà thờ để cầu nguyện. Không ai khác đi qua trừ các nhóm dân Mỹ say rượu và những vị khách lấm lem này sẽ vụng tay cởi nón và lảo đảo và toét miệng cười và đề nghị những điều thô tục với thiếu nữ. Carroll đã đóng căn nhà dơ của mình buổi hoàng hôn rồi lại mở để cánh cửa không bị phá. Lúc nào đó trong đêm một đám cưỡi ngựa đi California xuất hiện, ai nấy đều gục do kiệt sức. Vậy mà chưa đầy một tiếng chúng đi tiếp. Tới nửa đêm khi người ta bàn tán là hồn ma đang lởn vởn khắp nơi thì toán săn da đầu lại gào rú trên đường phố và xả súng bất kể trời mưa hay cái chết và điều này thảng hoặc tái diễn cho đến khi ngày rạng.
Tới trưa hôm sau Glanton say khướt bỗng phát rồ và hắn lảo đảo cuồng dại và bước vào sân nhỏ và nổ súng. Buổi chiều hắn nằm bất tỉnh trên giường như kẻ điên còn pháp quan thì ngồi bên cạnh và cầm miếng giẻ thấm nước chườm trán hắn và trò chuyện với hắn bằng giọng nhỏ nhẹ. Bên ngoài vang tiếng kêu từ những sườn đồi dốc. Một con bé mất tích và nhiều nhóm cư dân đã kéo nhau đi tìm trong các hầm mỏ. Một hồi sau Glanton ngủ thiếp và pháp quan đứng dậy bước ra ngoài.
Trời xám xịt trút mưa, lá cây rơi rụng. Một thằng thiếu niên tơi tả bước ra từ ô cửa kề một máng xối gỗ và giằng lấy khuỷu tay pháp quan. Nó giấu hai con chó trong vạt áo và ra giá, tóm cổ một con rồi kéo lê.
Pháp quan đang nhìn phía cuối đường. Khi y cúi nhìn thằng nhỏ thằng nhỏ liền lôi ra con chó kia. Chúng treo lủng lẳng. Bán chó đây, nó nói.
Nhóc muốn bao nhiêu? là lời pháp quan.
Thằng nhỏ nhìn hai con qua lại. Như thể nó muốn chọn một con phù hợp với tính cách pháp quan, có lẽ những con như vậy tồn tại đâu đó. Nó chìa con bên trái. Năm centavo, nó nói.
Con cún quằn quại và rụt về tay thằng nhỏ như con vật lùi xuống hố, cặp mắt nó xanh nhạt và vô cảm, vừa sợ cái lạnh vừa sợ pháp quan.
Ta mua cả hai, là lời pháp quan. Y lục tìm tiền xu trong túi.
Thằng bán chó xem đây là chiêu trò mặc cả và săm soi lũ chó để định giá cho đúng, nhưng pháp quan đã móc ra từ quần áo dơ của mình một đồng vàng nhỏ bằng một bu-sen chó giá như vậy. Y đặt đồng xu vào giữa lòng bàn tay và chìa ra và lấy tay kia giật lũ cún khỏi người giữ chúng, nắm chúng bằng một tay như cặp vớ. Y ra hiệu bằng đồng xu.
Đây này, y nói.
Đứa trẻ chăm chú nhìn đồng xu.
Pháp quan siết bàn tay và xoè nó. Đồng xu đã biến mất. Y đan các ngón giữa không trung và với tay ra sau thằng nhỏ và lấy đồng xu và đưa cho nó. Nó giữ đồng xu bằng hai tay trước mặt như chiếc bình thánh nhỏ và ngẩng đầu nhìn pháp quan. Nhưng pháp quan đã rời đi, lũ chó thõng thượt. Y băng qua cây cầu đá và y nhìn xuống dòng nước xiết và nâng lũ chó và thả chúng.
Ở phía xa hơn cây cầu dẫn sang một con phố nhỏ cặp bờ sông. Tại đây tên Xứ Van Diemen bên tường đá đứng tiểu xuống dòng nước. Khi hắn thấy pháp quan thả lũ chó khỏi cây cầu hắn rút cây súng ngắn và hét lên.
Lũ chó biến mất trong bọt nước. Từng con một lao theo dòng xiết xanh lục rộng lớn qua những tảng đá nhẵn vào hồ bên dưới. Tên Xứ Van Diemen giơ súng và lên đạn. Trên làn nước trong veo lá liễu trở xoay như cá đác màu ngọc bích. Cây súng giật mạnh trong tay hắn và một con chó văng khỏi mặt nước và hắn lên đạn lần nữa và bắn thêm một phát và một vết hồng chảy loang. Hắn lên đạn bắn phát thứ ba và con chó kia cũng nở bung và chìm xuống.
Pháp quan đi tiếp qua cầu. Khi thằng nhỏ chạy tới nhìn xuống nước nó vẫn cầm đồng xu. Tên Xứ Van Diemen đứng bên đường đối diện tay cầm cui tay cầm súng. Khói đã trôi về phía hạ lưu và chẳng còn gì sót lại trong hồ nước.
Khoảng cuối chiều Glanton thức giấc và vùng ra khỏi dây trói. Tin đầu tiên về hắn họ nhận được là trước một doanh trại Mễ nơi hắn lấy dao cắt rơi lá cờ Mễ và buộc nó vào đuôi một con la. Rồi hắn cưỡi con la và thúc nó qua quảng trường kéo lê lá cờ thiêng trong bùn đất phía sau hắn.
Hắn đi một vòng quanh phố rồi lại hiện ra giữa quảng trường, đá mạnh bạo vào sườn con thú. Khi hắn quành lại thì vang lên một tiếng súng và con la gục chết ngay dưới hắn do viên đạn hoả mai găm vào não. Glanton lăn mình tránh xa và luống cuống đứng lên bắn loạn xạ. Một mụ già sụp thân xuống đá không một tiếng động. Pháp quan và Tobin và Bác sĩ Irving từ nhà Frank Carroll chạy tới và quỳ gối dưới bóng tường và bắn vào các cửa sổ tầng trên. Sáu bảy dân Mỹ khác chạy vòng qua góc phố phía xa quảng trường và trong một loạt đạn hai người họ gục ngã. Những mảnh chì sướt qua hòn đá và khói súng bao trùm đường phố trong bầu không ẩm thấp. Glanton và John Gunn đã bám theo bờ tường tới nhà kho phía sau quán trọ nơi ngựa bị nhốt và họ thả bầy thú ra ngoài. Ba người nữa trong nhóm chạy vào mảnh sân và bắt tay mang đồ ra khỏi nhà và thắng yên ngựa. Ầm ầm tiếng súng nổ trên đường phố và hai người Mỹ nằm chết và vài người khác nằm hét la. Khi nhóm người phi ngựa ra ngoài ba mươi phút sau họ vút qua loạt đạn hoa cải và đá và chai lọ và họ bỏ lại sáu người ở phía sau.
Một tiếng sau Carroll và một người Mỹ khác tên Sanford từng sống trong thị trấn nay đã đuổi kịp họ. Đám cư dân cầm đuốc thiêu nhà rượu. Tên linh mục đã làm lễ rửa tội cho dân Mỹ bị thương và lùi bước nhìn họ bị bắn vào đầu.
Gần tối họ gặp phải một đoàn cố sức leo lên sườn phía tây ngọn núi gồm một trăm hăm hai con la chở những bình thuỷ ngân cho các mỏ. Họ nghe thấy được tiếng roi quất và tiếng hét gào của đám chăn la trên những đoạn khúc khuỷu tít bên dưới và họ nhìn thấy được những con thú nặng nề lê bước như dê dọc theo đường đứt gãy trên vách đứng. Xui rủi thay. Hăm sáu ngày từ khi rời biển và chưa đầy hai tiếng nữa là tới mỏ. Những con la thở hồng hộc và cào bới trên ta-luy và đám chăn la trang phục tả tơi sặc sỡ giục chúng đi tiếp. Kẻ đầu tiên nhìn thấy đoàn kỵ binh thì đứng trên bàn đạp và ngoái nhìn. Đoàn la nối đuôi nhau uốn theo đường mòn dài hơn nửa dặm và khi chúng tụ tập dừng bước từng bầy hiện rõ trên từng đoạn khúc khuỷu riêng biệt ở bên dưới, tám tới mười con la, lúc quay bên nọ, lúc quay bên kia, đuôi những con thú bị rỉa thòi xương bởi con sau và thuỷ ngân trong bình mủ rung mạnh như chứa thú bí hiểm, những thứ đi thành cặp cựa quậy thở phì trong những túi đầy căng. Kẻ chăn la quay lại và nhìn lên đường mòn. Glanton ở ngay phía trên y. Y thân mật chào dân Mỹ. Glanton đi ngựa ngang qua không một lời nói, bám theo cánh trên đoạn đường đá hẹp và huých con la của y một cách nguy hiểm giữa các mảnh đá phiến. Gương mặt y sầm lại và y ngoái đầu kêu vọng xuống đường mòn. Những người khác trong đoàn nay đang lấn qua y, mắt họ nheo và mặt họ đen như bồ hóng. Y xuống la và rút súng hoa cải ra khỏi gầm yên. Lúc này David Brown đối diện y, súng ngắn sẵn trong tay giấu bên sườn ngựa phải. Gã vung nó qua núm yên và bắn thẳng vào ngực y. Y ngồi phịch xuống và Brown bắn phát nữa và y ngã nhào xuống đá tới vực sâu bên dưới.
Những người khác trong đoàn chẳng buồn ngoái đầu xem điều gì đã xảy ra. Từng người họ đều bắn cự ly gần vào những kẻ chăn la. Chúng ngã ngựa và nằm trên đường mòn hoặc trượt dài khỏi vách đá và mất tăm. Đám chăn la phía trước quành ngựa và cố rút lui xuống đường mòn và những con la nặng nề mắt trắng dã thì nhấc chân lết về phía vách đứng như lũ chuột khổng lồ. Đoàn kỵ binh chen vào giữa chúng và đá tảng và từng bước một xô chúng ra khỏi vách, lũ thú âm thầm ngã xuống như tuẫn đạo, xoay nhẹ giữa bầu không rồi nổ tung trên đá tảng phía dưới thành một bãi kinh hoàng máu đỏ và thuỷ ngân khi những chiếc bình bể nát và thuỷ ngân lộ rõ cuốn theo không khí thành từng mảng từng thuỳ lớn và từng vệ tinh nhỏ rung rinh và thảy những hình thù của nó hợp lại bên dưới và len vào những con rạch đá như sự xâm lấn của thành phẩm giả kim thuật tối thượng chắt lọc từ bóng tối huyền bí của tim địa cầu, con nai tháo chạy của cổ nhân lẩn khuất trên sườn núi và rỡ ràng và thoăn thoắt trên lối khô các kênh bão và tạo hình những hốc đá và phóng từ gờ nọ sang gờ kia xuôi dốc lấp lánh và lanh lẹ như lươn.
Những kẻ chăn la nối dài trên đoạn đường trũng nơi mép đá gần như qua được và chúng đi và té sầm xuống bụi cây bách xù lẫn cây thông hoảng loạn cất tiếng hét còn những người đi ngựa thì lùa bầy la chập chạm xuống theo chúng và phóng trên con đường đá như cam chịu một điều gì kinh khủng. Carroll và Sanford đã tách khỏi đoàn và khi họ dừng lại ở nơi kẻ chăn la cuối cùng đã biến mất họ ghì cương và nhìn lại đường mòn. Trống không trừ xác những kẻ hộ tống. Năm mươi con la bị lùa khỏi vách đứng và ở khúc cong bờ vách họ nhìn thấy được hình thù gãy nát của những con thú nằm la liệt trên đá và họ nhìn thấy được hình thù long lanh của thuỷ ngân đọng lại dưới ánh chiều tà. Bầy ngựa dậm chân và cong cổ. Hai người nhìn xuống vực sâu hiểm trở kia và họ nhìn nhau không cần bàn luận và họ giật dây cương và thúc ngựa xuống núi.
Họ đuổi kịp nhóm người buổi hoàng hôn. Họ xuống ngựa bên kia sông và đứa trẻ cùng một kẻ Delaware đang lùa bầy ngựa bám bọt quay về từ mép nước. Họ đưa ngựa tới chỗ cạn rồi sang sông, nước lên tới bụng ngựa và bầy ngựa dò bước qua đá tảng và ngoắt đầu nhìn thượng nguồn nơi một thác đổ ào ào từ khu rừng dần tối xuống hồ long lanh cuộn trào bên dưới. Khi họ đi ngựa ra khỏi chỗ cạn pháp quan bước tới và tóm lấy hàm con ngựa Carroll.
Tên mọi đen đâu rồi? y nói.
Hắn nhìn pháp quan. Họ gần như ngang tầm mắt nhau và hắn ngồi trên lưng ngựa. Đây không biết, hắn nói.
Pháp quan nhìn Glanton. Glanton nhổ bọt.
Anh thấy bao nhiêu người ở quảng trường?
Có thời gian đâu mà đếm. Chỉ biết là có ba bốn tiếng súng thôi.
Còn tên mọi đen?
Đây chưa từng thấy.
Sanford đẩy ngựa đi tới. Thằng mọi không ở quảng trường, gã nói. Đây thấy tụi nó bắn mình và tụi nó trắng bóc như đây với ông.
Pháp quan thả con ngựa Carroll và đi lấy ngựa của mình. Hai kẻ Delaware tách khỏi nhóm. Khi họ ra đường mòn trời sắp tối và nhóm người đã lui vào rừng và để người gác ở chỗ cạn và họ không nhóm lửa.
Không kỵ binh nào xuống đường mòn. Chớm đêm trời đã tối nhưng toán thay ca đầu tiên ở chỗ cạn nhìn thấy trời quang đãng và mặt trăng ló qua thung lũng và họ nhìn thấy con gấu tới gần và dừng ở bên kia sông và đưa mũi ngửi bầu không và quay về. Gần rạng sáng pháp quan và lũ Delaware trở lại. Kẻ đen đi cùng họ. Hắn loã thân trừ tấm mền quấn quanh người. Hắn còn chẳng mang ủng. Hắn cưỡi một con la lòi xương đuôi của đoàn hộ tống và hắn rùng mình do cái lạnh. Thứ duy nhất hắn còn giữ là cây súng ngắn. Hắn đang ôm nó vào ngực dưới tấm mền do không còn chỗ cất.
Con đường xuống núi về phía tây vùng biển dẫn họ xuyên qua những hẻm xanh mướt rợp dây leo nơi lũ vẹt đuôi dài và vẹt mắc-ca sặc sỡ liếc nhìn và kêu quác. Đường mòn men theo một dòng sông nước dâng cao và đục ngầu và nhiều chỗ cạn và họ liên tục vượt qua sông. Những thác nước nhạt màu đổ xuống từ vách đứng bên trên họ, trào ra khỏi tảng đá nhẵn trơn cao vút thành những luồng hơi ào ạt. Tám ngày họ không gặp người đi ngựa nào khác. Ngày thứ chín họ nhìn thấy một lão già cố rời khỏi đường mòn bên dưới, cầm roi đánh hai con lừa chạy qua rừng. Tới ngang chỗ này họ dừng lại và Glanton quẹo vào rừng nơi lá ướt bị xào xáo và hắn lần theo lão già đang ngồi trong bụi rậm cô độc như chú lùn. Hai con lừa ngẩng nhìn và giật tai rồi lại cúi xuống ăn cỏ. Lão già nhìn hắn.
Tại sao bây trốn? là lời Glanton.
Lão không trả lời.
Từ đâu tới thế?
Lão dường như không muốn nảy ý nghĩ về hội thoại. Lão ngồi bệt trên đám lá tay khoanh lại. Glanton cúi đầu và nhổ bọt. Hắn hất cằm về phía hai con lừa.
Mấy con kia có gì?
Lão già nhún vai. Thảo mộc, lão nói.
Glanton nhìn hai con thú và hắn nhìn lão già. Hắn quành ngựa về phía đường mòn và lại nhập đoàn.
Anh kiếm tôi làm gì? là lời kêu với của lão.
Họ đi tiếp. Có chim đại bàng và loài chim khác trong thung lũng và nhiều hươu và có hoa lan dại và những lùm tre. Dòng sông nơi đây khá lớn và nó chảy cuộn qua những khối đá khổng lồ và thác nước đổ khắp nơi khỏi rừng rậm cao lớn. Pháp quan đã quen cưỡi ngựa đi trước cùng một kẻ Delaware và y mang cây súng trường nạp đầy những hạt nô-pan nhỏ cứng và chiều tối y khéo tay sơ chế những con chim rực màu y bắn được, chà lớp da bằng thuốc súng và nhồi vào chúng các viên cỏ khô và cất chúng vào túi. Y ép lá cây và thực vật vào quyển sách của mình và rón rén đi tìm bướm núi với áo dang rộng bằng hai tay, nói với chúng bằng giọng thì thào, không có gì kỳ thú ở bản thân y. Toadvine ngồi xem y viết vào quyển sách, giơ quyển sách tới gần ngọn lửa cho sáng, và gã hỏi y làm vậy nhằm mục đích gì.
Chiếc lông vũ dừng kêu sột soạt. Y nhìn Toadvine. Đoạn y lại viết tiếp.
Toadvine nhổ bọt vào củi lửa.
Pháp quan viết tiếp rồi y đóng quyển sách và đặt nó sang một bên và chắp hai tay và đưa lên vuốt mũi và miệng và úp chúng lên đầu gối.
Cái gì tồn tại, y mở lời, cái gì được tạo nên tồn tại mà ta không hay biết thì tồn tại mà ta không bằng lòng.
Y nhìn quanh cánh rừng u tối nơi họ đóng quân. Y hất đầu về phía các mẫu thu thập được. Những sinh vật vô danh này, y nói, nhìn thì bé nhỏ và vô hại trên thế gian. Vậy mà mẩu vụn nhỏ nhất lại thừa sức nuốt trôi chúng ta. Bất cứ cái gì nhỏ nhất khuất sau tảng đá kia vượt ngoài trí óc con người. Chỉ có tự nhiên mới thống trị con người và chừng nào sự hiện hữu của từng thực thể cuối cùng bị vây bắt và bị ép phơi lộ trước mắt y thì y mới là tôn chủ đích thực trên địa cầu.
Tôn chủ là cái gì?
Người quản. Người quản hoặc lãnh chúa.
Sao không gọi là người quản?
Vì đó là một người quản đặc biệt. Tôn chủ cai trị ngay cả khi vẫn còn người cai trị khác. Uy quyền của y bác bỏ các phán quyết cục bộ.
Toadvine nhổ bọt.
Pháp quan đặt hai tay lên nền đất. Y nhìn kẻ thẩm giáo. Cái này là của ta. Vậy mà ở khắp nơi còn những ổ đầy sự sống tự chủ. Tự chủ. Để nó thuộc về ta thì không gì được phép xảy ra trừ khi chính ta là người xếp đặt.
Toadvine ngồi bắt tréo ủng đằng trước đám lửa. Đâu có ai biết hết mọi chuyện trên đời, gã nói.
Pháp quan nghiêng cái đầu lớn. Ai tin rằng mọi bí ẩn về thế gian mãi bị chôn vùi thì sẽ sống trong lo âu và sợ hãi. Mê tín sẽ kìm hãm y. Cơn mưa sẽ xói mòn những kỳ công trong đời y. Còn ai tự đặt ra sứ mệnh tách sợi may trật tự ra khỏi tấm thảm cuộc đời thì chỉ bằng quyết định đó y sẽ kiểm soát cả thế gian và chỉ bằng việc kiểm soát đó y sẽ vẽ nên phương cách làm chủ số phận của chính mình.
Đây chả thấy dính gì tới chuyện bắt chim.
Chim được tự do đối với ta là xúc phạm. Gặp ta là nhốt hết vào vườn thú.
Chắc là vườn thú đó hay ho lắm nhỉ.
Pháp quan mỉm cười. Đúng, y nói. Dù có như vậy.
Đêm đó một đoàn xe ngựa ngang qua, đầu ngựa đầu la quấn khăn choàng, dẫn đường lặng lẽ trong bóng tối, những kẻ đi ngựa cảnh báo nhau bằng một ngón đặt lên môi. Pháp quan trên đỉnh một tảng đá lớn trông ra đường mòn dõi nhìn chúng.
Sáng hôm sau họ đi tiếp. Họ vượt sông Yaqui lầy lội và xuyên qua những cánh đồng hướng dương cao bằng người đi ngựa, những bông tàn úa nhìn sang tây. Vùng đất dần rộng thêm và họ gặp phải những thửa bắp trên sườn đồi và một vài khoảnh đất trống ở vùng hoang dã nơi có lều tranh và cây cam và cây me. Bóng người họ không thấy. Ngày hai tháng mười hai năm một tám bốn chín họ vào thị trấn Ures, thủ phủ bang Sonora.
Họ chưa được nửa đường tới thị trấn thì họ đã lôi kéo một đám người hỗn tạp đủ loại và gớm ghiếc trước giờ chưa từng thấy, bọn ăn xin và lũ giám sát bọn ăn xin và đĩ điếm và ma cô và lũ bán rong và lũ trẻ dơ dáy và cả những phái đoàn kẻ mù và kẻ cụt và kẻ quấy đồng thanh thốt lên vì Chúa đi mà và mấy kẻ cưỡi trên lưng thú và giục chúng theo gót và vô số kẻ mọi lứa tuổi và địa vị đơn giản là tò mò. Đàn bà có gia thế ngồi thư giãn trên ban công họ ngang qua với gương mặt điểm màu chàm và đỏ đậm loè loẹt như mông vượn và chúng ló đầu sau chiếc quạt với vẻ e thẹn kỳ quặc như người giả gái ở nhà thương điên. Pháp quan và Glanton đi ngựa đầu đoàn nhỏ và bàn luận với nhau. Bầy ngựa phi nước kiệu vẻ lo lắng và hễ những kỵ binh đá trúng tay ai bấu vào trang sức ngựa là bàn tay đó lặng rụt về.
Họ nghỉ đêm ở một nhà trọ bên rìa thị trấn điều hành bởi một người Đức người đã giao cả khuôn viên cho họ và không còn ló mặt nữa để phục vụ hay đòi tiền. Glanton thả bước qua những căn phòng cao bám bụi với trần bằng gỗ liễu và một hồi sau gã tìm thấy một mụ già hầu khúm núm ở một nơi gọi là căn bếp mặc dù bên trong chẳng có gì ngoài một lò than và dăm nồi đất. Hắn sai mụ nấu nước tắm và dúi vào mụ một nắm xu bạc và dặn mụ làm cho họ một bữa ăn. Mụ chăm chăm nhìn đám xu mà không cựa động đến khi hắn xua mụ và mụ đi dọc hành lang tay khum lại giữ đám xu như chim. Mụ biến mất trên cầu thang thốt lên mấy tiếng và chốc lát có nhiều người phụ nữ đang bận việc xung quanh.
Khi Glanton quay lại sảnh có bốn năm con ngựa ở đó. Hắn cầm nón đuổi chúng đi và tới gần cửa và nhìn ra đám đông im lặng toàn khán giả.
Mấy thằng nhỏ coi ngựa, hắn kêu. Tới đây. Lẹ lên.
Hai thằng nhỏ lấn qua và tới gần cửa và mấy thằng khác theo sau. Glanton ra dấu cho thằng cao nhất đi tới và đặt một tay lên đầu nó và quay nó và nhìn mấy đứa còn lại.
Người này là sếp, nó nói. Đứa sếp đứng nghiêm nghị, ánh mắt quét quanh. Glanton quay đầu qua lại và nhìn nó.
Tao giao hết cho mày, hiểu chưa? Ngựa, yên cương, mọi thứ.
Dạ. Dạ hiểu.
Giỏi lắm. Cứ làm đi. Ở trong nhà có ngựa kìa.
Đứa sếp ngoái đầu và hét lớn tên bạn bè mình và sáu bảy thằng tới và chúng bước vào trong nhà. Khi Glanton đi dọc sảnh chúng dắt những con thú đó—vài con nổi danh giết người—về phía cửa, la rầy chúng, thằng nhỏ nhất không cao hơn cẳng con thú nó đã nhận. Glanton ra phía sau nhà và ngó tìm cựu linh mục hắn thường phái đi mua đĩ và rượu nhưng không thấy gã đâu. Cố tìm ra một nhóm hắn mong sẽ quay về hắn nhờ Bác sĩ Irving và Shelby và đưa họ một nắm tiền xu và trở lại căn bếp.
Tối trời có nửa tá dê non nướng trên xiên ở sân sau nhà trọ, thân hình ngả đen sáng lên trong ánh đèn mờ khói. Pháp quan dạo quanh khu đất trong bộ Âu phục vải lanh và chỉ đạo các đầu bếp bằng cái vẫy xì-gà và theo gót y là ban nhạc dây gồm sáu người, thảy đều già nua, thảy đều nghiêm nghị, đi với y tầm ba bước phía sau và chơi nhạc. Một bình rượu thùa treo trên giá ba chân ở giữa sân và Irving đã quay về với hai mươi tới ba mươi gái đĩ mọi lứa tuổi và kích thước và trước cửa nhà là các đoàn xe ngựa và xe kéo trông nom bởi những kẻ bán quân nhu tự phát từng đợt rao tên các mặt hàng cụ thể và vây quanh chen chúc là đám dân thị trấn và hơn chục con ngựa nửa thuần đem bán chồm lên cất tiếng hí và trông thảm hại là lũ gia súc và cừu và heo bên cạnh chủ đến khi cả cái thị trấn mà Glanton và pháp quan đã mong tránh xa thì gần như nằm ở ngay cửa làm nên cảnh xô bồ tưng bừng chất lễ hội và cảnh xấu xí tăng dần phổ biến trong các buổi sum vầy ở nơi đó của thế gian. Ngọn lửa trong sân bùng lên cao tới nỗi từ đường phố toàn bộ phía sau khuôn viên như bốc cháy và nhà buôn mới với đống hàng và khán giả mới đang ghé qua đều đặn cùng đám da đỏ Yaqui cáu gắt mang khố sẽ được thuê làm việc.
Tới nửa đêm lửa nổi trên đường phố và người ta nhảy múa và say sưa và ngôi nhà vang tiếng thét của đĩ điếm và những bầy chó thù địch đã lẻn vào nay tối om và bốc khói mảnh sân sau nơi lũ chó hung bạo cắn xé nhau tranh giành những giá xương cháy xém và nơi tiếng súng đầu trong đêm nổ ra và lũ chó bị thương tru tréo và lê lết khắp nơi đến khi Glanton tự ra ngoài và cầm dao giết chúng, cảnh rùng rợn dưới ánh đèn leo lét, lũ chó bị thương im lặng trừ tiếng răng côm cốp, lết qua khu đất như hải cẩu hay thứ gì đó khác và nép dưới tường còn Glanton thì dắt chúng và chẻ đôi hộp sọ chúng bằng con dao lớn bằng đồng đeo ở thắt lưng. Hắn vừa trở vào trong thì lũ chó mới tới ư ử giành xiên thịt.
Tới đầu giờ sáng hầu hết ngọn đèn trong nhà trọ đã tắt ngấm và các phòng tràn ngập người say khướt ngủ o o. Đám bán quân nhu và xe đẩy của chúng đã mất dạng và những vòng cháy đen khi lửa tàn nằm trên con lộ như hố bom, các khúc củi âm ỉ được kéo ra để duy trì ngọn lửa cuối vây quanh bởi những lão già và những thằng nhỏ ngồi hút thuốc và kể chuyện. Khi non núi phía đông hiện ra dưới ánh bình minh những bóng người này cũng tản mất. Ở mảnh sân phía sau khuôn viên lũ chó còn sống đã tha xương đi tán loạn và lũ chó đã chết nằm ở bãi máu sẫm khô trong bụi đất và lũ gà trống gáy vang. Khi pháp quan và Glanton hiện ra ở cửa trước trong bộ Âu phục, pháp quan bộ trắng và Glanton bộ đen, người duy nhất gần đó là một thằng nhỏ chăn ngựa đang ngủ trên bậc thềm. 
Này nhỏ, là lời pháp quan.
Thằng nhỏ bật dậy.
Cậu trông chuồng ngựa phải không?
Dạ đúng thưa ông. Con sẵn sàng phục vụ.
Ngựa của bọn ta, y nói. Y tính miêu tả bầy thú nhưng thằng nhỏ đã bỏ chạy.
Trời lạnh và cơn gió đang thổi. Mặt trời chưa lên. Pháp quan đứng ở bậc thềm và Glanton đi qua đi lại săm soi nền đất. Mười phút sau thằng nhỏ và một thằng nữa xuất hiện dẫn hai con ngựa được thắng yên và chải chuốt kỹ càng đi nước kiệu trên đường phố, hai thằng nhỏ chạy trối chết, chân trần, hơi thở của ngựa phả ra ngoài và đầu chúng quay phắt bên nọ bên kia.
(hết chương 14)