XIII

Ở nhà tắm - Thương gia - Chiến lợi phẩm - Bữa tiệc - Trias - Buổi khiêu vũ - Phía bắc - Coyame - Biên giới - Bể nước Hueco - Tàn sát người Tigua - Carrizal - Con suối miền hoang mạc - Cồn cát - Thẩm tra về bộ răng - Nacori - Quán rượu Mễ - Cuộc gặp gỡ kinh hoàng - Tiến vào vùng núi - Ngôi làng bị tàn phá - Quân cầm giáo cưỡi ngựa - Giao tranh - Truy đuổi kẻ còn sống - Bình nguyên Chihuahua - Tàn sát binh lính - Chôn cất - Chihuahua - Tây tiến.
Đường tiến của họ đông thêm những kẻ đi ngựa, đám nhóc trai cưỡi la và mấy lão già đội nón rơm và một phái đoàn đảm nhận bầy ngựa lẫn la bắt được và dắt chúng xuyên qua phố xá chật hẹp tới sân đấu bò nơi chúng sẽ bị giam giữ. Những chiến binh tơi tả dấn tới, vài người giơ cao những cái ly đưa cho họ từ trước, cầm vẫy về phía các quý bà tụ lại ở ban công những cái nón thối rữa và ngẩng cao mái đầu lắc lư mắt lờ mờ toát vẻ buồn chán đến lạ trên gương mặt khô ráp, tất thảy nay bị đám dân vây ép tới nỗi họ trông như toán tiên phong dấy nên một cuộc nổi loạn tơi tả, dẫn đầu bởi hai tên đánh trống một bị điên và cả hai đều chân đất và bởi một tên thổi trôm-pét đang diễu hành với một tay giơ qua đầu theo kiểu nhà binh và đang thổi. Cứ như vậy họ đi qua những cổng chính kiên cố của dinh thống đốc, qua những bậu cửa đá mòn vào sân trong nơi bầy ngựa không móng của toán đánh thuê dẫm lên đá lát đường vang lên tiếng canh cách kỳ lạ như rùa.
Hàng trăm kẻ hiếu kỳ chen lấn khi các mảnh da đầu khô được bày đếm trên phiến đá. Bọn lính hoả mai ngăn cản đám đông và đám con gái ngắm nhìn dân Mỹ bằng cặp mắt đen mở to và đám con trai rón rén lại gần sờ chiến lợi phẩm ghê tởm. Có một trăm hăm tám mảnh da và tám cái đầu và tên phó thống đốc cùng đám tuỳ tùng xuống sân chào đón họ và khâm phục họ. Họ được hứa trả đủ số vàng tại bữa tiệc vinh danh họ tối hôm đó ở khách sạn Riddle và Stephens và trước tin này dân Mỹ hò reo và lại lên ngựa. Những mụ già quấn khăn Mễ màu đen chạy tới hôn gấu áo nặc mùi của họ và giơ hai bàn tay nhỏ sẫm màu ban phước lành và đoàn kỵ binh quành lũ ngựa ốm o và lấn qua đám dân ầm ĩ và tiến ra đường phố.
Họ đi tiếp tới nhà tắm chung nơi từng người họ xuống nước, người sau tái nhợt hơn người trước và ai cũng có hình xăm, con dấu, vết khâu, các vết sẹo nhăn nhúm có Chúa Trời mới biết những kẻ dã man nào mổ xẻ khắp ngực và bụng như vết chân loài rết khổng lồ, vài người dị dạng, ngón tay mất, cặp mắt, vầng trán và cánh tay hằn chữ lẫn số như thể chúng là món hàng cần kiểm kê. Đám dân cả nam lẫn nữ đều lùi về dọc theo các bức tường và xem nước hoá thành thứ cháo pha máu và đất và không ai rời mắt được khỏi pháp quan người đã cởi hết quần áo và nay bước quanh khu vực nhà tắm với điếu xì-gà trên miệng và vẻ ngoài vương giả, thử nước bằng một ngón chân, nhỏ nhắn đến bất ngờ. Y toả sáng như vầng trăng rất đỗi nhợt nhạt và không một sợi lông tóc nào thấy được trên cơ thể đồ sộ đó, không ở kẽ hở nào cũng như không ở trong lỗ mũi lớn và không trên ngực lẫn trong tai cũng như không một chòm trên mắt hay mí. Vòm đầu to nhẵn bóng trên hộp sọ trần của y thì như chiếc nón tắm phủ xuống làn da sẫm màu trên mặt và cổ. Khi cái vóc kềnh kia từ từ hạ xuống bể mực nước dâng rõ rệt và khi ngâm mình tới mắt y ngó quanh vẻ vui sướng tột cùng, cặp mắt hơi nheo, như thể y đang mỉm cười dưới nước như loài heo biển tái nhợt căng phồng nổi lên giữa đầm lầy còn phía sau vành tai nhỏ sát bên thì điếu xì-gà kẹp chặt toả làn khói thoảng trên mặt nước.
Lúc này đám thương gia đã bày sẵn hàng hoá dọc theo các viên gạch đất sét phía sau lưng, những bộ Âu phục bằng vải và áo lụa màu và nón lông hải ly và ủng da cao cấp Tây Ban Nha, gậy đầu bạc và roi cưỡi và yên bọc bạc và tẩu chạm khắc và súng nhỏ gọn và một bó kiếm Toleda với chuôi ngà voi và lưỡi khắc chạm tinh xảo và đám thợ cắt tóc đang sắp ghế hầu họ, rao tên những vị khách nổi danh chúng từng phục vụ, và thảy những doanh nhân này đều đảm bảo cho nhóm người mua chịu kèm ưu đãi tốt nhất.
Khi họ băng qua quảng trường trong bộ quần áo mới mua, vài người tay áo chỉ dài tới khuỷu tay, các mảnh da đầu đang được treo lủng lẳng trên khung sắt một vọng lâu như món trang trí cho một buổi lễ man rợ. Những cái đầu chặt rời được cắm trên đỉnh cột đèn nơi chúng ngắm nhìn bằng cặp mắt hốc hác man rợ những mảnh da khô của đồng loại và tổ tiên treo ngang mặt tiền bằng đá của nhà thờ và khẽ lách cách trong gió. Sau đó khi đèn được thắp sáng những cái đầu trong ánh êm dịu hắt lên trông như mặt nạ bi kịch và chỉ vài ngày nữa chúng sẽ trở nên lốm đốm trắng và hoàn toàn bị hủi do phân của lũ chim đậu trên đó.
Angel Trias tên thống đốc đương nhiệm thuở còn trẻ từng được gửi sang nước ngoài du học và am tường những áng văn cổ điển và là người nghiên cứu ngôn ngữ. Gã cũng là người đàn ông đích thực và những chiến binh tàn bạo gã thuê nhằm bảo vệ tiểu bang dường như làm gã thấy ấm lòng. Khi tên trung uý mời bữa Glanton và các sĩ quan của hắn Glanton đáp rằng hắn và người của mình không ăn riêng. Tên trung uý mỉm cười chấp thuận và Trias cũng vậy. Họ tới chỉnh tề, râu cạo và tóc cắt và diện ủng mới và phục trang lộng lẫy, lũ Delaware toát lên vẻ khắc khổ đáng sợ trong áo khoác ban ngày, tất thảy quây quần bên bàn ăn dọn sẵn. Xì-gà được mang tới và những ly rượu xe-rét được rót đầy và tên thống đốc đứng ở đầu bàn nồng nhiệt chào đón họ và lệnh cho viên thị thần rằng mọi yêu cầu đều phải được đáp ứng. Đám binh lính phục vụ họ, lấy thêm ly, rót thêm rượu, châm xì-gà bằng sợi bấc trong cái hộp bạc thiết kế riêng cho việc đó. Pháp quan tới sau cùng, vận bộ Âu phục vải lanh chưa tẩy trắng đặt may riêng chỉ cho y ngay chiều hôm đó. Những súc vải được dùng hết và nhiều đội thợ cùng tham gia việc chế tác. Chân y được bọc bằng cặp ủng da dê non xám đánh bóng đẹp và trên tay y là chiếc nón Panama ghép từ hai chiếc nón nhỏ hơn bằng một công đoạn tỉ mỉ tới nỗi các mối may gần như chẳng lộ ra ngoài.
Trias đã ngồi sẵn vào ghế trước khi pháp quan xuất hiện nhưng ngay lúc tên thống đốc nhìn thấy y thì gã liền đứng dậy và họ bắt tay trang trọng và cho y ngồi bên phải gã và hai người lập tức trò chuyện bằng thứ tiếng không một ai trong phòng từng nói ngoại trừ các biệt danh thấp hèn vọng xuống từ phương bắc. Cựu linh mục ngồi đối diện đứa trẻ và gã nhướn mày và ra hiệu về phía đầu bàn. Đứa trẻ, với cái cổ áo cứng đầu tiên từng sở hữu và chiếc cà-vạt đầu tiên, ngồi im như tượng thợ may trước bàn.
Lúc này bàn đã được bày biện đủ và có hàng loạt đĩa thức ăn, cá mú và gà chim và thịt bò và thịt rừng miền quê và một con heo quay trên dĩa và món hầm và bánh ngọt và rượu vang và rượu mạnh từ các vườn nho ở El Paso. Ly rượu mừng lòng yêu nước được đưa lên môi, đám phụ tá thống đốc nâng ly chúc Washington và Franklin và dân Mỹ đáp lại bằng lời ca ngợi anh hùng dân tộc mình, tuy chẳng biết gì về ngoại giao hay bất kỳ ai trong điện thờ của nước cộng hoà chị em. Họ gằm mặt ăn ngốn ngấu và cứ ăn mãi đến khi hết nhẵn bàn tiệc rồi hết cả kho trữ của khách sạn. Người đưa thư được phái đi khắp thành phố nhằm lấy thêm thức ăn nhưng rồi cũng sạch trơn và phải gọi thêm đến khi tên đầu bếp của Riddle phải lấy thân chặn cửa và toán lính tham dự đơn thuần đổ những khay đựng bánh ngọt, da chiên giòn, khoanh pho-mát—cái gì tìm thấy được—ra hết lên bàn.
Tên thống đốc đã cụng ly và đứng lên phát biểu bằng tiếng Anh trôi chảy, vậy mà toán đánh thuê mập ú ợ hơi lại lởn vởn xung quanh và đòi thêm rượu, vài người không ngớt hét vang lời chúc tụng, nay thoái hoá thành lời thề tục tĩu với đĩ điếm ở các thành phố phía nam. Tên thủ quỹ được giới thiệu giữa tiếng reo hò, hú huýt, những ly rượu đầy giơ cao. Glanton chiếm cái túi vải dài in biểu tượng tiểu bang và cắt lời tên thống đốc hắn đứng dậy và đổ vàng ra bàn giữa xương xẩu và vỏ cứng và rượu loang và theo lối chi trả nhanh đều như nhịp trống chia số vàng bằng lưỡi dao sao cho mỗi người nhận được phần đã hứa mà không cần nghi lễ nào khác. Một ban nhạc dân gian tấu lên giai điệu buồn ở một góc sảnh và trước tiên là pháp quan người đã dẫn các nhạc công và nhạc cụ của chúng vào sảnh khiêu vũ liền bên nơi một số quý bà được mời tới đã ngồi trên các băng ghế kê sát tường và quạt mình mà không tỏ vẻ lo lắng.
Dân Mỹ lũ lượt kéo nhau vào sảnh khiêu vũ một người rồi hai người rồi từng nhóm, ghế bị đẩy lùi, ghế bị xô đổ nằm dưới đất. Đèn tường với chao đèn thiếc được thắp lên khắp phòng và những người tham dự tề tựu ở đó làm nên những bóng hình đối nghịch. Toán săn da đầu đứng nhe răng cười với các quý bà, trông thô lỗ trong bộ đồ bó sát, tặc lưỡi, tay cầm dao và súng ngắn và mắt thì điên dại. Pháp quan hội ý riêng với ban nhạc và sớm được tấu lên là một vũ khúc tứ đôi. Cảnh người lảo đảo và chân rầm rập đã diễn ra còn pháp quan, hoà nhã, lịch thiệp, thì dìu dắt từng quý bà theo các bước nhảy với vẻ ân cần. Tới nửa đêm tên thống đốc đã xin cáo lui và các thành viên ban nhạc lẻn bước ra về. Tên mù chơi đàn hạc đường phố đứng run sợ trên bàn tiệc giữa đống xương lẫn đĩa và một đám đĩ vẻ loè loẹt đã len vào cuộc nhảy. Súng ngắn nổ vang khắp phòng và Ngài Riddle, là quyền lãnh sự Mỹ tại thành phố, đi xuống khuyên can đám vui chơi nhưng bị cảnh báo phải rời đi. Ẩu đả xảy ra. Đồ đạc bị tháo rời, người người vung vẩy chân ghế, chân đèn sáp. Hai con đĩ vật nhau và lao vào tủ đựng đồ và rơi xuống sàn với tiếng bể những ly rượu mạnh. Jackson, tay rút súng, lảo đảo ra đường phố thề bắn cho nát đít Chúa Jesus, thằng con hoang da trắng chân dài. Rạng sáng hình thù những người say khướt nằm ngáy ở trên sàn giữa những vết máu khô đậm màu. Bathcat và tên chơi đàn hạc tay trong tay nằm ngủ trên bàn tiệc. Một gia đình kẻ trộm đang nhón gót đi qua cảnh đổ nát rồi lục túi những ai đang ngủ và tàn tích một đống lửa đã thiêu rụi nhiều đồ đạc khách sạn vẫn còn âm ỉ cháy trên đường phố trước cửa.
Những cảnh tượng này và những cảnh tượng y hệt lại tái diễn đêm sang đêm. Đám dân đã thỉnh cầu tên thống đốc nhưng gã như tên phù thuỷ tập sự người thừa sức xúi con quỷ làm theo ý mình nhưng chẳng thể bắt nó dừng lại. Nhà tắm biến thành nhà thổ, đám phục vụ bị xua đuổi. Đài phun bằng đá trắng giữa quảng trường về đêm thì đầy dẫy người loã thân lẫn say mềm. Quán rượu được sơ tán như thể do hoả hoạn với sự có mặt của hai người trong nhóm và dân Mỹ thấy mình trong những quán ma với thức uống trên bàn và xì-gà âm ỉ trong gạt tàn đất sét. Ngựa được cưỡi trong nhà lẫn ngoài trời và khi vàng bắt đầu vơi cạn thì các chủ cửa hàng nhận được những tờ khất nợ viết quệch quạc trên giấy hàng thịt bằng thứ tiếng xa lạ cho đống hàng trên kệ. Các cửa hàng dần đóng cửa. Những dòng chữ quệch quạc viết bằng than trên tường đá quét vôi. Được hơn bọn da đỏ. Phố xá chiều tối thì vắng hoe và không còn cuộc nhàn tản và đám thiếu nữ thành phố bị nhốt trong nhà chẳng ai nhìn thấy nữa.
Ngày mười lăm tháng Tám họ lên đường. Một tuần sau một toán chăn gia súc báo rằng họ đã bao vây thị trấn Coyame tám mươi dặm phía đông bắc.
Làng Coyame suốt nhiều năm đã chịu cảnh cống nạp thường niên cho Gomez và đồng bọn. Khi Glanton và người của mình đi ngựa vào trong họ được chào đón như những vị thánh. Đàn bà chạy theo ngựa để chạm vào ủng họ và quà cáp đủ loại dồn vào người họ đến khi từng người đều đi với một đống dưa hấu và bánh ngọt và gà trói chất đầy ngộn phía trước yên. Khi họ rời đi ba ngày sau đường phố vắng hoe, một con chó cũng không theo họ ra tới cổng.
Họ đi về phía đông bắc tới ngay thị trấn Presidio ở biên giới Texas và họ cưỡi ngựa sang sông và nhỏ nước trên đường phố. Một nơi mà Glanton có nguy cơ bị bắt. Hắn đi ngựa một mình ra hoang mạc và dừng ngựa và hắn cùng con ngựa cùng con chó trông ra vùng cây bụi mấp mô và những đồi tiêu cằn cỗi và những ngọn núi và vùng đất bằng phẳng rậm rạp và bình nguyên trải tới xa tắp nơi cách đó bốn trăm dặm phía đông là vợ con mà hắn không còn dịp gặp lại. Bóng hắn dài thêm trước mặt trên dải cát bồi. Hắn không tính đi theo. Hắn cởi nón ra đón gió chiều mát dịu và hồi sau hắn lại đội lên và quành ngựa và quay về.
Họ phiêu bạc khắp vùng biên giới suốt nhiều tuần để săn tìm dấu vết đám Apache. Dàn quân ở bình nguyên họ tiến bước thành sự xoá bỏ liên hồi, các tác nhân tiền định của hiện thực phân rẽ cái thế gian họ gặp phải và bỏ lại những gì đã tồn tại và những gì không thảy đều tan biến trên nền đất sau lưng. Đoàn kỵ binh ma, trắng bệch do bụi mù, vô danh trong cái nóng gập ghềnh tựa châu mai. Trên hết họ hiện ra hoàn toàn ngẫu nhiên, sơ thuỷ, tạm thời, thiếu trật tự. Như các sinh vật khơi dậy từ đá nguyên khối và chịu cảnh vô danh và không cách xa bóng mờ của chính họ để lưu đãng tham tàn và cam phận và lặng câm như loài quỷ rắn lê thân giữa nơi hoang tàn của lục địa Gondwana cái thời khuyết danh pháp và từng thứ là tất cả.
Họ giết thú rừng và họ lấy cái mình cần để làm quân nhu từ các bản làng và trang trại mà họ đi qua. Một buổi tối nọ khi gần tới thị trấn El Paso họ nhìn ra phía bắc nơi lũ Gileno trú đông và họ biết mình sẽ không tới đó. Họ cắm trại đêm đó bên những bể Hueco, một cụm bể nước bằng đá tự nhiên trên hoang mạc. Những tảng đá ở mọi nơi ẩn náu phủ đầy các bức tranh cổ xưa và pháp quan liền đứng giữa chúng sao lại những hình nhất định vào quyển sách đặng mang đi. Chúng vẽ người và thú vật và cảnh săn bắn và có những loài chim kỳ quái và bản đồ bí ẩn và những kiến trúc có tầm nhìn độc đáo tới nỗi đủ biện minh cho mọi nỗi sợ nơi con người và những điều tiềm ẩn nơi y. Những bức khắc này—một số vẫn rực màu—thì có hàng trăm, vậy mà pháp quan vẫn đi tới với niềm tự tin, phác hoạ đích xác những bức y cần. Khi đã xong và khi trời còn sáng, y quay về một gờ đá, ngồi một lúc và nghiên cứu lại tác phẩm. Rồi y đứng lên và cầm một mảnh đá phiến bể y cạo bỏ một trong những hoạ tiết, xoá đi tất cả trừ một khoảng trống trơ trọi mà nó từng xuất hiện. Rồi y cất quyển sách và trở về khu trại.
Buổi sáng họ lên đường tới phía nam. Chẳng nhiều điều được nói, cũng không một lời cãi nhau. Ba ngày nữa họ sẽ gặp một đám da đỏ Tigua hiền lành cắm trại gần con sông và tàn sát từng kẻ một.
Cái đêm trước ngày đó họ cúi mình bên đống lửa nơi nó xì xèo dưới cơn mưa nhẹ hạt và họ làm đạn và cắt giấy như thể số phận của thổ dân đã được đúc thành hình bởi một thế lực nào đó khác. Như thể những vận mệnh đó được tiên báo trên chính tảng đá cho những ai có mắt đọc. Không ai đứng ra bênh vực chúng. Toadvine và đứa trẻ thảo luận và khi lên đường vào buổi trưa ngày kế tiếp họ phi ngựa gần bên Bathcat. Họ đi trong thinh lặng. Tụi con hoang đó có phá ai đâu, Toadvine nói. Tên Xứ Van Diemen nhìn gã. Hắn nhìn các con chữ tím bầm hằn trên trán và mái tóc bết xơ rủ xuống hộp sọ mất tai. Hắn nhìn chuỗi răng vàng đeo trước ngực gã. Họ đi tiếp.
Họ tiếp cận những túp lều xập xệ đó trong ánh nắng dài buổi tà dương, đi xuôi chiều gió dọc phía nam bờ sông nơi họ ngửi được mùi khói củi từ lửa bếp. Khi lũ chó đầu tiên sủa vang Glanton lấy gót thúc ngựa tiến bước và họ ra khỏi rừng và qua rậm cây khô với cổ dài của những con ngựa rướn ra khỏi bụi mờ háo hức như chó săn và đoàn kỵ binh quất ngựa lao tới mặt trời nơi dáng hình đám đàn bà làm việc liền đứng dậy uể oải và cứng đơ thành bóng đen trong giây khắc trước khi chúng kịp tin vào thực tại về cơn quỷ loạn mịt mù đang ập xuống. Chúng đứng ngẩn ngơ, chân trần, vận trang phục vải bông chưa nhuộm ở vùng quê. Chúng nắm chặt vá nấu ăn, đám trẻ con loã thể. Trước đám cháy đầu tiên hàng chục kẻ trong chúng quỵ ngã.
Những kẻ khác bắt đầu bỏ chạy, bọn già vung tay, đám trẻ con lẫm chẫm và chơm chớp trước làn đạn súng ngắn. Vài đứa trai chạy ra cung giương sẵn và bị bắn gục rồi đoàn kỵ binh tràn qua làng dẫm nát lều cỏ và đánh đập chủ lều đang kêu thét.
Đêm khuya hôm đó khi trăng đã lên cao một đám đàn bà từng đi ngược sông phơi cá nay trở về làng và lang thang gào hét qua đống đổ nát. Vài đám lửa còn âm ỉ trên mặt đất và bầy chó lẻn xa khỏi xác chết. Một mụ già quỳ xuống bên những hòn đá ngả đen trước cửa nhà và lấy cành cây thọc vào đống than và thổi bùng lửa nơi tro tàn và bắt đầu dựng lại những cái nồi đổ. Bốn bề quanh mụ là xác chết nằm phơi sọ mất da đầu như po-líp phớt lam ẩm ướt hay trái dưa phát sáng đang nguội dần trên núi bàn nào đó của mặt trăng. Những ngày sắp tới những vệt mỏng màu đen khôn dò là máu trên cát sẽ nứt bể và trôi đi để rồi sau vài lần chìm dâng của mặt trời mọi dấu vết huỷ diệt những kẻ này sẽ bị xoá mất. Cơn gió hoang mạc sẽ phủ lên tàn tích và không còn gì sót lại, không một bóng ma hay người ghi chép, để báo cho kẻ hành hương nào đó đi qua biết được những kẻ kia đã từng sống chết ra sao trên mảnh đất này.
Dân Mỹ tiến vào thị trấn Carrizal cuối chiều ngày thứ hai sau đó, bầy ngựa mang theo các mảnh da đầu hôi hám của da đỏ Tigua. Thị trấn này gần như đã đổ nát. Nhiều căn nhà bỏ không và thành luỹ đang sập xuống lòng đất nơi nó từng được xây cất và đám cư dân dường như cũng lơ đãng do nỗi kinh hoàng xưa cũ. Chúng xem đội nhà buôn dính máu băng qua đường phố bằng ánh mắt u ám nghiêm nghị. Đoàn kỵ binh đó như tới từ một thế gian huyền bí và họ vương lại một vết nhơ kỳ quái như dư ảnh trong con mắt và bầu không họ quấy nhiễu trở nên khác biệt và rùng rợn. Họ men theo những bờ tường đổ nát của nghĩa địa nơi người chết được kê trong các hốc tường và nền đất rải rác xương và sọ và gốm bể như hầm chứa di hài cổ. Đám dân tơi tả khác xuất hiện trên phố xá mờ bụi đằng sau họ và đứng dõi nhìn.
Đêm đó họ cắm trại bên con suối ấm trên đỉnh đồi giữa dấu tích cổ của công trình nề kiểu Tây Ban Nha và họ cởi quần áo và xuống nước như những lễ sinh còn đỉa trắng khổng lồ thì lượn cong trên cát. Khi họ lên đường buổi sáng trời còn mờ tối. Tia sét giăng thành các chuỗi gấp khúc xa tắp ở phía nam, thầm lặng, những ngọn núi rời rạc phô sắc lam trần trụi giữa hư không. Ngày rạng ở miền hoang mạc mù mịt khói nơi đoàn kỵ binh đếm được năm trận bão riêng biệt trên bờ biển trái đất tròn. Họ đi ngựa trên cát tinh khiết và những con ngựa sức cùng lực kiệt nên họ đành xuống yên và dắt chúng, gồng mình leo lên những gò dốc hình rắn nơi gió cuốn đá bọt trắng rơi khỏi đỉnh như lớp bọt trên sóng cồn và mặt cát gờn gợn và mỏng manh và không còn gì khác trừ đám xương nhẵn bóng. Họ dành cả ngày giữa những cồn cát và chiều tối từ những đồi cát thấp cuối cùng xuôi tới bình nguyên bên dưới giữa cây móng mèo và cây thanh thất họ khát khô và phờ phạc cả người lẫn thú. Đại bàng bản địa vút bay kêu thét khỏi xác con la và liệng vòng về phía tây mặt trời khi họ dắt ngựa tiến vào bình nguyên.
Hai đêm sau đóng quân ở một con đèo trên núi họ nhìn thấy được ánh sáng xa xăm của thành phố bên dưới. Họ nép mình dọc theo sống đá phiến nơi khuất gió của khe núi còn ngọn lửa thì lay theo gió và họ xem ngọn đèn nhấp nhoá trên nền xanh thẳm về đêm cách ba mươi dặm. Pháp quan đi ngang mặt họ trong bóng tối. Tia sáng đám lửa bay theo gió. Y an vị ngoài kia giữa các mảnh đá phiến và họ ngồi như các sinh vật từ thời cổ đại nhìn ngắm những ngọn đèn xa xăm lu mờ từng cái một đến khi thành phố trên bình nguyên thu lại thành đốm sáng nhỏ mà có thể là một thân cây rực cháy hoặc một nơi dừng chân biệt lập của lữ khách hoặc có lẽ không tồn tại ngọn lửa nào đáng kể.
Khi họ đi ngựa qua cánh cổng gỗ cao của dinh thống đốc hai tên lính đang đứng đếm số người chợt bước tới tóm dây cương ngựa của Toadvine. Glanton vượt qua gã bên tay phải và đi tiếp. Toadvine dừng lại trên yên.
Glanton!
Đoàn kỵ binh đi lóc cóc trên đường phố. Glanton bên kia cổng ngoái lại nhìn. Hai tên lính nói với Toadvine bằng tiếng Tây Ban Nha và một tên cầm súng hoa cải chĩa vào gã.
Tao có lấy răng của ai đâu, Glanton nói.
Tao bắn chết tươi hai thằng đần này nhá.
Glanton nhổ bọt. Hắn nhìn xuống phố và hắn nhìn sang Toadvine. Rồi hắn xuống yên và dắt ngựa trở về sân trong. Đi thôi, hắn nói. Hắn ngước nhìn Toadvine. Xuống ngựa giùm.
Họ đi ngựa rời khỏi thị trấn dưới sự hộ tống hai ngày sau. Hơn một trăm tên lính dẫn họ dọc đường, vẻ bồn chồn với đủ kiểu áo quần và vũ khí, giật ngựa và đá chúng vượt sông cạn nơi bầy ngựa Mỹ dừng chân uống nước. Ở những đồi gần chân núi phía trên cầu máng họ ghì cương sang một bên và dân Mỹ hàng một đi qua và len lỏi giữa đá tảng và nô-pan và khuất dần trong bóng đen và biến mất.
Họ tây tiến vào vùng núi. Họ đi qua những ngôi làng nhỏ ngả nón chào đám dân mà họ sẽ giết trước khi hết tháng. Những bản làng như thị trấn lâm vào dịch bệnh với hoa màu thối rữa trên đồng và gia súc nào không bị bắt bởi lũ da đỏ thì mặc sức lang thang và không ai chăn dắt hay chăm sóc và nhiều làng mạc gần như vắng đám dân nam nơi đàn bà trẻ con rụt mình sợ hãi trong chỗ ở xập xệ lắng tai nghe đến khi tiếng vó cuối cùng tắt lịm đằng xa.
Tại thị trấn Nacori có một quán rượu Mễ và ở đây nhóm người xuống ngựa và chen lấn qua cửa và chiếm bàn. Tobin tình nguyện canh bầy ngựa. Gã đứng quan sát dọc con phố. Không ai để ý gã. Đám này đã quen thuộc với dân Mỹ, những đoàn người bụi bặm lề mề hàng tháng trời rời khỏi nước mình và chực điên vì tội ác họ gây nên giữa vùng hoang rộng bao la và ngập máu, tranh đoạt thức ăn và thịt thà hay thoả ý đồ cưỡng hiếp đám con gái mắt tròn ở nước đó. Nay đã gần một tiếng quá trưa và một số công nhân lẫn chủ tiệm qua đường tới quán rượu. Khi chúng ngang qua con ngựa của Glanton thì con chó của Glanton chợt dựng lông. Chúng né sang bên và đi tiếp. Cùng lúc đó một phái đoàn chó làng đã nhấc bước băng qua quảng trường, năm, sáu con, mắt dán vào con chó của Glanton. Khi chúng làm vậy một tên tung hứng đầu đoàn tang lễ quẹo vào góc phố và lấy một trái pháo hoa ra khỏi một lô dưới cánh tay gã dí vào điếu xì-gà nhỏ trên môi và ném nó vào quảng trường nơi nó phát nổ. Lũ chó giật mình bỏ chạy trừ hai con vẫn đi tiếp ra đường. Giữa bầy ngựa Mễ buộc vào thanh gỗ trước quán rượu vài con đá hậu và số còn lại thì lẩn vẩn vẻ lo lắng. Con chó của Glanton không rời mắt khỏi đám người bước tới cửa. Không con ngựa Mỹ nào vểnh tai. Cặp chó từng băng qua trước đám tang nay tránh khỏi lũ ngựa chân đá và tiến tới quán rượu. Hai trái pháo nữa nổ tung trên đường phố và đám còn lại đưa tang đã xuất hiện, một tên kéo vĩ cầm và một tên thổi coóc-nê dẫn đầu kèm giai điệu dồn dập và sôi nổi. Lũ chó mắc kẹt giữa đám tang và bầy thú của toán đánh thuê và chúng dừng lại và cụp tai và nhấc bước sang bên và chạy. Sau rốt chúng lao qua đường phía sau những kẻ khiêng quan tài. Những chi tiết này lẽ ra đã có ích hơn cho đám công nhân vào quán rượu. Chúng xoay thân và đứng dựa cửa tay ôm nón vào ngực. Đám mang quan tài ngang qua vác một chiếc cáng và những người chứng kiến có thể thấy là trong bộ váy tang giữa các bông hoa gương mặt xám một thiếu nữ xô đẩy cứng nhắc. Phía sau là quan tài của mình, làm bằng da sống bôi muội đèn, khiêng bởi những kẻ vận đồ màu tối và trông như chiếc thuyền da thô kệch. Phía sau tiến tới là một nhóm đưa tang, vài gã đàn ông đang uống rượu, những mụ già choàng khăn đen bám bụi vừa khóc vừa đi qua các lõm đường và đám trẻ con cầm hoa nhìn bẽn lẽn những khán giả trên đường phố khi chúng đi qua.
Bên trong quán rượu dân Mỹ chưa kịp ngồi yên chỗ thì một tiếng làu bàu sỉ nhục từ một bàn gần bên khiến ba bốn người bật dậy. Đứa trẻ nói với cả bàn bằng tiếng Tây Ban Nha dở tệ và hỏi thằng nào trong đám say cáu kỉnh kia đã mở miệng. Trước khi ai kịp nhận lỗi thì trái pháo đầu tiên của đám tang đã nổ trên đường phố như lời kể và toàn bộ dân Mỹ lao ra cửa. Một kẻ say rượu bên bàn đứng dậy và lảo đảo đuổi theo họ. Bạn bè hắn kêu với nhưng hắn xua tay.
John Dorsey và Henderson Smith, hai chàng trai dân Missouri, là những người đầu tiên bước ra đường. Theo sau có Charlie Brown và pháp quan. Pháp quan nhìn thấy được qua đầu họ và y giơ một tay cho người phía sau. Chiếc cáng vừa mới ngang qua. Tên kéo vĩ cầm cùng tên thổi coóc-nê khẽ cúi chào nhau và bước chân chúng gợi lên phong cách quân đội của bản nhạc đang chơi. Đó là đám tang, pháp quan nói. Y đang nói thì kẻ say cầm dao ngả nghiêng gần cửa liền đâm thấu lưng một người tên Grimley. Không ai nhìn thấy ngoài pháp quan. Grimley tì bàn tay lên ngạch cửa gỗ thô. Tiêu rồi, gã nói. Pháp quan rút cây súng ngắn ở thắt lưng và chĩa lên trên đầu người và bắn kẻ say vào giữa trán.
Dân Mỹ ngoài cửa hầu như đối diện nòng cây súng ngắn của pháp quan lúc y bóp cò và đa số họ đều lao xuống đất. Dorsey lăn người thoát ra và đứng dậy và tông trúng đám công nhân đang chào tiễn biệt đoàn tang lễ. Chúng đang đội nón khi pháp quan nổ súng. Kẻ chết té ngửa vào quán rượu, máu túa ra khỏi đầu. Khi Grimley quay lại họ nhìn thấy được cán gỗ con dao thòi ra khỏi cái áo bê bết máu. 
Những con dao khác đã xuất hiện. Dorsey đang vật lộn với bọn Mễ và Henderson Smith rút ra con dao bu-qui và chém gần đứt cánh tay một kẻ và kẻ đó đứng yên với máu động mạch túa ra kẽ tay khi hắn đang cố bịt vết thương. Pháp quan đỡ Dorsey dậy và bọn Mễ nhử đòn và cầm dao đâm họ. Phía trong vang dội liên hồi tiếng súng và khung cửa bắt đầu mờ khói. Pháp quan xoay thân ở cửa và bước qua xác người nằm la liệt. Bên trong quán những cây súng ngắn gầm lên không dứt và tầm hai mươi tên Mễ từng có mặt trong phòng nay nằm chết khắp nơi, bị bắn tan xác giữa bàn ghế lật đổ bắn ra nhiều mảnh gỗ vụn và tường bùn chi chít lỗ đạn lớn hình nón. Đám còn sống đi tới nắng ngày nơi ô cửa và kẻ đầu tiên trong đám chạm mặt pháp quan và vung dao chém y. Tuy nhiên pháp quan lại như mèo và y né gã đàn ông và chộp lấy cánh tay gã và bẻ nó và tóm đầu gã nhấc bổng. Y nhấn gã vào tường và cười mỉm nhưng rồi gã bắt đầu chảy máu ra khỏi tai và máu chảy xuống kẽ tay pháp quan và khắp bàn tay y và khi pháp quan thả ra thì đầu gã không ổn và gã trượt xuống sàn và chẳng đứng lên được nữa. Trong khi đó những kẻ phía sau gã thì đã trúng cơn mưa đạn ác liệt và ô cửa chất đầy kẻ chết lẫn thoi thóp rồi căn phòng im phăng phắc đáng sợ. Pháp quan đứng dựa lưng vào tường. Khói lan toả như sương mù và những dáng thân mù mờ đứng bất động. Ở giữa phòng Toadvine và đứa trẻ đứng đâu lưng cầm súng ngắn như đấu sĩ. Pháp quan bước tới cửa và hét qua đống xác chết về phía cựu linh mục nơi gã đứng giữa bầy ngựa tay cầm súng ngắn.
Đám bỏ trốn kìa, linh mục, đám bỏ trốn.
Họ lẽ ra đã không bắn người giữa một thị trấn lớn như vậy nhưng chẳng còn cách nào khác. Ba kẻ đang chạy xuống phố và hai kẻ nữa đang chạy qua quảng trường. Ngoài đó không còn ai khác. Tobin bước ra giữa hai con ngựa và giơ cây súng ngắn lớn bằng hai tay và bóp cò, cây súng giật mạnh và hạ xuống và đám tháo chạy ngả nghiêng rồi té chúi đầu. Gã bắn hai kẻ ở quảng trường và chĩa súng bắn gục những kẻ chạy trên phố. Kẻ cuối cùng gục xuống ở một ô cửa và Tobin xoay thân rút cây súng ngắn khác ra khỏi thắt lưng và bước sang phía bên kia con ngựa và nhìn con phố và quảng trường để tìm bất cứ ai cử động ở đó hoặc giữa các toà nhà. Pháp quan lùi bước khỏi ô cửa vào quán rượu nơi dân Mỹ đứng nhìn nhau và nhìn xác chết với vẻ kinh ngạc. Họ nhìn Glanton. Mắt hắn quét qua căn phòng mờ khói. Nón hắn nằm trên bàn. Hắn bước tới và cầm nó và đội lên đầu và sửa lại cho ngay. Hắn nhìn quanh. Họ đang nạp đạn vào buồng rỗng những cây súng ngắn. Tóc kìa, tụi bây, hắn nói. Việc này chưa xong đâu.
Khi họ rời quán rượu mười phút sau thì đường phố vắng tanh. Họ đã lột da đầu toàn bộ xác người chết, nằm thượt trên nền đất sét nén nay hoá thành bùn màu rượu vang. Có hai mươi tám tên Mễ trong quán và tám tên nữa trên đường phố bao gồm năm tên mà cựu linh mục bắn trúng. Họ lên ngựa. Grimley ngồi gục sang bên dựa vào bức tường bùn của toà nhà. Gã không ngẩng đầu. Gã đang cầm cây súng ngắn trên đùi và nhìn về phía cuối đường và họ quành ngựa và khởi hành dọc theo phía bắc quảng trường và biến mất.
Đó là ba mươi phút trước khi có người trên đường phố. Chúng nói chuyện thì thào. Khi chúng đi tới quán rượu một kẻ từ bên trong xuất hiện ở cửa như bóng ma đổ máu. Hắn bị lột da đầu và máu chảy xuống hai mắt và hắn đang bịt một lỗ lớn trên ngực nơi bọt hồng sùi ra xẹp vào. Một cư dân đặt tay lên vai hắn.
Bây đi đâu vậy?
Về nhà, là lời hắn.
Thị trấn tiếp theo họ tới mất hai ngày đường sâu trong các dãy núi mẹ. Họ mãi không biết tên nó là gì. Một cụm những túp lều bùn dựng trên một cao nguyên trơ trọi. Khi họ đi ngựa vào trong đám dân chạy tứ tán trước mặt họ như thú rừng bị săn đuổi. Tiếng chúng kêu la với nhau hoặc có lẽ sự yếu đuối tỏ rõ trên mặt chúng dường như đã khơi dậy điều gì đó nơi Glanton. Brown quan sát hắn. Gã thúc ngựa tới trước và rút súng ngắn và ngôi làng bình yên chợt bị đàn áp thành một bãi hỗn loạn. Nhiều kẻ đã chạy tới nhà thờ nơi chúng quỳ gối ôm chặt bàn cúng và từ nơi trú ẩn này chúng vừa bị lôi từng đứa một vừa la hét và từng đứa một bị giết và bị lột da đầu trên sàn nhà thờ. Khi đoàn kỵ binh ngang qua chính ngôi làng này bốn ngày sau xác chết vẫn nằm trên đường phố và kền kền lẫn heo đang ăn chúng. Những con ăn xác thầm dõi mắt còn nhóm người thì đi qua như ảnh thừa trong giấc mộng. Khi người cuối cùng mất dạng chúng lại cúi đầu mà rỉa.
Họ đi tiếp xuyên qua vùng núi không dừng nghỉ. Họ men theo đường mòn hẹp qua cánh rừng thông đen cả ngày lẫn đêm và trong im lặng trừ tiếng kẽo kẹt của yên cương và phì phò của bầy ngựa. Một mảnh trăng mỏng nằm lật úp trên những đỉnh nhấp nhô. Họ đi ngựa xuống một thị trấn trên núi trước khi trời tỏ nơi không có đèn lẫn lính canh lẫn chó. Trong ánh rạng đông mờ xám họ ngồi dọc theo vách tường chờ sưởi nắng. Con gà trống gáy vang. Một cánh cửa đóng sầm. Một mụ già đi xuôi đường nhỏ qua vách đất của chuồng heo xuyên màn sương vai gánh một cặp chum. Họ đứng dậy. Trời lạnh và hơi thở của họ lan toả. Họ tháo những cây chốt bãi quây và dắt ngựa ra ngoài. Họ đi ngựa ra đường phố. Họ dừng lại. Những con thú bước ngang và dẫm vó trong cái lạnh. Glanton đã ghì cương và rút cây súng ngắn.
Một đám quân cưỡi ngựa đi ra từ đằng sau bức tường ở đầu phía bắc làng và quẹo vào đường phố. Chúng đội nón sa-cô chóp cao gắn tấm kim loại và lông ngựa và chúng mang áo khoác màu lục viền đỏ tươi và thắt lưng đỏ tươi và chúng mang giáo và súng hoả mai và ngựa chúng cưỡi được trang hoàng lộng lẫy. Chúng tiến vào đường phố bước ngang và nhảy dựng, đám lính ngựa ngồi trên yên, tất thảy chúng đều là trai trẻ khôi ngô. Nhóm người chờ lệnh Glanton. Hắn tra súng ngắn vào bao và rút cây súng trường. Tên chỉ huy đám quân giáo đã giương sẵn kiếm ngăn chặn họ. Một khắc sau con đường hẹp ngập tràn khói súng trường và hàng chục tên lính nằm chết lẫn thoi thóp trên nền đất. Bầy ngựa chồm lên và hí vang và ngửa đè lên nhau và nhiều kẻ văng khỏi yên và đứng lên gồng mình giữ ngựa. Loạt đạn thứ hai xé tan hàng ngũ chúng. Chúng té ngã trong hỗn loạn. Dân Mỹ rút súng ngắn và lấy chân thúc ngựa phóng tới trên đường phố.
Tên chỉ huy người Mễ chảy máu do đạn găm trúng ngực và gã vẫn đứng trên bàn đạp nhằm đỡ đòn tấn công bằng thanh kiếm. Glanton bắn ngay đầu gã và lấy chân đạp gã văng khỏi ngựa và bắn trúng liên tiếp ba kẻ phía sau. Một tên lính dưới đất nhặt được cây giáo và lao tới hắn và một người trong đoàn kỵ binh cúi mình tránh khỏi cuộc hỗn chiến và cứa cổ nó và bỏ đi. Trong không khí ẩm buổi sáng làn khói lưu huỳnh bao phủ đường phố như một tấm màn xám và đám quân giáo rực màu ngã nằm dưới lũ ngựa giữa màn sương nguy khốn như đám lính bị tàn sát trong giấc mộng mắt mở to và cứng đờ và im tiếng.
Vài tên lính hậu đã kịp quành ngựa và bỏ chạy ngược đường phố và dân Mỹ bắn trả bằng nòng súng ngắn vào lũ ngựa không người và lũ ngựa lao tới và xô nhau với bàn đạp vung vẩy và chúng rống lên bằng cái mõm dài ngoằng và dẫm đạp xác chết. Họ đánh chúng và giục ngựa của mình chạy qua và ra đường phố tới nơi nó hẹp dần và quẹo lên núi và họ bắn vào đám quân giáo đang thoái lui trên đường mòn lạo xạo tiếng những viên đá nhỏ.
Glanton phái một toán năm người truy đuổi và hắn và pháp quan và Bathcat quay về. Họ gặp những người còn lại trong nhóm đang tiến lên và họ quay về và họ đi xuống và lột đồ xác chết nằm trên đường phố như đám nhạc công bỏ mạng và họ đập nát súng hoả mai vào tường nhà và bẻ gãy kiếm và giáo. Khi họ lên đường họ gặp năm trinh sát đang trở về. Đám quân giáo đã bỏ đường mòn và tản ra vào rừng. Hai đêm sau cắm trại trên ngọn núi chơ vơ hướng ra bình nguyên rộng lớn ở trung tâm họ nhìn thấy được một đốm sáng trên miền hoang mạc như ảnh phản chiếu một ngôi sao trên hồ nước đen thăm thẳm.
Họ mở cuộc thảo luận. Trên bàn đá thô ráp sáng lên đám lửa hung ác xoáy vặn và cuộn tròn và họ quan sát bóng tối mịt mùng bên dưới nơi nó trải rộng như gương mặt bị chia cắt của thế gian.
Ông nghĩ tụi nó đi được bao xa rồi, là lời của Glanton.
Holden lắc đầu. Tụi nó hơn ta nửa ngày đường. Chưa tới mười hai, mười bốn tên. Tụi nó không cử ai đi trước đâu.
Từ đây tới thành phố Chihuahua mất bao lâu?
Bốn ngày. Hoặc là ba. Davy đâu rồi?
Glanton ngoái đầu. Tới Chihuahua mất bao lâu, David?
Brown đứng xây lưng về phía đám lửa. Gã gật đầu. Tụi nó thì cỡ ba ngày nữa là tới nơi rồi.
Mày nghĩ là đuổi theo kịp không?
Chả biết nữa. Còn tuỳ là tụi nó có biết ta đuổi theo không.
Glanton quay lại và nhổ bọt vào đám lửa. Pháp quan giơ cánh tay tái nhợt trụi lông và dùng các ngón mò mẫm thứ gì đó dưới nách. Trời chưa sáng mà rời được khỏi ngọn núi này, y nói, ta tin là sẽ đuổi kịp tụi nó. Còn không thì nên tới Sonora.
Hình như chúng từ Sonora tới.
Vậy thì đi tìm tụi nó thôi.
Đem được mớ da đầu này tới Ures nữa.
Ngọn lửa là là mặt đất, rồi lại bùng lên. Đi tìm tụi nó thôi, là lời pháp quan.
Họ đi ngựa ra bình nguyên lúc rạng đông như lời pháp quan nói và đêm đó họ nhìn thấy được đám lửa của quân Mễ phản chiếu trên bầu trời phía đông ở bên kia đường cong mặt đất. Cả ngày hôm sau họ đi ngựa và cả đêm cũng vậy, giật giật và lảo đảo như phái đoàn bị liệt khi họ ngủ trên yên. Sáng ngày thứ ba họ nhìn thấy được đám quân phía trước trên bình nguyên thành bóng đen ngược nắng và chiều tối họ đếm được số quân đang gồng mình giữa vùng mỏ quặng tan hoang. Khi mặt trời dâng những bức tường thành phố hiện lên nhợt nhạt và mỏng manh dưới ánh ngày dần tỏ hai mươi dặm phía đông. Họ cưỡi ngựa. Đám quân giáo dàn trải dọc theo con đường cách họ vài dặm phía nam. Không lý do gì chúng dừng lại và cũng không hy vọng gì hơn việc đi ngựa vậy mà chúng vẫn đi tiếp và dân Mỹ cho ngựa lao tới một lần nữa.
Một hồi lâu họ cùng chúng đi ngựa gần như song song tới cổng thành phố, cả hai phe đều dính máu và tơi tả, ngựa vấp chân. Glanton kêu chúng đầu hàng nhưng chúng vẫn đi tiếp. Hắn rút cây súng trường. Chúng rề rà trên con lộ như những vật câm lặng. Hắn dừng con ngựa và nó đứng giạng chân và hai bên sườn phồng phập và hắn chĩa súng và bóp cò.
Phần đông chúng cũng chẳng còn vũ khí. Có chín tên và chúng dừng lại và xoay thân rồi chúng lao qua vùng đất thưa thớt đá tảng và bụi cây và bị bắn gục trong tầm một phút.
Những con ngựa bị bắt và lùa trở ra con lộ và yên lẫn dây cương đều bị cắt bỏ. Những xác chết bị lột trần và đồng phục lẫn vũ khí đều bị đốt cùng với yên cương và các đồ dùng khác và dân Mỹ đào một huyệt trên lộ và đưa xác vào ngôi mộ chung, những cái xác loã thân đầy thương tích như nạn nhân sau cuộc mổ thí nghiệm nằm trong huyệt ngẩn ngơ nhìn không thấy bầu trời hoang mạc khi đất lấp lên chúng. Họ cho ngựa dẫm lên chỗ đất đến khi nó giống như con lộ cũ và khoá súng và lưỡi kiếm và vòng đai yên được lôi ra khỏi tro tàn và đem chôn ở một nơi riêng và lũ ngựa không người bị lùa vào hoang mạc và chiều tối cơn gió cuốn bay tro tàn và gió thổi trong đêm và bùng lên các mẩu than cuối còn âm ỉ và xua các tia loé cuối cùng yếu ớt mau tàn như đánh lửa giữa toàn thể u ám của thế gian.
Họ vào thành phố tiều tuỵ và dơ dáy và nặc mùi máu của đám cư dân họ từng thề sẽ bảo vệ. Da đầu của đám dân làng bị giết mắc trên cửa sổ nhà thống đốc và toán du kích được trả tiền từ kho bạc sắp cạn và Hội bị giải thể và tiền thưởng bị huỷ bỏ. Chưa đầy một tuần khi họ rời thành phố sẽ có khoản tiền tám ngàn pê-xô cho cái đầu Glanton. Họ đi ngựa nam tiến như các đoàn hướng tới El Paso nhưng trước khi khuất khỏi thành phố họ đã quành những con ngựa bi thảm về phía tây và phi nước đại trong niềm đắm say và mên mến tới ánh đỏ rực tàn ngày, tới những vùng đất chiều muộn và sự xa xôi quỷ loạn của mặt trời.
(hết chương 13)