Giới thiệu

Trước khi chuyên tâm với nghề viết văn, tác gia Mishima Yukio từng có một khoảng thời gian làm công chức tại bộ Đại tàng 大蔵省(おおくらしょう) (“đại tàng” là cái kho lớn, nay là bộ Tài chính) trong chưa đầy một năm. Trước đó, Mishima đã bắt đầu soạn tả từ rất sớm: khoảng 12 tuổi đã bắt đầu viết truyện và thơ haiku, waka, rồi dần chuyển sang văn xuôi. Năm 16 tuổi (1941), khi mới khoảng 16 tuổi, ông viết truyện 花ざかりの森 (Khu rừng mùa hoa nở), từ lúc này ông bắt đầu dùng bút danh 三島由紀夫 / Mishima Yukio. \
Khi viết hồi tưởng về hồi vị thành niên vào năm 1955, ông có nhắc tới nghề công chức như là một ước muốn của cha mình:
“Khi cơn sốt cuối cùng cũng hạ xuống, và tôi đang dưỡng bệnh tại nhà một người họ hàng ở Gōtokuji, thì chiếu thư lớn tuyên bố chấm dứt chiến tranh được ban xuống. Cha tôi, trong khí thế lúc ấy, đã nói một câu rất thấu hiểu rằng:
‘Từ nay sẽ là thời đại của nghệ sĩ, nên con cứ trở thành tiểu thuyết gia cũng được.’
Nhưng vài năm sau, ông lại quay về làm một ông bố già cố chấp như cũ, và tôi bị bắt phải trở thành công chức.”
Đoạn hồi tưởng trên được đăng trên báo Mainichi Shimbun, với tiêu đề là 八月十五日前後 (Khoảng ngày 15 tháng 8).
Hồi cuối Thế chiến 2, Mishima cũng phải tham gia chế độ cần lao 勤労動員, tức huy động học sinh, sinh viên đi lao động phục vụ chiến tranh: làm ở nhà máy, đào hào, vận chuyển, phụ việc quân sự hoặc sản xuất. Mishima có bị gọi khám nghĩa vụ quân sự năm 1945, nhưng lúc khám ông bị bác sĩ quân đội chẩn đoán là không đủ sức khỏe, được ghi là (nghi bị) lao phổi, nên bị cho về, không nhập ngũ.
Cùng bài báo trên:
"Vào giai đoạn cuối chiến tranh, tôi hầu như đã sống qua ngày bằng cách giả bệnh. Bản thân tôi cũng tự tin rằng tim hay đâu đó trong người mình thật sự có vấn đề.
Vì vậy, đến cuối chiến tranh, cuối cùng tôi đã đạt tới mức được miễn lao động. Ngay cả ở nơi lao động động viên của trường đại học gần Atsugi, ban đầu ngày nào tôi cũng bị bắt đào hố, nhưng tôi mang giấy chẩn đoán của bác sĩ điều trị ở Tokyo đến, rồi khéo léo xin được chuyển sang làm việc ở thư viện. "
Toàn văn bài báo trên được xuất bản trong tổng tập phê bình văn học và ký sự đăng báo của Mishima có tên là 戦後とは何か (Hậu chiến là gì?), xuất bản bởi Trung ương công luận tân xã.

Bài báo: "Khoảng ngày 15 tháng 8, năm Chiêu Hòa thứ 30 (1955)"

Vào giai đoạn cuối chiến tranh, tôi hầu như đã sống qua ngày bằng cách giả bệnh. Bản thân tôi cũng tự tin rằng tim hay đâu đó trong người mình thật sự có vấn đề.
Vì vậy, đến cuối chiến tranh, cuối cùng tôi đã đạt tới mức được miễn lao động. Ngay cả ở nơi lao động động viên của trường đại học gần Atsugi, ban đầu ngày nào tôi cũng bị bắt đào hố, nhưng tôi mang giấy chẩn đoán của bác sĩ điều trị ở Tokyo đến, rồi khéo léo xin được chuyển sang làm việc ở thư viện. (Tôi tuyệt đối không nói những chuyện này để khoe khoang.)
Thư viện ấy là nơi người ta xếp những quyển sách liên quan đến luật học được chuyển từ trường đại học đến vào trong một căn nhà tạm kiểu barrack, nhằm phục vụ việc học tập của các sinh viên bị động viên lao động. Nhưng rất ít sinh viên còn đến tận đây để học, nên gần như chẳng có khách nào. Tôi cùng với người bạn làm chung – một sinh viên mắc bệnh lao phổi, mà lần này là bệnh thật – cứ ngày ngày sống nhàn nhã, lười biếng như vậy. Ở một góc căn nhà tạm ấy có một căn phòng nhỏ trông hơi giống lớp học. Vốn là kẻ hay mơ mộng, giữa lúc chiến cuộc đang khốc liệt, tôi còn ôm mộng rằng một ngày nào đó sẽ diễn vở kịch dịch “Dưới đáy” hay đại loại như vậy trong căn phòng ấy, như một vở kịch sinh viên.
Đó là một ngày cuối tháng bảy, nóng bức và lặng ngắt. Các bạn học của tôi đã đi về phía nhà máy, còn tôi và người bạn kia thì chống khuỷu tay bên cửa sổ, lơ đãng ngắm nhìn cánh đồng mùa hạ trải rộng trước mắt. Khi ấy, từ bên dưới cửa sổ, tôi nghe thấy một cuộc đối thoại như sau:
“Nghe nói chiến tranh sắp kết thúc rồi đấy.”
“Thế à.”
“Nghe nói Mỹ đầu hàng vô điều kiện rồi.”
“À, vậy là Nhật thắng rồi nhỉ.”
Cuộc đối thoại ấy thật sự vô cảm, cứ như họ đang bình phẩm một ván cờ tướng chơi trên ghế ngoài hiên vậy.
……Không hiểu sao, tôi bỗng trải qua một cảm giác kỳ lạ, như thể mình đột ngột rơi xuống dưới lòng đất. Trước mắt tôi là cánh đồng mùa hạ. Xa xa có thể nhìn thấy doanh trại. Phía trên khu rừng, những đám mây mùa hạ lặng lẽ nổi lên.
……Nếu thật sự lúc này chiến tranh đã kết thúc, thì cả khung cảnh này cũng sẽ đột nhiên đổi khác về ý nghĩa. Không phải là một nơi nào đó sẽ thay đổi ra sao, nhưng cánh đồng mùa hạ, khu rừng và những đám mây ấy sẽ trở thành cánh đồng mùa hạ, khu rừng và đám mây của một thế giới mà chúng tôi chưa từng trải qua. Trong khoảnh khắc ấy, tôi có cảm giác như mình vừa thoáng nhìn thấy một thế giới cảm giác khác, một thứ gì đó tưởng chừng chỉ còn chút nữa là có thể chạm tay tới. “T-thật không nhỉ?” tôi nói.
“Hừm, vớ vẩn.”
Người bạn đồng hành có đầu óc lý trí của tôi chỉ cười nhạt một câu rồi gạt phắt đi.
―― Vài ngày sau đó, tôi nằm liệt giường vì sốt và đau đầu không rõ nguyên nhân. Bệnh ngày càng nặng, nên tôi tự chẩn đoán mình bị thương hàn rồi trở về nhà. Vì tin vào công hiệu đặc biệt của cao mơ muối, tôi cứ cách một tiếng lại liếm một thìa lớn thứ chua loét ấy.
Khi cơn sốt cuối cùng cũng hạ xuống, và tôi đang dưỡng bệnh tại nhà một người họ hàng ở Gōtokuji, thì chiếu thư lớn tuyên bố chấm dứt chiến tranh được ban xuống. Cha tôi, trong khí thế lúc ấy, đã nói một câu rất thấu hiểu rằng:
“Từ nay sẽ là thời đại của nghệ sĩ, nên con cứ trở thành tiểu thuyết gia cũng được.”
Nhưng vài năm sau, ông lại quay về làm một ông bố già cố chấp như cũ, và tôi bị bắt phải trở thành công chức.
Nghe nói vào lúc chiến tranh kết thúc, em gái tôi đã cùng bạn bè đến trước hoàng cung để khóc, nhưng những giọt nước mắt ấy rất xa với tâm trạng của tôi khi đó. Nghĩ đến cuộc phiêu lưu trong một thế giới cảm giác mới mẻ, chưa từng biết đến, lòng tôi chỉ thấy nôn nóng, bồn chồn.
(“Mainichi Shimbun”, ngày 14 tháng 8 năm Chiêu Hòa 30)