Đại chiến lược trong Chiến tranh Lạnh
Bài viết được dịch từ Chương 1 (Grand strategies in the Cold War) của cuốn sách The Cambridge History of the Cold War volume 2.
John Lewis Gaddis
Chiến tranh đã tồn tại từ rất lâu. Các đại chiến lược dùng để tiến hành chiến tranh – nếu hiểu “đại chiến lược” là việc tính toán sử dụng những phương tiện sẵn có nhằm theo đuổi những mục tiêu mong muốn – có lẽ cũng đã xuất hiện gần như lâu tương đương; tuy nhiên, tư liệu ghi chép về chúng chỉ có thể truy nguyên về thế kỷ V trước Công nguyên, khi Herodotus và Thucydides bắt đầu ghi chép một cách có hệ thống cách thức các cuộc đại chiến của thời đại họ đã được tiến hành như thế nào. Dẫu vậy, trong trường ca vĩ đại nhất của mọi trường ca, chúng ta vẫn có những ký ức đã được thần thoại hóa về một cuộc chiến diễn ra từ nhiều thế kỷ trước đó, mà dường như không một người tham gia nào biết đến chữ viết. Nhưng họ thì có hiểu sự cần thiết phải gắn kết mục tiêu với phương tiện: “Hãy cùng nhau suy tính,” Homer để cho Nestor giàu kinh nghiệm khuyên nhủ quân Achaeans vào một thời khắc tuyệt vọng trong cuộc vây hãm Troy kéo dài, “nếu chiến lược còn có ích.’”¹
Người Hy Lạp cổ đại không tạo ra sự phân biệt rạch ròi giữa chiến tranh và hòa bình. Chiến tranh có thể kéo dài nhiều năm, thậm chí hàng thập kỷ; tuy nhiên, chúng cũng có thể tạm ngừng để cho việc gieo trồng và thu hoạch mùa màng, hoặc để tổ chức các kỳ đại hội thể thao. Hệ thống quốc gia – nhà nước hiện đại, hình thành từ thế kỷ XVII, được thiết kế nhằm xác lập những ranh giới vốn không tồn tại trong thời đại của Homer, Herodotus và Thucydides: các quốc gia hoặc ở trong tình trạng chiến tranh, hoặc là không. Nhưng những ranh giới đó lại một lần nữa trở nên mờ nhạt trong Chiến tranh Lạnh, một cuộc đấu tranh kéo dài lâu hơn tổng thời gian của các cuộc chiến thành Troy, chiến tranh Ba Tư và chiến tranh Peloponnesus cộng lại. Dĩ nhiên, mức độ đặt cược khi ấy cao hơn. Phạm vi địa lý của sự cạnh tranh cũng rộng lớn hơn rất nhiều. Tuy nhiên, xét trên những phương diện căn bản, Chiến tranh Lạnh lại giống các cuộc chiến của Hy Lạp cổ đại hơn là các cuộc chiến của thế kỷ XVIII, XIX và đầu thế kỷ XX.
Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi các đại chiến lược chi phối nghệ thuật trị quốc trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Chúng không còn có thể chỉ được triển khai khi các chiến dịch quân sự bắt đầu, rồi rút lui khi các hành động thù địch chấm dứt. Các chiến lược ấy cũng không thể đứng yên bất biến, bởi sự kết hợp đặc thù của Chiến tranh Lạnh giữa mức độ bạo lực hạn chế và thời gian kéo dài đòi hỏi phải phản ứng không chỉ trước hành động của đối phương, mà còn trước những ràng buộc về nguồn lực, những đòi hỏi từ các nhóm cử tri, và sự ngoan cố dai dẳng của thực tại mỗi khi lý thuyết được đem áp dụng. Do đó, các đại chiến lược của Hoa Kỳ, Liên Xô và các đồng minh của họ đã tiến hóa trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau, giống như các loài cạnh tranh trong cùng một hệ sinh thái chung.
Ở đây, một người Hy Lạp cổ đại khác lại cung cấp cho ta một kim chỉ nam. Bộ lịch sử vĩ đại của Thucydides về Chiến tranh Peloponnese dành sự chú ý ngang nhau cho các chiến lược của tất cả các bên tham chiến, cho những cách thức mà mỗi bên đã định hình bên kia, và cho việc không bên nào thoát khỏi những điều bất ngờ. Đáng chú ý hơn nữa, Thucydides viết tác phẩm của mình với độc giả tương lai trong tâm trí: ông viết cho “những người tìm hiểu mong muốn có được tri thức chính xác về quá khứ như một sự trợ giúp để hiểu tương lai — mà trong tiến trình của các sự việc nhân loại, nếu không phản chiếu thì chí ít cũng sẽ tương tự.”²
Đại chiến lược của Stalin

Iosif Vissarionovich Stalin
Trước khi có thể hình thành một đại chiến lược, trước hết phải tồn tại nhu cầu đối với nó: một cuộc xung đột vượt ra ngoài những tranh chấp thông thường của quan hệ quốc tế, vốn có thể được giải quyết bằng ngoại giao. Bởi vì chúng ta biết rằng Chiến tranh Lạnh diễn ra sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nên rất dễ cho rằng các nhà lãnh đạo của liên minh chiến thắng khi ấy cũng đã nhận thức được điều này và đang chuẩn bị cho cuộc đấu tranh ở phía trước. Thực tế không phải như vậy. Quả thật, khó có thể nói rằng bất kỳ nhà lãnh đạo nào trong số đó, trước năm 1945, đã dự đoán được một “chiến tranh lạnh” theo cách mà chúng ta hiểu thuật ngữ này ngày nay – ngoại trừ Iosif Stalin.
Chúng ta không thường nghĩ về Stalin như một nhà đại chiến lược, nhưng có lẽ chúng ta nên làm như vậy. Ông vươn lên vị trí cao nhất trong hệ thống quyền lực Điện Kremlin bằng cách có hệ thống loại bỏ các đối thủ đã đánh giá thấp ông. Ông biến Liên Xô từ một quốc gia nông nghiệp thành một cường quốc công nghiệp. Sau đó, ông dẫn dắt nhà nước ấy đi từ một thất bại quân sự thảm khốc đến một chiến thắng áp đảo chỉ trong vòng chưa đầy bốn năm. Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Stalin đã nắm quyền gần hai thập kỷ: trong số các nhà lãnh đạo thời hậu chiến, chỉ mình ông có đủ thời gian, kinh nghiệm và quyền lực không bị thách thức để định hình một kế hoạch dài hạn cho tương lai.
Chiến lược của Stalin có nhiều mục tiêu, trong đó mục tiêu đầu tiên là tiếp tục đẩy nhanh tiến trình lịch sử mà người tiền nhiệm của ông, Vladimir Ilich Lenin, đã khởi xướng. Karl Marx xác định xung đột giai cấp là cơ chế khiến chủ nghĩa tư bản nhường chỗ cho chủ nghĩa xã hội, rồi tiến tới chủ nghĩa cộng sản, khi đó nhà nước sẽ tự tiêu vong. Tuy nhiên, Marx cũng mơ hồ về thời điểm điều này xảy ra không kém gì việc ông chính xác về địa điểm của nó: các xã hội công nghiệp lớn ở châu Âu. Lenin tìm cách thúc đẩy quá trình này bằng cách khởi động một cuộc cách mạng từ trên xuống ở Nga, với kỳ vọng rằng nó sẽ châm ngòi cho các cuộc cách mạng từ dưới lên ở Đức, Anh và các quốc gia khác, nơi giai cấp công nhân được cho là đang chờ lật đổ các ông chủ tư bản của mình. Nhưng điều đó đã không xảy ra vào thời điểm Lenin qua đời năm 1924.
Sự thất vọng ấy khiến Stalin chuyển sang một phương thức khác để thúc đẩy sự nghiệp cộng sản: ông sẽ công nghiệp hóa nước Nga, rồi sử dụng nó như một căn cứ để từ đó lan tỏa cách mạng ra bên ngoài. Ông tiến hành quá trình này trong thập niên 1930 với rất ít quan tâm đến các chi phí về con người hay vật chất. Tuy nhiên, Stalin cũng hiểu rằng những thành tựu ấy sẽ chẳng có nhiều ý nghĩa nếu Liên Xô không được an toàn trước các cuộc tấn công từ bên ngoài. Người ta khó có thể kỳ vọng các nhà tư bản hoan nghênh sự xuất hiện của một nhà nước xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, với mục tiêu chấm dứt chính sự tồn tại của họ.
Điều này dẫn đến mục tiêu thứ hai của Stalin: sự kết hợp giữa chủ nghĩa đế quốc truyền thống của Nga với hệ tư tưởng Marx–Lenin. Lenin coi chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn cao nhất của chủ nghĩa tư bản, nhưng vì chủ nghĩa tư bản đã bị định sẵn là sẽ diệt vong, nên ông cho rằng chủ nghĩa đế quốc cũng như vậy. Lenin chưa bao giờ xem việc tái thiết một đế chế là con đường để đẩy nhanh sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, chiến lược của Stalin lại đòi hỏi phải mở rộng biên giới của Liên Xô xa nhất có thể, bởi trong bối cảnh Đức Quốc xã và Đế quốc Nhật Bản đang trỗi dậy, môi trường quốc tế khó có thể được xem là lành tính. Sự biện minh hợp lý nhất là tuyên bố quyền đối với tất cả những vùng đất mà các Sa hoàng Nga từng sở hữu, cùng với các khu vực ảnh hưởng vượt ra ngoài đó, nơi chỉ cho phép tồn tại những láng giềng “thân thiện”.
Từ góc nhìn này, những mâu thuẫn bề ngoài trong hành động của Stalin giai đoạn 1935–1945 – lời kêu gọi Hội Quốc Liên chống lại các nước xâm lược, sự ủng hộ dành cho phe Cộng hòa trong Nội chiến Tây Ban Nha, hiệp ước “không xâm lược” năm 1939 với Adolf Hitler, liên minh với Hoa Kỳ và Anh sau khi Đức tấn công năm 1941, cũng như quyết tâm giữ lại các lợi ích giành được trong thời chiến sau khi chiến tranh kết thúc – thực chất đều phản ánh một ưu tiên nền tảng duy nhất: bảo đảm an ninh cho nhà nước Xô viết, căn cứ từ đó cuộc cách mạng vô sản quốc tế cuối cùng sẽ lan rộng. Chủ nghĩa đế quốc lúc này mang một mục đích cách mạng.
Mục tiêu thứ ba, cũng là mục tiêu cuối cùng, trong đại chiến lược của Stalin là chờ đợi sự tự hủy diệt của chủ nghĩa tư bản. Stalin tin tưởng vững chắc, giống như Lenin, rằng những “mâu thuẫn nội tại” nảy sinh từ việc không thể giải quyết các cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ tạo ra sự cạnh tranh giữa các quốc gia tư bản, và cuối cùng sẽ dẫn họ đến chỗ tấn công lẫn nhau. Suy cho cùng, hai cuộc chiến tranh thế giới đã nổ ra từ chính những nguyên nhân như vậy: tại sao lại không có một cuộc chiến tranh thứ ba, để đưa chủ nghĩa tư bản đến chỗ diệt vong hoàn toàn?
Cho đến khi điều đó xảy ra, Liên Xô sẽ tái thiết sức mạnh của mình, hấp thụ những lãnh thổ mới mà chiến thắng mang lại, trong khi để cho Hoa Kỳ, Anh và các quốc gia tư bản khác vấp ngã bước vào cuộc chiến tiếp theo. Đó là một chương trình mang tính thụ động kỳ lạ đối với một nhà cách mạng, nhưng nó phản ánh niềm tin của Stalin rằng các lực lượng của lịch sử đang đứng về phía ông: “khoa học” của chủ nghĩa Marx–Lenin đã bảo đảm điều đó. Ông chưa bao giờ chia sẻ mối quan tâm của các nước tư bản đối với một trật tự ổn định thời hậu chiến. Một hệ thống như vậy, theo ông, chỉ có thể xuất hiện khi chủ nghĩa cộng sản giành thắng lợi ở khắp mọi nơi. Chính theo nghĩa này, Stalin đã dự liệu một “chiến tranh lạnh” và xây dựng một đại chiến lược để tiến hành nó.
Phản ứng của Roosevelt

Franklin D. Roosevelt
Trước năm 1945, không có một chiến lược nào có tính toàn diện tương đương để đối phó với Liên Xô được hình thành ở bất kỳ đâu trong thế giới tư bản. Một lý do là sự thiếu vắng một chủ thể duy nhất điều phối nền kinh tế toàn cầu: Anh đã từ bỏ vai trò đó sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, còn Hoa Kỳ thì vẫn chưa đảm nhận nó. Sự trỗi dậy của các chế độ độc đoán ở Ý, Đức và Nhật Bản càng làm cho chủ nghĩa tư bản bị phân mảnh thêm. Đến giữa thập niên 1930, các nền dân chủ châu Âu còn lại đã quá bận tâm với cuộc Đại khủng hoảng để có thể xây dựng những cách tiếp cận chung trong đối ngoại – ngoài niềm hy vọng mơ hồ rằng việc xoa dịu các thế lực phát xít có thể bằng cách nào đó khiến họ thỏa mãn. Theo nghĩa này, chẩn đoán của Stalin là chính xác: những chia rẽ giữa các quốc gia tư bản đã ngăn cản họ xây dựng một kế hoạch sánh được với kế hoạch của ông.
Mặc dù sở hữu sức mạnh lớn, người Mỹ trong những năm này lại đặc biệt thiếu định hướng. Trước phản ứng đối với Cách mạng Bolshevik, Woodrow Wilson đã kêu gọi một trật tự quốc tế mới dựa trên các nguyên tắc an ninh tập thể, quyền tự quyết chính trị và hội nhập kinh tế. Tuy nhiên, ngay cả trước khi ông rời Nhà Trắng, Hoa Kỳ đã quay trở lại lập trường truyền thống là tránh can dự vượt ra ngoài bán cầu của mình. Bằng cách đó, Mỹ đã né tránh trách nhiệm bảo vệ những ý tưởng mà họ coi trọng – dân chủ và chủ nghĩa tư bản – vào thời điểm không một quốc gia nào khác đủ sức làm điều đó. Franklin D. Roosevelt hy vọng sẽ khôi phục sự nghiệp của Wilson sau khi trở thành tổng thống năm 1933, nhưng ông đặt ưu tiên cao hơn cho việc phục hồi kinh tế trong nước, trong khi các chính sách xoa dịu của Anh và Pháp khiến ông hầu như không có cơ sở để tìm cách chấm dứt chủ nghĩa biệt lập của Hoa Kỳ.
Tất cả những điều đó đã thay đổi với việc Hitler chiếm Tiệp Khắc vào năm 1939, sự bùng nổ chiến tranh ở châu Âu vào cuối năm đó, và sự sụp đổ của Đan Mạch, Na Uy, Hà Lan, Bỉ và Pháp trước quân Đức vào mùa xuân năm 1940. Đến thời điểm này, Roosevelt đã có một đại chiến lược: làm mọi điều có thể để cứu nước Anh, đánh bại Đức và kiềm chế Nhật Bản. Điều đó đồng nghĩa với việc phải hợp tác với Liên Xô, bởi cuộc xâm lược của Hitler vào tháng 6 năm 1941 đã biến quốc gia này thành một đồng minh không chính thức của Anh và Hoa Kỳ. Tuyên bố chiến tranh của Đức đối với Hoa Kỳ sau cuộc tấn công của Nhật vào Trân Châu Cảng đã khép kín vòng tròn, hình thành nên Đại Liên minh.
Gần như thể Roosevelt đã dự liệu được những diễn biến ấy, bởi ngay từ khi ông mở rộng sự công nhận ngoại giao đối với Liên Xô vào năm 1933, ông đã tìm cách đưa quốc gia này vào trong một hệ thống quốc tế chung. Ông nhất quán giả định những ý định tốt đẹp nhất từ phía Stalin, ngay cả khi nhà độc tài Điện Kremlin – với các cuộc thanh trừng tàn bạo và hiệp ước đầy tính hoài nghi với Hitler – khiến điều đó trở nên khó khăn. Sau khi họ trở thành đồng minh thời chiến, Roosevelt đã nhượng bộ rộng rãi trước các yêu sách lãnh thổ thời hậu chiến của Stalin. Tuy nhiên, ông cũng kỳ vọng Stalin sẽ tôn trọng một thiết kế của Hoa Kỳ cho thế giới hậu chiến, trong đó sự hợp tác giữa các cường quốc lớn được kết hợp với một hệ thống các thể chế quốc tế mới – quan trọng nhất là Liên Hợp Quốc – dựa trên các nguyên tắc Wilson.
Vậy Roosevelt có ngây thơ hay không? Điều này thật khó khẳng định chắc chắn, bởi cái chết của ông vào tháng 4 năm 1945 khiến chúng ta không thể biết ông sẽ hành động ra sao khi rõ ràng rằng Stalin không phải là một người theo chủ nghĩa Wilson. Tuy vậy, chúng ta biết rằng Roosevelt đã để lại cho người kế nhiệm mình, Harry S. Truman, một vị thế vững chắc để đối đầu với Liên Xô nếu điều đó trở nên cần thiết. Roosevelt đã giữ cho thương vong thời chiến ở mức tối thiểu, dựa vào Hồng quân để tiến hành phần lớn các hoạt động chiến đấu chống lại quân Đức. Ông đã đồng ý với rất ít, nếu không muốn nói là hầu như không có, những thay đổi lãnh thổ mà Stalin không thể tự mình đạt được. Ông đã tăng gấp đôi quy mô nền kinh tế Hoa Kỳ trong khi cuộc chiến làm tàn phá nền kinh tế của hầu hết các bên tham chiến khác – bao gồm cả Liên Xô – và ông đã cho phép việc chế tạo bom nguyên tử. Đối với Stalin, đại chiến lược của Roosevelt dường như không hề là ngây thơ.
Tuy nhiên, tất cả những điều đó không làm thay đổi một sự bất đối xứng căn bản. Roosevelt chấp nhận khả năng rằng một “chiến tranh lạnh” có thể không xảy ra. Còn Stalin thì coi nó là điều không thể tránh khỏi.
Kennan và chiến lược kiềm chế
Nhưng không có đại chiến lược nào lại không tạo ra phản hồi. Điều gì sẽ xảy ra nếu chính sự tàn bạo của Stalin – bản chất hà khắc của chế độ độc tài của ông và cách thức đơn phương mà ông áp đặt ảnh hưởng của Liên Xô lên Đông và Trung Âu – lại khiến những người châu Âu khác hoảng sợ đến mức họ gác lại các bất đồng của mình? Điều gì sẽ xảy ra nếu Hoa Kỳ cam kết phục hồi chủ nghĩa tư bản và dân chủ tại những quốc gia ấy? Đối với một con người đã sử dụng nỗi sợ hãi hết sức hiệu quả để giành lấy và củng cố quyền lực, Stalin lại kỳ lạ ở chỗ không nhận ra khả năng rằng chính nỗi sợ hãi ấy có thể tập hợp các đối thủ của mình.
Ưu tiên thời chiến chủ yếu của Hoa Kỳ và Anh là bảo đảm thế cân bằng quyền lực tại lục địa Á–Âu trước những mối đe dọa trong tương lai giống như các năm 1914 và 1939–41. Stalin chia sẻ mục tiêu này ở chừng mực nó đồng nghĩa với việc đánh bại và hoàn toàn giải giáp Đức và Nhật Bản. Tuy nhiên, đến mùa xuân năm 1946, chính Liên Xô lại dường như trở thành mối đe dọa đối với sự ổn định thời hậu chiến, trong con mắt của người Mỹ và các đồng minh Tây Âu của họ.
Ít quan chức nào ở Washington, London hay Paris dự đoán một cuộc tấn công quân sự từ phía Liên Xô, nhưng tồn tại nỗi lo rằng những người châu Âu mệt mỏi vì chiến tranh – khi nhớ lại những thất bại của chủ nghĩa tư bản và dân chủ trong thời kỳ trước chiến tranh – có thể bỏ phiếu đưa các đảng Cộng sản của chính họ lên nắm quyền, qua đó trên thực tế mời gọi Liên Xô thống trị họ. Cuộc khủng hoảng lúc này là khủng hoảng về niềm tin; trong bối cảnh thiếu vắng niềm tin ấy, bất kỳ chương trình tích cực nào cũng có thể chiếm ưu thế. Chính quyền Truman đã làm rõ rằng họ sẽ không trở thành một chính quyền Harding thứ hai: dù tình hình châu Âu có gây thất vọng đến đâu, nó cũng sẽ không dẫn tới một lần nữa Hoa Kỳ rút lui khỏi các trách nhiệm ở nước ngoài. Nhưng đó mới chỉ là một lời cam kết. Nó chưa phải là một chiến lược để đối phó với sự tuyệt vọng của châu Âu.

George F. Kennan
Trách nhiệm trình bày cách thức một chiến lược như vậy có thể vận hành đã rơi vào tay George F. Kennan, một nhà ngoại giao Mỹ và chuyên gia về lịch sử Nga cũng như hệ tư tưởng Xô viết. Kennan đồng ý với Marx, Lenin và Stalin rằng các quốc gia công nghiệp hóa nắm giữ chìa khóa quyền lực trong thế giới hiện đại, nhưng ông không chấp nhận quan điểm của họ rằng chủ nghĩa tư bản tự mang trong nó những mầm mống dẫn tới sự hủy diệt của chính mình. Ngược lại, hệ thống của Stalin, như Kennan chỉ ra, lại chứa đựng những “mâu thuẫn nội tại” nghiêm trọng hơn. Trong số đó có sự thiếu tính chính danh – thực tế là nó chưa bao giờ mạo hiểm tổ chức các cuộc bầu cử đa đảng tự do – cùng với khuynh hướng của mọi đế chế đa dân tộc là bành trướng quá mức, khơi dậy sự kháng cự và cuối cùng tan rã. Ở đây, Kennan viện dẫn Gibbon viết về La Mã.³ Ông cũng hoàn toàn có thể viện dẫn Thucydides viết về Athen.
Kennan nhấn mạnh rằng dân chủ mang hàm chứa tính chính danh, và chính điều đó khiến nó mạnh mẽ hơn nhiều so với việc hầu hết những người thực hành nó vẫn tưởng. Nếu họ có thể tập hợp được niềm tin vào các thể chế của mình – giống như mức độ tự tin mà Stalin tuyên bố có đối với hệ thống của ông – và nếu họ có thể ngăn chặn các trung tâm quyền lực công nghiệp còn lại không rơi vào sự kiểm soát của Stalin, thì các nhà lãnh đạo Liên Xô trong tương lai khó có thể tiếp tục coi lịch sử là đứng về phía họ. Hoa Kỳ và các đồng minh của mình khi đó sẽ tìm được một con đường nằm giữa sự xoa dịu được tái diễn và một cuộc thế chiến mới.
Đó chính là lý thuyết đằng sau điều mà Kennan gọi là “kiềm chế” (containment), nhưng cần phải có vai trò lãnh đạo để đưa nó vào thực tiễn. Điều này xuất hiện vào tháng 6 năm 1947, khi chính quyền Truman đề nghị cung cấp cho người châu Âu những nguồn lực cần thiết để tái thiết nền kinh tế và phục hồi xã hội của họ. Đổi lại, các quốc gia hưởng lợi từ Kế hoạch Marshall đồng ý đặt những mối kình địch lịch sử của mình dưới nhiệm vụ chung của châu Âu là tái thiết, hội nhập và dân chủ hóa. Điều đó có nghĩa là đưa vào châu Âu mới một kẻ thù cũ – các khu vực phía tây của Đức khi đó đang nằm dưới sự chiếm đóng của Anh, Mỹ và Pháp. Năm 1948, Hoa Kỳ cũng theo đuổi một tập hợp ưu tiên tương tự đối với Nhật Bản bị chiếm đóng.
Stalin đã không dự liệu được bất kỳ điều nào trong số này, bởi lý thuyết Leninist cho rằng điều đó không thể xảy ra: các nhà tư bản được cho là sẽ đánh nhau, chứ không phải giúp đỡ lẫn nhau. Bị bất ngờ, ông cho phép tiến hành một cuộc đảo chính Cộng sản ở Tiệp Khắc, lên án những người Cộng sản Nam Tư vì tội bất tuân, và phong tỏa thành phố Tây Berlin. Những biện pháp này đã phản tác dụng: chúng bảo đảm sự ủng hộ của công chúng Hoa Kỳ đối với Kế hoạch Marshall, thúc đẩy nhanh việc hình thành một nhà nước Tây Đức dân chủ – tư bản, và dẫn đến việc các nền dân chủ châu Âu khác yêu cầu được tham gia vào một liên minh quân sự chính thức do Hoa Kỳ tổ chức. Trong khi đó, chế độ của Josip Broz Tito ở Belgrade vẫn tồn tại – với sự hỗ trợ kín đáo của Hoa Kỳ – qua đó cho thấy chủ nghĩa cộng sản quốc tế cũng có thể bị phân mảnh, giống như điều mà Stalin từng kỳ vọng sẽ xảy ra đối với chủ nghĩa tư bản quốc tế.
Với thành công của Kế hoạch Marshall, việc thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), sự phục hồi của Tây Đức và Nhật Bản, cùng sự ly khai của Nam Tư, chiến lược của Stalin nhằm khai thác các mối kình địch giữa các nước tư bản đã hoàn toàn sụp đổ. Lý thuyết “khoa học” của ông đã va phải một thực tại mang tính cảm xúc: Liên Xô khiến các nước tư bản – thậm chí cả một số người Cộng sản khác – sợ hãi hơn nhiều so với việc các nước tư bản sợ lẫn nhau. Kể từ đó, theo Kennan, tất cả những gì người Mỹ và các đồng minh của họ cần làm chỉ là chờ đợi một nhà lãnh đạo Liên Xô nhận ra thực tế này, từ bỏ các tham vọng cách mạng – đế quốc của quốc gia mình, và biến Liên Xô thành một thành viên hài lòng của hệ thống quốc tế. Lịch sử, như vậy, dường như rốt cuộc cũng không đứng về phía Stalin.
Chiến tranh Lạnh toàn cầu
Tuy nhiên, chính Kennan cũng không lường trước được phản hồi, đặc biệt là nguy cơ rằng kiềm chế có chọn lọc – chỉ bảo vệ các khu vực công nghiệp của Tây Âu và Nhật Bản – có thể không đủ để duy trì niềm tự tin của các nền dân chủ trong khoảng thời gian dài cần thiết để hành vi của Liên Xô thay đổi. Niềm tự tin là một cảm xúc, mà Kennan hy vọng có thể tạo ra thông qua lập luận lý tính. Pericles cũng từng như vậy khi ông khuyên người Athen chỉ dựa vào sức mạnh hải quân và sự thịnh vượng mà nó mang lại, trong khi thản nhiên quan sát từ trên tường thành khi quân Sparta tàn phá vùng nông thôn của họ.⁴ Chiến lược phụ thuộc vào tinh thần không kém gì vào logic, và Pericles đã thấy người Athen chưa sẵn sàng cho con đường mà ông dự định theo đuổi. Trải nghiệm của Kennan cũng tương tự.
Kennan thừa nhận rằng kiềm chế giống như đi trên một sợi dây căng. Đó là một cách tiết kiệm để vượt qua vực thẳm, nhưng điều quan trọng là không được nhìn xuống. Điều đó có nghĩa là phải giữ bình tĩnh khi Stalin – sớm hơn dự kiến – thành công trong việc chế tạo bom nguyên tử của riêng mình. Nó cũng có nghĩa là không nên quá lo lắng trước những thắng lợi của phe Cộng sản ở các khu vực phi công nghiệp như Trung Quốc, nơi Mao Trạch Đông đã đánh bại lực lượng Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch và đang ở thế sẵn sàng nắm quyền. Cuối năm 1949, Kennan lập luận rằng cả hai diễn biến này đều không làm thay đổi đáng kể cán cân địa – chính trị toàn cầu: răn đe vẫn sẽ có hiệu quả; Mao có thể sẽ không tuân theo mệnh lệnh từ Moskva; và ngay cả nếu ông ta có làm vậy, thì Trung Quốc cũng sẽ “nuốt chửng” bất kỳ ai tìm cách cai trị nó. Hoa Kỳ đơn giản chỉ nên tiếp tục tập trung vào việc phục hồi chủ nghĩa tư bản và gieo trồng dân chủ tại Tây Âu và Nhật Bản – để tránh rơi vào cám dỗ đế quốc như Liên Xô đã từng.
Nhưng người Mỹ cũng không sẵn sàng chấp nhận các bước thụt lùi với sự điềm tĩnh, giống như người Athen trước kia. Chính quyền Truman, dưới sức ép của Quốc hội, đã phải chấp thuận việc chế tạo bom nhiệt hạch, một loại vũ khí có sức hủy diệt lớn đến mức các nhà hoạch định chiến tranh cũng không biết nó có thể được sử dụng như thế nào. Tổng thống cũng cho tiến hành một cuộc tái đánh giá chính sách kiềm chế, được thể hiện trong tài liệu NSC-68, với kết luận rằng không còn khu vực nào trên thế giới là thứ yếu, rằng không thể loại trừ bất kỳ biện pháp nào để bảo vệ chúng, và rằng ngân sách quốc phòng hiện tại là hoàn toàn không đủ. Rồi đến tháng 6 năm 1950, Bắc Triều Tiên xâm lược Nam Triều Tiên – một quốc gia mà trước đó không ai ở Washington coi việc bảo vệ là một lợi ích sống còn. Giờ đây, mọi người, kể cả Kennan, đều tin là như vậy.
Các nhà sử học nhìn chung cho rằng Stalin đã mắc một sai lầm nghiêm trọng khi cho phép cuộc tấn công này. Ông không ngờ Hoa Kỳ sẽ can thiệp; nhưng khi điều đó xảy ra, chi tiêu quân sự của Mỹ đã tăng gấp ba lần, trong khi Truman tận dụng cuộc khủng hoảng để biện minh cho việc tái vũ trang Tây Đức và triển khai binh lính Mỹ thường trực tại châu Âu. Tuy nhiên, từ góc nhìn của nhà lãnh đạo Xô viết, Triều Tiên cũng mang lại những lợi ích nhất định. Hoa Kỳ phải chịu những thất bại quân sự lớn tại đây mà không sử dụng bom nguyên tử. Sự can dự của Trung Quốc đã chấm dứt mọi hy vọng ở Washington rằng Mao có thể trở thành một Tito thứ hai. Và cuộc chiến đã thuyết phục Truman cùng các cố vấn của ông rằng những người soạn thảo NSC-68 là đúng: bất kỳ khu vực nào trên thế giới bị đe dọa, hoặc thậm chí chỉ dường như bị đe dọa, bởi chủ nghĩa cộng sản quốc tế – dù là công nghiệp hay không – đều phải được bảo vệ.
Vì vậy, người Mỹ, giống như người Hy Lạp cổ đại, đã đánh mất niềm tự tin để có thể bỏ mặc bất kỳ nơi nào không được phòng thủ. Thay vào đó, họ nhận lấy sự bất an đi kèm với mở rộng: “nỗi sợ [là] động cơ chủ yếu của chúng tôi,” Thucydides để cho người Athens nói với người Sparta. “Việc từ bỏ đế chế của mình dường như không còn an toàn nữa; nhất là khi tất cả những ai rời bỏ chúng tôi đều sẽ rơi vào tay các ông.”⁵ Từ một chiến lược nhằm giữ thế chủ động bằng cách phân biệt giữa lợi ích sống còn và lợi ích thứ yếu, Hoa Kỳ đã chuyển sang một chiến lược trao thế chủ động cho đối phương. Bất cứ nơi nào họ chọn thách thức, Hoa Kỳ đều buộc phải đáp trả.
Bế tắc: ý thức hệ

Bản đồ thể hiện các quốc gia màu đỏ đại diện cho các chính phủ cộng sản liên minh với Liên Xô . Các quốc gia màu vàng đại diện cho các chính phủ cộng sản liên minh với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (ngoài Trung Quốc ra, chỉ có hai quốc gia khác là Albania và Campuchia Dân chủ ). Các quốc gia màu đen ( Bắc Triều Tiên , Somalia và Nam Tư ) đại diện cho các chính phủ cộng sản không liên minh với cả hai bên.
Ở đó đã hình thành những tiền đề của một thế bế tắc đại chiến lược (grand strategic stalemate), giống như thế bế tắc đã kéo dài Chiến tranh Peloponnese. Nguồn gốc của nó nằm ở những kỳ vọng bị thất vọng: kỳ vọng của các nhà lãnh đạo Liên Xô rằng chủ nghĩa tư bản sẽ sụp đổ; và kỳ vọng của các nhà lãnh đạo Mỹ rằng chỉ cần bảo đảm cho chủ nghĩa tư bản tồn tại là đủ. Chiến tranh Lạnh lúc này chuyển sang các chiến lược nhằm phá vỡ thế bế tắc đó, nhưng không chiến lược nào tỏ ra mang tính quyết định. Trái lại, tác động của chúng là làm ổn định — và vì thế kéo dài — Chiến tranh Lạnh, biến nó thành một hệ thống quốc tế mới mang dáng dấp rất giống với một hệ thống cổ xưa.
Nỗ lực đầu tiên trong số này tập trung vào việc cải tổ chủ nghĩa Marx–Lenin. Stalin không thấy cần phải làm cho chế độ độc tài của mình trở nên được ưa chuộng, bởi ông cho rằng các cuộc khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản và những cuộc chiến tranh do chúng gây ra cuối cùng sẽ làm điều đó thay ông. Nhưng khi những người kế nhiệm ông chứng kiến sự thịnh vượng ngày càng tăng và tính chính danh chính trị của chủ nghĩa tư bản thời hậu chiến, họ không còn ảo tưởng rằng sự tự hủy diệt của nó là điều sắp xảy ra. Thay vào đó, họ bắt đầu tự hỏi làm thế nào hệ thống của chính họ có thể duy trì và mở rộng ảnh hưởng nếu nó không thể chứng minh được rằng mình cải thiện đời sống của những người sống dưới sự cai trị của nó.
Vấn đề này bộc lộ rõ ràng ngay từ tháng 6 năm 1953, khi công nhân Đông Đức — chính tầng lớp mà theo Marx lẽ ra phải hoan nghênh nhất sự cai trị của Đảng Cộng sản — lại nổi dậy chống đối. Hồng quân nhanh chóng đàn áp cuộc nổi dậy và nhà lãnh đạo cứng rắn của Đông Đức là Walter Ulbricht vẫn trụ vững, nhưng trải nghiệm này đã khiến Nikita Khrushchev, người sắp nổi lên như nhà lãnh đạo mới của Liên Xô, tin rằng “chủ nghĩa xã hội” cần phải được trao cho “một bộ mặt nhân bản.” Điều đó đồng nghĩa với việc từ bỏ Stalin và hứa hẹn một điều gì đó tốt đẹp hơn — dù vẫn trong khuôn khổ của nền kinh tế chỉ huy và chế độ một đảng.
Tuy nhiên, việc thừa nhận sự cần thiết của cải cách lại khiến việc kiểm soát tốc độ cải cách trở nên khó khăn. Những đòn công kích của Khrushchev vào di sản của Stalin — đặc biệt là bài diễn văn “mật” tháng 2 năm 1956 — đã gây ra hệ quả ngoài dự liệu là khuyến khích các cuộc công kích vào chính quyền Liên Xô, bởi làm sao có thể tách bạch hai điều này với nhau? Đến cuối năm đó, Khrushchev đã suýt nữa phải đối mặt với một cuộc cách mạng ở Ba Lan, rồi ngay sau đó là cuộc cách mạng ở Hungary mà ông đàn áp bằng những biện pháp còn khắc nghiệt hơn cả những gì Stalin từng sử dụng tại khu vực này. Trong khi đó, biên giới mở với Tây Berlin cho phép hàng triệu người Đông Đức di cư. Khi Khrushchev và Ulbricht xây dựng bức tường để ngăn chặn điều này vào năm 1961, họ đã từ bỏ mọi giả vờ rằng những người họ cai trị ưa chuộng “chủ nghĩa xã hội” hơn chủ nghĩa tư bản dân chủ. Phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông và Trung Âu vẫn được duy trì, nhưng chỉ là trái với ý nguyện của những người sống trong đó.
Những cải cách của Khrushchev đã khiêu khích một phản ứng cũng không kém phần bất ngờ từ phía Trung Quốc — một dân tộc mà ông không thể bắn hạ hay xây tường để ngăn lại. Một chuyện là Tito thách thức Stalin và vẫn giữ được quyền lực: Nam Tư là một quốc gia nhỏ, và ảnh hưởng của nhà độc tài Liên Xô trong phong trào Cộng sản quốc tế vẫn mang tính áp đảo. Nhưng lại là chuyện hoàn toàn khác khi Khrushchev, một nhân vật đầy biến động và thiếu kinh nghiệm, lên án Stalin mà không hề tham vấn Mao — lãnh đạo của cuộc cách mạng quan trọng nhất kể từ Lenin, người lúc này đang cai trị quốc gia đông dân nhất thế giới, và người đã xây dựng phong cách lãnh đạo của mình theo tấm gương mà Stalin đặt ra. Với sự chia rẽ Trung–Xô, quá trình phân mảnh của phong trào Cộng sản quốc tế trở nên không thể đảo ngược, đúng vào lúc sự phục hưng của chủ nghĩa tư bản thị trường và nền chính trị dân chủ cũng đang trở nên như vậy.
Leonid Brezhnev và Aleksei Kosygin, những người kế nhiệm Khrushchev, cũng không làm tốt hơn. Sau khi khuyến khích cải cách ở Tiệp Khắc, họ kết luận vào năm 1968 rằng các cải cách này đã đi quá xa và chấm dứt chúng bằng một cuộc can thiệp quân sự nữa. Liên Xô, họ tuyên bố, có quyền can thiệp bất cứ khi nào “chủ nghĩa xã hội” dường như bị đe dọa. Nhưng Học thuyết Brezhnev đã khiến những người còn cảm tình với chủ nghĩa Marx ở châu Âu hoảng sợ, trong khi Mao coi nó là nhằm vào Trung Quốc và bắt đầu chuẩn bị cho chiến tranh với Liên Xô. Đến cuối thập niên, thế giới Cộng sản đã có hai trung tâm mà mức độ thù địch lẫn nhau ít nhất cũng ngang bằng với mức độ thù địch của mỗi bên đối với những người theo chủ nghĩa tư bản mà họ từng thề sẽ lật đổ.
Do đó, dù có thể xuất phát từ thiện chí, chiến lược cải tổ chủ nghĩa Marx–Lenin của Khrushchev rốt cuộc lại làm suy giảm tính chính danh của hệ tư tưởng này và phá vỡ sự thống nhất của nó. Nó cho thấy rằng bất kỳ quá trình tiêu vong nào của quyền lực nhà nước — hay bất kỳ sự dao động nào trong quyết tâm của các nhà lãnh đạo — đều có thể khiến chính hệ tư tưởng đó sụp đổ từ bên trong. Điều này đặc biệt đáng lo ngại đối với các đảng Cộng sản cầm quyền, bởi nó gợi ý rằng sự thay đổi tự thân nó đã mang trong mình những mầm mống của sự hủy diệt chính họ.
Bế tắc: vũ khí hạt nhân
Vậy thì vì sao Chiến tranh Lạnh lại tiếp diễn? Vì sao người Mỹ và các đồng minh của họ không đối đầu với một đối thủ đang rối loạn chức năng và giành lấy chiến thắng? Câu trả lời thuyết phục nhất là cuộc khủng hoảng bên trong một hệ tư tưởng này lại trùng hợp với một bước nhảy vọt mang tính đột biến trong mức độ sát thương của vũ khí. Đến đầu những năm 1960, việc chấp nhận một trạng thái bế tắc của Chiến tranh Lạnh — ngay cả khi một bên thiếu tính chính danh mà bên kia lại thụ hưởng — dường như an toàn hơn là cố gắng chấm dứt nó.
Hoa Kỳ thử nghiệm vũ khí nhiệt hạch đầu tiên của mình vào tháng 11 năm 1952, nhưng Liên Xô nhanh chóng theo sau với một vụ thử riêng vào tháng 8 năm 1953. Bom khinh khí có sức công phá lớn hơn ít nhất một nghìn lần so với các quả bom nguyên tử đã tàn phá Hiroshima và Nagasaki: người ta nhanh chóng nhận ra rằng việc sử dụng chúng trên quy mô lớn có thể khiến toàn bộ bán cầu Bắc trở nên không thể sinh sống. Chỉ lần thứ hai trong lịch sử quân sự hiện đại — lần đầu là việc không sử dụng khí độc trong Thế chiến thứ hai — các kế hoạch chiến tranh đối địch đã phải đối mặt với một ràng buộc sinh thái chung.
Mối nguy này đã làm nản lòng việc khai thác các điểm yếu của đối phương. Hoa Kỳ không làm gì để hỗ trợ những người nổi dậy ở Đông Đức, Ba Lan hay Hungary — mặc dù trước đó họ từng viện trợ cho những người nổi dậy ở Nam Tư. Washington cho rằng Liên Xô sẽ chiến đấu để giữ lại phạm vi ảnh hưởng của mình ở châu Âu, nếu cần thiết bằng cả vũ khí hạt nhân, và rằng kết quả sẽ mang tính thảm họa. Đồng thời, Hoa Kỳ cũng khẳng định rằng họ sẽ làm điều tương tự để bảo vệ các đồng minh NATO, đặc biệt là tiền đồn Anh–Mỹ–Pháp dễ bị tổn thương tại Tây Berlin. Hệ quả là sự bất đối xứng chính trị chi phối châu Âu thời hậu chiến — tính chính danh của chủ nghĩa tư bản dân chủ và sự thiếu chính danh của chủ nghĩa Marx–Lenin — hoàn toàn không làm thay đổi các đường biên giới chính trị, vốn bị “đóng băng” cho đến cuối thập niên 1980.
Tuy vậy, vẫn tồn tại một cảm giác âm ỉ rằng hẳn phải có cách nào đó để rút ra lợi thế từ vũ khí hạt nhân mà không cần thực sự sử dụng chúng. Tổng thống Dwight D. Eisenhower cho rằng các mối đe dọa sử dụng những vũ khí này có thể làm giảm chi phí của chính sách ngăn chặn, đồng thời răn đe các thách thức từ Liên Xô và Trung Quốc bên ngoài châu Âu, nhưng kết quả không mấy ấn tượng. Trong khi đó, Khrushchev nắm lấy một “đột phá” công nghệ hiếm hoi của Liên Xô — việc phóng một vệ tinh nhân tạo vào tháng 10 năm 1957 — để tuyên bố rằng Liên Xô đã vượt lên trên Hoa Kỳ trong lĩnh vực tên lửa chiến lược, và tìm cách khai thác những nhượng bộ từ thành tựu này. Tuy nhiên, chiến lược đó còn thất bại thảm hại hơn cả của Eisenhower, bởi trên thực tế Liên Xô không hề vượt lên trước — một thực tế mà người Mỹ sớm xác nhận qua các chuyến bay trinh sát bí mật và sau đó là ảnh chụp từ vệ tinh.
Do đó, cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân đã củng cố nguyên trạng của Chiến tranh Lạnh, một điều được thể hiện rõ rệt vào năm 1962 khi Khrushchev tiến hành thêm một nỗ lực nữa nhằm thay đổi nó. Trong một canh bạc đầy rủi ro để điều chỉnh lại cán cân chiến lược — đồng thời bảo vệ cuộc cách mạng của Fidel Castro — ông đã cho triển khai các tên lửa tầm trung và tầm xa, được trang bị đầu đạn hạt nhân, tới Cuba. Hành động này đã đưa thế giới tiến gần hơn bao giờ hết, trong suốt Chiến tranh Lạnh, tới một cuộc chiến tranh hạt nhân; nhưng rốt cuộc, cuộc khủng hoảng đó cũng không làm thay đổi được bao nhiêu. Khrushchev rút các tên lửa của mình, người Mỹ cam kết không xâm lược Cuba, và sự cạnh tranh Xô–Mỹ tiếp tục như trước — ngoại trừ một điểm. Cuộc đối đầu đã đủ đáng sợ để các nhà lãnh đạo Liên Xô và Hoa Kỳ ngầm đồng thuận rằng sẽ không sử dụng vũ khí hạt nhân một lần nữa nhằm phá vỡ thế bế tắc của Chiến tranh Lạnh. Đó là một lời hứa mà họ đã giữ.
Bế tắc: "cái đuôi vẫy con chó"
(Tails wagging dogs - tạm dịch là "cái đuôi vẫy con chó", là một thành ngữ tiếng Anh. Nghĩa bóng của thành ngữ này nói về việc cái nhỏ, ít quan trọng lại chi phối, kiểm soát, quyết định cái lớn và quan trọng hơn hoặc là vai trò bị đảo lộn, phần phụ lại làm chủ phần chính)
Tuy nhiên, không chỉ riêng Hoa Kỳ và Liên Xô tìm cách định hình chiến lược Chiến tranh Lạnh; và ở đây cũng lại có những âm vang từ thời cổ đại. Một trong những điều nổi bật của Chiến tranh Peloponnesos là mức độ mà các cường quốc nhỏ hơn đã xoay xở, thao túng những siêu cường của thời đại họ. Bởi trong một tình thế cân bằng mong manh đến như vậy, những thay đổi nhỏ trong sự lựa chọn liên minh cũng có thể tạo ra khác biệt rất lớn.⁶ Điều này cũng đúng trong Chiến tranh Lạnh.
Các cường quốc nhỏ có nhiều nguồn sức mạnh trong cuộc xung đột đó. Một nguồn bắt nguồn từ quá trình giải thể đồng thời — trong một số trường hợp là sự sụp đổ — của các đế quốc thuộc địa lớn ở châu Á, Trung Đông và châu Phi. Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng chục quốc gia mới xuất hiện, những quốc gia chưa đứng về bên nào trong cuộc đối đầu Xô–Mỹ. Rất ít, nếu có, quốc gia nào có thể kỳ vọng rằng việc chọn phe sẽ làm nghiêng cán cân quyền lực toàn cầu theo bất kỳ cách nào có thể đo lường được. Nhưng những nỗi lo ở Washington và Moskva đã vượt ra ngoài những gì có thể đo đếm: cán cân quyết định giờ đây mang tính tâm lý, trong đó bề ngoài quan trọng không kém gì các sự kiện cứng. Điều đó đã trao quyền lực cho những chế độ mà chỉ mới trước đó còn thiếu hẳn quyền lực.
Nếu có một đại chiến lược gia của sự “ngả nghiêng” thì đó chính là Tito, người mà sự đoạn tuyệt với Moskva và thành công sau đó trong việc giành được viện trợ của Hoa Kỳ đã lần đầu tiên chứng minh khả năng chơi nước cờ đối trọng giữa hai siêu cường. Bản thân ông sau đó trở nên thân cận với Jawaharlal Nehru ở Ấn Độ và Gamal Abdel Nasser ở Ai Cập — những người cũng nhận ra đòn bẩy mà chiến lược này có thể mang lại và khuyến khích các quốc gia mới khác theo đuổi nó. Đến năm 1955, ba người họ đã tổ chức Phong trào “Không Liên kết”: cái gọi là Thế giới Thứ ba, nơi quyền lực nằm ở chính khả năng rằng các quốc gia cấu thành nó có thể không còn tiếp tục đứng ngoài liên minh.
Hoa Kỳ và — về sau — Liên Xô đã kiên trì tìm cách định hướng những lựa chọn như vậy thông qua ngoại giao, viện trợ kinh tế và công nghệ, thậm chí cả can thiệp bí mật lẫn công khai. Tuy nhiên, những thành công của họ lại mang tính vấn đề, bởi không biện pháp nào trong số này có thể ngăn chặn những sự đào ngũ trong tương lai, dù là do cách mạng, đảo chính, bất mãn, bị bỏ rơi, hay đơn giản chỉ vì phía bên kia đưa ra một cái giá cao hơn. Thế giới Thứ ba, vì thế, vừa là nạn nhân vừa là kẻ thao túng của “Thế giới Thứ nhất” và “Thế giới Thứ hai”.
Các liên minh — chính thức và không chính thức — cung cấp một con đường khác để biến yếu thế thành sức mạnh. Các quốc gia nói chung gia nhập liên minh vì họ thiếu quyền lực: hoặc họ tìm kiếm sự bảo vệ, hoặc bị buộc phải chấp nhận nó. Nhưng nếu quốc gia dẫn dắt một liên minh đã đánh mất khả năng phân biệt — nếu họ đặt uy tín của mình lên bàn cược ở khắp mọi nơi bằng cách tuyên bố rằng mọi thứ đều mang tính sống còn — thì họ đã chuyển giao thế chủ động cho các đối tác yếu hơn, những bên thường có thể tận dụng lợi thế đó để đạt được điều họ muốn.
Vì thế, Ulbricht ở Đông Đức đã làm suy yếu các nỗ lực cải cách chủ nghĩa Marx–Lenin của Khrushchev bằng cách liên tục cảnh báo rằng, nếu bị gây áp lực quá mạnh, chế độ của ông có thể sụp đổ. Tương tự như vậy, Lý Thừa Vãn ở Hàn Quốc và Tưởng Giới Thạch trên hòn đảo Đài Loan do phe Quốc dân đảng kiểm soát đã ép buộc Eisenhower miễn cưỡng phải trao cho họ các bảo đảm an ninh, với lập luận rằng nếu không có những bảo đảm này thì Bắc Triều Tiên và các lực lượng Cộng sản Trung Quốc sẽ tấn công, gây ra những hậu quả tàn khốc đối với uy tín của Hoa Kỳ. Lý và Tưởng khó có thể được coi là những đồng minh dân chủ — thậm chí họ còn không phải là những đồng minh dễ đoán. Nhưng bằng cách phô bày sự yếu kém của mình, họ đã khiến bản thân, giống như Ulbricht, trở thành những đồng minh không thể thiếu.
Những rủi ro của việc không bảo vệ đồng minh đã trở nên rõ ràng vào năm 1963 khi chính quyền John F. Kennedy quyết định từ bỏ Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam. Quyết định này để lại cho Lyndon B. Johnson một khoảng trống lãnh đạo mà ông không bao giờ có thể lấp đầy. Lo sợ rằng Bắc Việt, với sự giúp đỡ của các đồng minh Liên Xô và Trung Quốc, sẽ thôn tính đất nước, Johnson đã tiến hành một cuộc can thiệp quân sự toàn diện, khiến 58.000 người Mỹ thiệt mạng, cùng một con số không xác định nhưng lớn hơn rất nhiều người Việt Nam, và đẩy Hoa Kỳ đến gần tình trạng tê liệt trong nước.
Về sau, người ta mới thấy rõ rằng cả Liên Xô lẫn Trung Quốc đều không cho phép Hồ Chí Minh tiến hành cuộc chiến tranh chống Nam Việt Nam. Trong một minh chứng khác cho sức mạnh sinh ra từ sự yếu thế, ông đã hành động một cách độc lập, tin chắc rằng cả Moskva lẫn Bắc Kinh đều sẽ không chối bỏ mình. Ông đã đúng: các quốc gia Marx–Lenin lớn này đã để cho một quốc gia nhỏ ra lệnh cho họ, bởi họ lo sợ sự mất mát uy tín ý thức hệ của chính mình nếu không ủng hộ nó. Chiến lược của Hồ đã mang lại những kết quả đáng kể. Cuộc chiến tranh kéo dài và tốn kém ở Việt Nam đã làm tiêu hao nguồn lực của Hoa Kỳ và làm lung lay quyết tâm của nước này — mặc dù nhìn lại, cán cân quyền lực toàn cầu thực ra chưa bao giờ thực sự bị đe dọa ở đó ngay từ đầu.
Một hệ quả bổ sung của Chiến tranh Việt Nam là nó đã góp phần huy động một thế hệ thanh niên có học vấn mới, những người ít sẵn sàng hơn thế hệ cha anh họ trong việc chấp nhận thế bế tắc của Chiến tranh Lạnh. Năng lượng của họ, dĩ nhiên, thể hiện qua các cuộc phản chiến, nhưng còn qua những thách thức đối với các “thiết chế” ở khắp nơi: từ chính phủ, tập đoàn và các trường đại học trên khắp Hoa Kỳ và Tây Âu, đến các chế độ Marx–Lenin đã đàn áp bất đồng chính kiến ở Đông Âu, thậm chí cả bộ máy nhà nước và đảng ở Trung Quốc, nơi chính Mao đã phát động cuộc “Đại Cách mạng Văn hóa” mang tính hủy diệt — một trường hợp hiếm hoi khi một thiết chế tự châm ngòi cho một cuộc nổi dậy chống lại chính nó.
Đến cuối thập niên 1960, mức độ linh hoạt đại chiến lược mà các cường quốc Chiến tranh Lạnh có thể vận dụng đã bị thu hẹp đáng kể. Các nhà lãnh đạo ở Hoa Kỳ, Liên Xô, châu Âu, và thậm chí cả Trung Quốc đều cảm thấy bế tắc trong việc giành được sự ủng hộ cho các hệ tư tưởng của mình, lo sợ trước viễn cảnh chiến tranh hạt nhân, quan ngại về độ vững chắc của các liên minh — và thậm chí cả về sự gắn kết của chính các xã hội mà họ lãnh đạo. Chiến tranh Lạnh giờ đây không chỉ là một thế bế tắc: dường như nó còn đang làm suy giảm ảnh hưởng của chính những nhà nước vốn được cho là đang chi phối nó.
Détente: một thất bại của ổn định hóa
Détente là một nỗ lực hợp tác giữa các siêu cường nhằm đảo ngược xu thế này, nhưng đồng thời cũng là một toan tính cạnh tranh của các siêu cường để giành lại lợi thế trong Chiến tranh Lạnh. Vì vậy, đây là đại chiến lược đầu tiên phản ánh những lợi ích chung tại Washington, Moskva, cũng như tại các thủ đô của những đồng minh tương ứng của họ – vượt ra ngoài mong muốn hiển nhiên là tránh một thảm họa hạt nhân. Tuy nhiên, détente chưa bao giờ được thiết kế để chấm dứt Chiến tranh Lạnh: trái lại, những người kiến tạo nó tìm cách đặt ra các quy tắc cho một cuộc đối đầu mà tất cả đều hiểu là sẽ còn tiếp diễn. Điều mà không ai lường trước được là chính việc đặt ra các quy tắc ấy lại làm cho xung đột trở nên gay gắt hơn.
Đến năm 1969, tất cả các bên đều có lợi ích trong việc hạ nhiệt Chiến tranh Lạnh. Người Mỹ đang sa lầy và thất bại ở Việt Nam. Liên Xô đã đàn áp “Mùa xuân Praha”, nhưng chỉ bằng cái giá là làm xa lánh các đồng minh ý thức hệ ở nơi khác. Nhận thấy khả năng tái thống nhất là không thực tế, Tây Đức và Đông Đức bắt đầu giảm căng thẳng xuyên qua những bức tường chia cắt họ. Và tại Trung Quốc, Mao Trạch Đông đã tự thuyết phục mình rằng Liên Xô giờ đây là mối đe dọa lớn hơn đối với an ninh của đất nước ông so với Hoa Kỳ: cuộc cách mạng ngoại giao của ông sắp sửa làm lu mờ – dù chưa chấm dứt – Cách mạng Văn hóa.
Những hoàn cảnh hội tụ này đã tạo điều kiện để vị tổng thống mới của Hoa Kỳ, Richard M. Nixon, cùng với trợ lý về các vấn đề an ninh quốc gia của ông, Henry Kissinger, thực hiện sự chuyển hướng triệt để nhất trong đại chiến lược của Mỹ kể từ NSC-68. Họ có nhiều mục tiêu: rút Hoa Kỳ khỏi Việt Nam mà không tạo ấn tượng là bị buộc phải rút lui; lôi kéo Liên Xô vào các cuộc đàm phán về kiểm soát vũ khí, quan hệ kinh tế và quản lý các xung đột tại Thế giới Thứ ba; mở quan hệ với Trung Quốc như một cách gây sức ép lên Moskva; và khôi phục quyền lực của tổng thống trong nước.
Đến cuối năm 1972, mọi thứ dường như đã thành công: Nixon đã tới thăm Bắc Kinh và Moskva, ký Hiệp ước Hạn chế Vũ khí Chiến lược đầu tiên với Liên Xô, tiến rất gần tới một lệnh ngừng bắn tại Việt Nam, và tái đắc cử một cách vang dội. Có vẻ như người Mỹ đã trở thành những pháp sư của đại chiến lược.
Nhưng thứ “phép thuật” ấy được xây dựng trên những nền tảng mong manh. Chiến lược Nixon–Kissinger đòi hỏi một sự “liên kết” được kiểm soát chặt chẽ giữa các biện pháp khuyến khích và ràng buộc – giữa cây gậy và củ cà rốt – gần như không để chỗ cho việc rò rỉ thông tin cho báo chí, những lời phàn nàn từ giới phê phán, hay sự giám sát của Quốc hội. Nó hàm ý một sự phân bổ ngang bằng các lợi ích có thể tính toán được cho Hoa Kỳ và Liên Xô, trong khi sự đối địch giữa họ từ lâu đã được thúc đẩy bởi những nỗi sợ không thể đo lường. Nó đòi hỏi sự thánh thiện từ phía các siêu cường – rằng họ sẽ kiềm chế trước những cám dỗ tại Thế giới Thứ ba – nhưng lại không làm gì để ngăn các chế độ tại Thế giới Thứ ba tiếp tục đưa ra những cám dỗ ấy. Và nó đã đánh đồng ổn định với công bằng: Nixon và Kissinger tin rằng sự nhẹ nhõm đến từ việc giảm nguy cơ chiến tranh hạt nhân sẽ lấn át bất cứ sự bất mãn nào nảy sinh từ việc cố định thế bế tắc của Chiến tranh Lạnh.
Không một giả định nào trong số đó đứng vững. Các nhà phê phán trong nước công kích chính quyền Nixon vì đã nhượng bộ quá nhiều trong vấn đề vũ khí chiến lược, và vì không làm đủ cho nhân quyền. Việc tổng thống khăng khăng tập trung hóa quyền lực đã dẫn tới những lạm dụng quyền lực, với cuộc khủng hoảng Watergate buộc ông phải từ chức vào tháng 8 năm 1974. Trong khi đó, người kế nhiệm Nasser tại Ai Cập, Anwar Sadat, đã cám dỗ Hoa Kỳ bằng cách trục xuất các cố vấn Liên Xô khỏi đất nước mình: khi Washington không nắm lấy cơ hội này, ông đã tấn công Israel, buộc Hoa Kỳ phải áp đặt một giải pháp dàn xếp mà Kissinger loại Liên Xô ra ngoài – một sự sỉ nhục cay đắng đối với Moskva. Điều đó khiến các nhà lãnh đạo Điện Kremlin hầu như không còn chút thiện cảm nào đối với người kế nhiệm Nixon, Gerald Ford, khi ông và Kissinger cố gắng cứu Nam Việt Nam khỏi một cuộc xâm lược của Bắc Việt vào mùa xuân năm 1975, hoặc khi họ tìm cách ngăn chặn sự can thiệp của Cuba và Liên Xô nhằm ủng hộ các lực lượng nổi dậy Marxist tại thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha là Angola vào cuối năm đó.
Chủ nghĩa đơn phương của Mỹ tại Trung Đông, tuy nhiên, không phải là lý do duy nhất khiến Liên Xô chuyển sang thế tấn công ở Thế giới Thứ ba. Brezhnev đã làm việc rất tích cực vì détente và mong muốn nó thành công; nhưng trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô, và đặc biệt là tại các viện nghiên cứu khu vực mới nổi – tương đương với các “think tank” của Moskva – một thế hệ chuyên gia mới đang khẳng định rằng đây chính là thời điểm để giành thế chủ động. Hoa Kỳ đã tỏ ra thiếu kiên quyết một cách bất ngờ tại Việt Nam. Liên Xô lúc này đã có sức mạnh hải quân và không quân đủ để phóng chiếu quyền lực tới những khu vực xa xôi trên thế giới. Cách mạng Cuba đã cho thấy chủ nghĩa Marx–Lenin có thể phát triển mạnh tại các quốc gia “đang phát triển”, và bản thân người Cuba đã trở nên thành thạo trong việc chơi ván cờ kiểu Hồ Chí Minh: ôm lấy những mục tiêu – Angola là một ví dụ – mà Moskva không dễ gì chối bỏ. Có lẽ lịch sử một lần nữa đang dịch chuyển theo hướng cách mạng, lần này là tại Đông Nam Á, Nam Phi và Mỹ Latinh.
Vì thế, trong khi các kế hoạch của Nixon và Kissinger, vào giữa thập niên 1970, đã rơi vào tình trạng rối loạn, thì những kế hoạch của Liên Xô cũng vậy. Phong trào Cộng sản quốc tế từ lâu đã không còn là một khối đơn nhất; giờ đây, vai trò lãnh đạo tại Moskva cũng đang trở nên đa nguyên. Détente, vốn khởi đầu như một nỗ lực chung của các siêu cường nhằm ổn định Chiến tranh Lạnh, rốt cuộc lại làm mất ổn định các ưu tiên của cả hai siêu cường. Thậm chí, người ta không còn rõ đại chiến lược của mỗi bên là gì, chứ chưa nói tới việc đo lường hiệu quả của nó ra sao. Sự hỗn loạn phát sinh từ đó đã tạo ra một khoảng trống, trong đó “sinh thái” từ lâu bị che khuất của Chiến tranh Lạnh – môi trường mà trong đó tất cả các tác nhân đối địch vận hành – bắt đầu tự bộc lộ.
Sự quá giãn chiến lược của Liên Xô
Một lý do khiến chúng ta đến nay vẫn đọc Thucydides về Chiến tranh Peloponnese là bởi ông cho phép ta nhìn thấy những đặc điểm cấu trúc nền tảng của cuộc xung đột đó. Một trong số ấy là sự bất đối xứng về năng lực: việc Athenslà một cường quốc hải quân trong khi Sparta dựa vào lục quân đồng nghĩa với việc không bên nào có thể dễ dàng đánh bại bên kia. Tuy nhiên, các cấu trúc trong cuộc chiến cổ đại này chưa bao giờ hoàn toàn ổn định. Nếu một bên có thể làm chủ được kỹ năng của bên kia, hoặc nếu một bên phạm sai lầm khi lao vào những tình thế có lợi cho đối phương, thì thế bế tắc có thể bị phá vỡ. Điều đó đã xảy ra khi hội đồng nhân dân Athen phê chuẩn một cuộc chiến trên bộ tại Sicilia mà quân đội của họ hoàn toàn chưa được chuẩn bị, sau đó người Sparta tìm ra những cách thức để quấy rối và cuối cùng đánh bại Athen trên biển. Athen không bao giờ hồi phục được sau sự đảo ngược vai trò này – một thất bại trong việc tôn trọng những cấu trúc từng duy trì sức mạnh của mình, đồng thời tự phơi bày trước những cấu trúc đã ưu ái kẻ thù.

Leonid Brezhnev
Một điều tương tự đã xảy ra với Liên Xô sau khi détente sụp đổ. Ban đầu, Hoa Kỳ dường như bị suy yếu: chính quyền Jimmy Carter gặp khó khăn trong việc xây dựng bất kỳ một đại chiến lược nhất quán nào đối với Liên Xô, trong khi giới lãnh đạo của nước này, ít nhất là từ bên ngoài nhìn vào, lại tỏ ra ngày càng tự tin. Tuy nhiên, xét lại thì Carter và những người phê phán ông thực chất đang tranh luận về cách điều chỉnh chiến lược của Mỹ cho phù hợp với thực tế của kỷ nguyên hậu détente. Ngược lại, Brezhnev và các đồng sự đã đánh giá sai căn bản những thực tế đó, với những hệ quả tàn khốc hơn rất nhiều.
Giới lãnh đạo Liên Xô lúc này đi tới kết luận – như thể lặp lại lập luận của người Mỹ một thập niên trước – rằng cán cân quyền lực toàn cầu đòi hỏi phải có những màn phô diễn quyết tâm ở bất cứ nơi nào uy tín của Moskva có thể bị đe dọa. Sau sự sụp đổ của Nam Việt Nam và thành công bất ngờ của cuộc cách mạng tại Angola, Brezhnev thấy cần thiết phải hỗ trợ các cuộc nổi dậy mới tự nhận là Marxist tại Yemen, Ethiopia và Afghanistan. Lịch sử dường như đang chứng thực Marx tại những nơi mà bản thân Marx hầu như chưa từng nghe tới. Tuy nhiên, nếu nhà nước Marxist hùng mạnh nhất lại không giúp lịch sử “tiến lên”, thì nó có nguy cơ đánh mất uy tín trước những người Marxist hiếu chiến hơn như người Cuba, đồng thời tạo ra cơ hội cho những người Marxist “ly khai” như Trung Quốc. Việc người Yemen, Ethiopia và Afghanistan chỉ có hiểu biết hết sức mơ hồ về chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa Lenin, chủ nghĩa Stalin, chủ nghĩa Mao, và thậm chí cả chủ nghĩa Castro, hầu như không còn quan trọng. Giống như người Mỹ ở Việt Nam – và như người Athen tại Sicilia – chế độ Brezhnev đang già cỗi đã đánh mất khả năng phân biệt đâu là lợi ích sống còn, đâu là thứ có thể bỏ qua.
Các can thiệp của Liên Xô tại những quốc gia này đã làm suy yếu nốt sự ủng hộ ít ỏi còn lại dành cho détente trong nội bộ Hoa Kỳ, mặc dù Carter từng hy vọng khôi phục chiến lược đó. Chúng đặt các tác nhân của Moskva vào thế bị động trước những lực lượng mà họ không hề hiểu rõ: các phạm trù phân tích của chủ nghĩa Marx–Lenin tỏ ra vô dụng trong những xã hội bị chi phối bởi lãnh chúa, chủ nghĩa bộ lạc, và những niềm tin tôn giáo ăn sâu nhưng được biểu hiện một cách bạo lực. Và khi cuộc cách mạng Afghanistan bắt đầu thất bại, vào năm 1979, Brezhnev ra lệnh can thiệp quân sự trên quy mô lớn, với cái giá khổng lồ đối với người dân Afghanistan, đối với chính Liên Xô, và đối với uy tín chống đế quốc của họ. Qua đó, ông đã tiếp sức cho một liên minh tưởng chừng khó có thể hình thành, bao gồm các chiến binh mujahideen Afghanistan cũng như người Pakistan, Iran, Ả Rập Xê Út, Trung Quốc và Hoa Kỳ – những bên đã áp dụng các chiến thuật của Hồ Chí Minh để chống lại đồng minh siêu cường cũ của chính Hồ Chí Minh.
Trong khi đó, trong một sự đánh giá sai khác về các cấu trúc của Chiến tranh Lạnh, giới lãnh đạo Liên Xô đã từ bỏ chính sách lâu dài của mình là cô lập các quốc gia Marx–Lenin khỏi nền kinh tế toàn cầu. Khi những bất cập của hệ tư tưởng đó ngày càng lộ rõ và bất mãn trong xã hội gia tăng, đến đầu thập niên 1970 họ hầu như không còn lựa chọn nào khác ngoài việc nới lỏng chủ nghĩa độc đoán, chế độ tự cung tự cấp. Họ chọn phương án thứ hai, đánh cược rằng bằng cách nhập khẩu công nghệ và thậm chí cả lương thực từ Hoa Kỳ và Tây Âu, họ có thể mua được thời gian cần thiết cho một nỗ lực cải cách khác nữa trong nước và tại Đông Âu – lần này là một nỗ lực sẽ không vượt khỏi tầm kiểm soát và buộc phải bị đàn áp.
Tuy nhiên, trên thực tế, Moskva lại mất kiểm soát theo một cách khác. Các khoản tín dụng tư bản khiến các nước Đông Âu – ngoại trừ Hungary năng động hơn – có rất ít động lực để tiến hành cải cách: họ đơn giản là vay tiền để tài trợ cho nhập khẩu. Trong khi đó, Liên Xô, một nước sản xuất dầu mỏ lớn, lại bị “nghiện” mức giá dầu cao một cách giả tạo do cuộc chiến Trung Đông năm 1973 tạo ra, và điều đó cũng khuyến khích sự tự mãn. Khi thập niên khép lại, các nền kinh tế Liên Xô và Đông Âu đã gắn chặt với nền kinh tế toàn cầu hơn rất nhiều so với thời điểm bắt đầu. Điều đó giải quyết được một số vấn đề nhưng lại tạo ra những vấn đề khác: đáng chú ý là sự co hẹp tín dụng khi các nước Đông Âu gặp khó khăn trong việc trả nợ, và – còn tàn khốc hơn đối với Liên Xô – sự sụt giảm mạnh giá dầu vào đầu thập niên 1980.
Tất cả những điều này diễn ra trong bối cảnh chi tiêu quân sự của Liên Xô tăng vọt, do sự sụp đổ của détente, cuộc chiến Afghanistan, và việc hỗ trợ các cuộc cách mạng tại Thế giới Thứ ba ở những nơi khác. Theo một số ước tính, Liên Xô đã chi tới 25 % tổng sản phẩm quốc nội cho quốc phòng – trong khi con số tương ứng của Hoa Kỳ, trên một nền tảng kinh tế lớn hơn nhiều, chỉ khoảng 5 %. Trong khi đó, mức sống của người dân còn tệ hơn so với thời điểm các nhà lãnh đạo Điện Kremlin lần đầu quyết định đảo ngược chế độ tự cung tự cấp và mạo hiểm hội nhập vào một thế giới vẫn mang tính tư bản chủ nghĩa.
Tuy nhiên, cách thức gây bất ngờ nhất mà Brezhnev và các cố vấn của ông đã đánh giá sai các cấu trúc lại liên quan đến nhân quyền. Liên Xô từ lâu đã tìm kiếm sự công nhận đối với các đường biên giới hậu Thế chiến II tại Đông Âu, và trong tinh thần của détente đã thuyết phục Hoa Kỳ cùng các đồng minh NATO ký một thỏa thuận chính thức theo hướng đó tại Helsinki vào mùa hè năm 1975. Đổi lại, và với một tầm nhìn ngắn hạn đáng kinh ngạc, Brezhnev đã cam kết đất nước mình với nguyên tắc rằng chủ quyền không còn có thể che chắn cho sự tàn bạo – rằng cách thức một nhà nước đối xử với chính công dân của mình là một vấn đề chính đáng để cộng đồng quốc tế quan tâm.
Ông làm điều này với niềm tin rằng chính quyền Liên Xô và Đông Âu có thể dễ dàng kiểm soát bất kỳ xáo trộn nào mà sự nhượng bộ ấy có thể gây ra: điều quan trọng hơn là phải giành được sự công nhận đối với các đường biên giới. Nhưng thực ra không ai có ý định thách thức các đường biên giới đó ngay từ đầu. Trái lại, việc thách thức chế độ cai trị độc đoán giờ đây đã trở thành một hoạt động chính đáng, bởi chữ ký của Brezhnev trên Đạo luật cuối cùng Helsinki đã chính thức xác nhận lập luận mà các đối thủ của Liên Xô vẫn đưa ra trong suốt Chiến tranh Lạnh: rằng chính nhân dân, chứ không phải đảng và các nhà lãnh đạo của nó, mới có quyền tổ chức, bỏ phiếu, và qua đó tự quyết định tương lai của mình.
Những người bất đồng chính kiến, vốn từ lâu hy vọng vào cải cách, giờ đây có thể khẳng định đó là quyền của họ, và chỉ trong vòng vài tháng, những yêu sách ấy đã lan rộng khắp khối Xô viết. Nhiều hoàn cảnh đã ngăn Moskva đàn áp các phong trào này như họ từng làm trong quá khứ. Một là sự lệ thuộc kinh tế vào các nước tư bản nảy sinh từ việc từ bỏ chế độ tự cung tự cấp: bất kỳ sự tái diễn nào của Budapest 1956 hay Praha 1968 đều sẽ dẫn tới việc cắt đứt ngay lập tức các khoản tín dụng, công nghệ và nhập khẩu lương thực, khiến tình hình vốn đã xấu đi càng thêm trầm trọng. Một nguyên nhân khác là mức chi tiêu quân sự mất cân đối, khiến không còn nhiều dư địa – đặc biệt sau cuộc xâm lược Afghanistan – để gánh thêm những gánh nặng quân sự lớn hơn nữa. Nhưng còn có một yếu tố thứ ba: chính những gì mà các nhà lãnh đạo Liên Xô đã cam kết tại Helsinki – một sự ràng buộc công khai phải tôn trọng chính những tiến trình đang bào mòn quyền lực của họ.
Mỗi một trong những tính toán sai lầm này – những thất bại trong việc tôn trọng các cấu trúc từng duy trì sức mạnh của Liên Xô – đã trở thành đối với Moskva điều mà cuộc viễn chinh Sicilia từng là đối với Athen: một sự rời bỏ thiếu cân nhắc khỏi chiến lược lâu dài, với những hệ quả là làm căng giãn quá mức nguồn lực, phơi bày các điểm yếu, và qua đó trao cho kẻ thù những phương tiện để phá vỡ một thế bế tắc kéo dài.
Reagan, Gorbachev và sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh
Đến năm 1981, Liên Xô có rất nhiều kẻ thù: tại Trung Quốc, nơi Đặng Tiểu Bình – người đã hai lần bị thanh trừng – kế nhiệm Mao Trạch Đông và chứng minh rằng một nhà nước Marxist đơn đảng quả thực có thể cải cách nền kinh tế của mình, nhưng chỉ bằng cách tiến gần hơn tới chủ nghĩa tư bản; tại Tiệp Khắc, nơi nhà viết kịch Václav Havel và phong trào do ông sáng lập, Hiến chương 77, đang gây sức ép buộc các nhà lãnh đạo Liên Xô phải tôn trọng các cam kết về nhân quyền tại Helsinki; tại Vatican, nơi một mật nghị giáo hoàng đã khiến thế giới – và đặc biệt là Điện Kremlin – sửng sốt khi bầu ra một giáo hoàng người Ba Lan, quyết tâm thách thức ảnh hưởng của Moskva tại Đông Âu; tại Anh, nơi Margaret Thatcher trở thành thủ tướng bằng cách công kích các nền kinh tế kế hoạch hóa; tại Ba Lan, nơi một công nhân xưởng đóng tàu ở Gdańsk bền bỉ, Lech Wałęsa, đã buộc chính phủ Warszawa phải công nhận Công đoàn Đoàn kết, công đoàn độc lập đầu tiên trong khối Xô viết; và tại Hoa Kỳ, nơi Ronald Reagan trở thành tổng thống sau khi đánh bại dứt khoát nỗ lực tái tranh cử của Carter – với một cam kết công khai là sẽ “khai tử” détente.
Sự xuất hiện đồng thời của quá nhiều đối thủ như vậy gợi ra nhiều điều. Một là một thất bại chiến lược nghiêm trọng tại Moskva, bởi một tiêu chuẩn hiển nhiên để đánh giá thành công của chiến lược là làm giảm, chứ không phải gia tăng, số lượng đối thủ phải đối mặt. Một điều khác là việc làm rung chuyển thế bế tắc của Chiến tranh Lạnh – những bất ổn của thập niên 1970 và những sai lầm trong việc đánh giá các cấu trúc mà chúng đã lôi kéo Liên Xô sa vào – đã phá vỡ cảm giác tất yếu bao quanh tính lưỡng cực: chúng mở ra trong tư duy khả năng rằng sự đối địch giữa hai siêu cường không phải là cách duy nhất có thể hình dung để tổ chức thế giới. Một điều nữa là détente, vốn được thiết kế nhằm thể chế hóa một hệ thống như vậy, rốt cuộc lại dẫn tới việc phi thể chế hóa chính nó.
Bởi lúc này đã trở nên rõ ràng rằng détente không bao giờ có thể chấm dứt Chiến tranh Lạnh: trong trường hợp tốt nhất, nó chỉ có thể khiến cuộc đấu tranh trở nên an toàn và dễ dự đoán hơn. Đó là một bước tiến, nhưng vẫn đồng nghĩa với việc một nửa thế giới phải sống dưới những chính phủ mà họ không hề lựa chọn. Những “người đào mồ” cho détente – Havel, Giáo hoàng John Paul II, Thatcher, Wałęsa, Reagan – đều quyết tâm thay đổi tình trạng đó. Đặng Tiểu Bình thì bằng lòng với hiện trạng ấy nhưng lại theo đuổi một mục tiêu khác, không kém phần triệt để: biến quốc gia đông dân nhất thế giới thành một quốc gia thịnh vượng. Không có một chiến lược chung cho tất cả những điều này – phong trào chống Liên Xô quá đa dạng và rời rạc – nhưng có một sự hội tụ của các chiến lược với một mục tiêu chung. Đó là vượt ra khỏi Chiến tranh Lạnh.
Tuy nhiên, không ai chắc chắn điều đó sẽ diễn ra như thế nào. Nhiều người vẫn lo sợ một cuộc chiến tranh hạt nhân, đặc biệt là Brezhnev đang hấp hối và những người kế nhiệm cũng suy nhược không kém của ông, Yuri Andropov và Konstantin Chernenko. Những người khác hy vọng vào một giải pháp thương lượng, nhưng ban đầu chính quyền Reagan dường như không mấy quan tâm, và ngay cả nếu có quan tâm thì những “ông già” tại Điện Kremlin cũng khó có khả năng đàm phán. Một vài “nhà tiên tri” dự đoán sự sụp đổ của Liên Xô nhưng lại gặp khó khăn trong việc xác định nó sẽ xảy ra như thế nào hoặc khi nào. Một số ít quan chức tại Washington và London nhìn thấy khả năng xuất hiện một nhà lãnh đạo Liên Xô, như Kennan đã dự liệu từ nhiều thập niên trước, người sẽ cảm nhận được những “mâu thuẫn nội tại” của chính hệ thống của mình và tìm cách thay đổi nó. Nhưng ngay cả với Kennan, điều đó cũng hoàn toàn không rõ ràng: làm thế nào một hệ thống Xô viết của đầu thập niên 1980, vốn chưa bao giờ trở nên cố định và bảo thủ như lúc này, lại có thể sản sinh ra một nhân vật có tầm nhìn như vậy.⁷
Cuối cùng, như thường thấy trong lịch sử, mọi kỳ vọng đều bị đảo lộn. Nguy cơ hạt nhân lớn hơn bất cứ thời điểm nào kể từ khủng hoảng tên lửa Cuba, nhưng Reagan hóa ra lại là một người theo chủ nghĩa xóa bỏ vũ khí hạt nhân – người duy nhất từng giữ cương vị tại Nhà Trắng như vậy – và khi nhận ra các rủi ro, ông đã nhanh chóng hành động để giảm thiểu chúng. Hệ thống Xô viết xơ cứng quả thực đã sản sinh ra một đối tác đàm phán là Mikhail Gorbachev, người kế nhiệm Chernenko vào năm 1985, nhưng nó còn tạo ra nhiều hơn thế: Gorbachev hóa ra chính là nhà lãnh đạo Liên Xô mà Kennan từng hy vọng. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, và có lẽ cả của chính ông, Gorbachev đã từ bỏ những tham vọng cách mạng–đế quốc của Liên Xô và bắt tay vào việc biến nhà nước này thành một thành viên “bình thường” của một hệ thống quốc tế trong đó bản thân Chiến tranh Lạnh sẽ không còn là điều “bình thường” nữa.
Tuy nhiên, chính Gorbachev cũng đã đánh giá sai một cấu trúc – đó là cấu trúc của bản thân Liên Xô. Hóa ra rằng việc từ bỏ hệ tư tưởng, từ bỏ phạm vi ảnh hưởng, và thừa nhận quyền ly khai của các dân tộc không phải người Nga – mà đồng thời không chuyển hóa nhà nước ấy thành một nền dân chủ đa đảng và một nền kinh tế thị trường – chẳng khác nào khoét rỗng nó từ bên trong: Gorbachev đã để lại cho Liên Xô không còn lý do để tồn tại. Ông không bao giờ có thể tự mình thừa nhận thực tế đó, nhưng người kế nhiệm ông, Boris Yeltsin, thì nhìn thấy nó một cách rõ ràng. Bởi cũng như các nhà tư tưởng có tầm nhìn của thập niên 1980 đã hiểu rằng détente, do đã kéo dài Chiến tranh Lạnh, cần phải bị loại bỏ, thì nhân vật có tầm nhìn của đầu thập niên 1990 này cũng đi tới kết luận rằng điều tương tự giờ đây đúng với chính Liên Xô.
Một kết luận theo tinh thần Clausewitz
Chiến tranh Lạnh đã kết thúc theo một cách khác với Chiến tranh Peloponnese, và thực sự khác với tất cả các cuộc đại chiến khác mà chúng ta biết: bằng sự sụp đổ trong hòa bình – không cần đến đầu hàng – của một trong những bên tham chiến. Các đại chiến lược ở tất cả các phía đều góp phần tạo ra kết cục này, bởi không bên nào coi bạo lực là mục đích tự thân. Mỗi bên đều tôn trọng lời dạy của nhà nghiên cứu chiến lược vĩ đại nhất trong lịch sử, Carl von Clausewitz, người luôn khẳng định rằng chiến tranh, trong mọi khía cạnh và vào mọi thời điểm, phải phản ánh chính sách. Trong Chiến tranh Lạnh, chiến lược còn đi xa hơn nguyên tắc đó khi thay thế cho chiến tranh trong hầu hết các phương diện của nó. Và vì vậy, nền văn minh hiện đại – ngoại trừ Marx và những hậu duệ ý thức hệ của ông – đã không đi theo quỹ đạo của nền văn minh Hy Lạp, vốn chỉ còn sống sót sau Chiến tranh Peloponnese dưới dạng nghệ thuật, tư tưởng và phế tích.
Không có một chiến lược đơn lẻ, một nhà chiến lược đơn độc hay một quốc gia riêng lẻ nào chịu trách nhiệm cho thành tựu này. Thay vào đó, tất cả đã thích nghi và tiến hóa trong cùng một hệ sinh thái chung, hoặc – khi không thể làm được điều đó – thì chấp nhận sự tuyệt chủng một cách bình thản. Hệ quả là Chiến tranh Lạnh vừa giống với quá khứ, nhưng cũng không phản chiếu quá khứ trong mọi phương diện. Thucydides hẳn sẽ không lấy làm ngạc nhiên.
Danh mục tiểu luận
Ấn bản tốt nhất của Thucydides là Robert B. Strassler (chủ biên), The Landmark Thucydides: A Comprehensive Guide to the Peloponnesian War, bản chỉnh sửa từ bản dịch của Richard Crawley (New York: Simon & Schuster, 1996). Về các công trình hiện đại, xem Donald Kagan, The Peloponnesian War (New York: Viking, 2003), và Victor Davis Hanson, A War Like No Other: How the Athenians and the Spartans Fought the Peloponnesian War (New York: Random House, 2005). Louis J. Halle, trong The Cold War as History (New York: Harper & Row, 1967), là một trong những sử gia Chiến tranh Lạnh đầu tiên vận dụng các phép so sánh cổ đại, trong đó có Thucydides.
Geoffrey Roberts, Stalin’s Wars: From World War to Cold War, 1939–1953 (New Haven, CT: Yale University Press, 2006), nhấn mạnh kỹ năng đại chiến lược của Iosif Stalin, nhưng trình bày khá mỏng về các năm Chiến tranh Lạnh. Đối với giai đoạn này, xem Vojtech Mastny, The Cold War and Soviet Insecurity: The Stalin Years (New York: Oxford University Press, 1996), và Vladislav Zubok cùng Constantine Pleshakov, Inside the Kremlin’s Cold War: From Stalin to Khrushchev (Cambridge, MA: Harvard University Press, 1996). Về Nikita Khrushchev, xem thêm William Taubman, Khrushchev: The Man and His Era (New York: Norton, 2003), và Aleksandr Fursenko cùng Timothy Naftali, Khrushchev’s Cold War: The Inside Story of an American Adversary (New York: Norton, 2006). Công trình tổng quát tốt nhất hiện nay về đại chiến lược Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh là Vladislav M. Zubok, A Failed Empire: The Soviet Union from Stalin to Gorbachev (Chapel Hill, NC: University of North Carolina Press, 2007).
Patrick O. Cohrs, The Unfinished Peace after World War I: America, Britain and the Stabilisation of Europe, 1919–1932 (Cambridge: Cambridge University Press, 2006), giải thích vì sao không thể hình thành một đại chiến lược thời bình hiệu quả sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Về Franklin D. Roosevelt, xem Robert Dallek, Franklin D. Roosevelt and American Foreign Policy, 1932–1945 (New York: Oxford University Press, 1979); và về Harry S. Truman, xem Melvyn P. Leffler, A Preponderance of Power: National Security, the Truman Administration, and the Cold War (Stanford, CA: Stanford University Press, 1992). John Lewis Gaddis, We Now Know: Rethinking Cold War History (New York: Oxford University Press, 1997), trình bày nguồn gốc và sự phát triển của Chiến tranh Lạnh cho đến năm 1962. Về chiến lược kiềm chế, xem John Lewis Gaddis, Strategies of Containment: A Critical Appraisal of American National Security Policy during the Cold War, bản sửa đổi và mở rộng (New York: Oxford University Press, 2005).
Marc Trachtenberg, A Constructed Peace: The Making of the European Settlement, 1945–1963 (Princeton, NJ: Princeton University Press, 1999), chỉ ra vì sao trật tự châu Âu sau Chiến tranh Thế giới thứ hai bền vững hơn trật tự sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Về sự mở rộng của Chiến tranh Lạnh sang châu Á, xem Thomas J. Christensen, Useful Adversaries: Grand Strategy, Domestic Mobilization, and Sino-American Conflict, 1947–1958 (Princeton, NJ: Princeton University Press, 1996). David Holloway, Stalin and the Bomb (New Haven, CT: Yale University Press, 1994), và McGeorge Bundy, Danger and Survival: Choices about the Bomb in the First Fifty Years (New York: Random House, 1988), khảo sát sự hình thành chiến lược hạt nhân của Liên Xô và Hoa Kỳ. Về chiến lược của các siêu cường tại Thế giới Thứ ba, xem Odd Arne Westad, The Global Cold War: Third World Interventions and the Making of Our Times (New York: Cambridge University Press, 2005).
Jeremi Suri, Power and Protest: Global Revolution and the Rise of Détente (Cambridge, MA: Harvard University Press, 2003), cho thấy các phong trào phản kháng trong thập niên 1960 đã thúc đẩy Liên Xô, Hoa Kỳ và Trung Quốc tìm cách chính thức hóa thế bế tắc của Chiến tranh Lạnh. Margaret MacMillan, Nixon and Mao: The Week That Changed the World (New York: Random House, 2007), ghi lại tiến trình hòa hoãn Trung–Mỹ như một phần của quá trình đó. Aaron L. Friedberg, In the Shadow of the Garrison State: America’s Anti-Statism and Its Cold War Grand Strategy (Princeton, NJ: Princeton University Press, 2000), bàn về việc huy động trong nước cho Chiến tranh Lạnh tại Hoa Kỳ; trong khi Matthew J. Ouimet, The Rise and Fall of the Brezhnev Doctrine in Soviet Foreign Policy (Chapel Hill, NC: University of North Carolina Press, 2003), phân tích các khủng hoảng kinh tế và địa–chính trị bên trong Liên Xô trong thời kỳ détente. Về vấn đề nhân quyền đang nổi lên, xem Daniel C. Thomas, The Helsinki Effect: International Norms, Human Rights, and the Demise of Communism (Princeton, NJ: Princeton University Press, 2001).
Cho đến nay vẫn còn ít công trình viết về vai trò của đại chiến lược trong việc kết thúc Chiến tranh Lạnh, nhưng một số nỗ lực ban đầu đáng chú ý gồm Raymond Garthoff, The Great Transition: American-Soviet Relations and the End of the Cold War (Washington, DC: Brookings Institution, 1994); Philip Zelikow và Condoleezza Rice, Germany Unified and Europe Transformed: A Study in Statecraft (Cambridge, MA: Harvard University Press, 1995); Don Oberdorfer, From the Cold War to a New Era: The United States and the Soviet Union, 1983–1991, bản cập nhật (Baltimore, MD: Johns Hopkins University Press, 1998); cũng như John Lewis Gaddis, The Cold War: A New History (New York: Penguin, 2005), và các chương cuối trong Strategies of Containment của Gaddis.
John Patrick Diggins, Ronald Reagan: Fate, Freedom, and the Making of History (New York: Norton, 2007), tìm cách đặt chiến lược của Reagan trong một bối cảnh lịch sử rộng lớn, trong khi Paul Lettow, Ronald Reagan and His Quest to Abolish Nuclear Weapons (New York: Random House, 2005), tập trung vào riêng khía cạnh đó. William Taubman đang chuẩn bị cuốn tiểu sử mang tính chuẩn mực về Mikhail Gorbachev; cho đến khi công trình này xuất bản, các nguồn tốt nhất về chiến lược của Gorbachev vẫn là Memoirs của ông (New York: Doubleday, 1995), và Anatoly S. Chernyaev, My Six Years with Gorbachev, do Robert D. English và Elizabeth Tucker dịch và biên tập (University Park, PA: Pennsylvania State University Press, 2000).
Đối với tác phẩm kinh điển của Clausewitz, ấn bản đáng tin cậy duy nhất là Carl von Clausewitz, On War, do Michael Howard và Peter Paret biên tập và dịch (Princeton, NJ: Princeton University Press, 1976), trong đó còn có các tiểu luận hữu ích của hai biên tập viên và của Bernard Brodie. Phân tích riêng của Brodie về tính thích hợp của Clausewitz đối với Chiến tranh Lạnh – và cả đối với Thucydides – nằm trong War and Politics (New York: Macmillan, 1973).
Chú thích
1. Homer, The Iliad, bản dịch của Robert Fagles (New York: Penguin Books, 1990), tr. 371. Về tình trạng mù chữ của các nhân vật trong Iliad, xem phần dẫn nhập của Bernard Knox cho ấn bản này, tr. 7–8.
2. Robert B. Strassler (chủ biên), The Landmark Thucydides: A Comprehensive Guide to the Peloponnesian War, ấn bản chỉnh sửa của bản dịch Richard Crawley (New York: Simon & Schuster, 1996), tr. 16.
3. George F. Kennan, Memoirs: 1925–1950 (Boston, MA: Little, Brown, 1967), tr. 129–130.
4. Strassler (chủ biên), The Landmark Thucydides, tr. 98, 125.
5. Sđd., tr. 43. So sánh với Melvyn P. Leffler, A Preponderance of Power: National Security, the Truman Administration, and the Cold War (Stanford, CA: Stanford University Press, 1992), tr. 445.
6. Strassler (chủ biên), The Landmark Thucydides, đặc biệt tr. 24, 365.
7. John Lewis Gaddis, The United States and the End of the Cold War: Implications, Reconsiderations, Provocations (New York: Oxford University Press, 1992), tr. 126–127.

Lịch sử
/lich-su
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất








