Thống chế Jourdan, Tướng Quân của Nền cộng hòa và một trong các thống chế của Đệ nhất Đế chế Pháp dưới thời Hoàng đế Napoleon Bonaparte, là một nhân vật quan trọng trong những ngày đầu của nền cộng hòa và lí do vì sao Pháp giành được Bỉ. Tuy nhiên, so với các nhân vật khác như Davout hay Soult, Jourdan lại không nhận quá nhiều sự chú ý, thế nên mình muốn dịch một phần tiểu sử nhân vật này để người từng đứng ngang hàng với cả Bonaparte và Moreau trong mặt trận chiến dịch Rhine năm 1796, và một trong số các thống chế quan trọng của mặt trận Bán Đảo Tây Ban Nha. 

Tướng Quân của Nền Cộng Hòa 

Không ai có thể khẳng định rằng Jourdan là ngôi sao sáng nhất trong thiên hà Thống chế Đế quốc Napoleon, nhưng chắc chắn rằng ông sở hữu một tầm nhìn chiến lược sáng suốt hơn hầu hết các đồng nghiệp, dù ông phải chịu nhiều bất lợi mà họ không phải chịu. Trong số các thống chế còn tại ngũ, duy nhất mình ông phải học nghệ thuật chỉ huy cấp cao ngay "trên thực địa". Và nhờ vào một chiến dịch bôi nhọ thanh danh bị cố tình kéo dài, phần lớn do Carnot khởi xướng, ông đã gặp vận rủi khi bị coi là một kẻ nghiệp dư vụng về trong mắt những Thống chế như Soult, Ney và Mortier — những người từng là sĩ quan dưới quyền ông trong những ngày hoàng kim của Tập đoàn quân Sambre-et-Meuse.
Quân đoàn Sambre-et-Meuse
Quân đoàn Sambre-et-Meuse
Ông cũng bị hành hạ bởi tình trạng sức khỏe yếu kém dai dẳng và niềm tin ngây thơ vào những giá trị cộng hòa, điều khiến ông trở thành nghi phạm với những tay hung thần ở Ủy ban An ninh Công cộng và sau này là tướng quân Bonaparte. Giống như thống chế Bessieres, ông là con trai của một bác sĩ phẫu thuật — một nghề nghiệp thấp kém trong nấc thang xã hội thời bấy giờ — vì vậy không bao giờ có chuyện ông có thể khao khát một chức vụ sĩ quan trong quân đội Bourbon vốn xem trọng ý thức giai cấp.
Ngay khi Vương quốc Pháp liên minh với các thuộc địa Mỹ và tuyên chiến với Anh, chàng trai trẻ Jourdan, khi đó còn thiếu một tháng nữa mà mấy ngày tới mới đến sinh nhật 16 tuổi, đã nhập ngũ tại Dépôt des Colonies trên đảo Ré. Sau tám tháng huấn luyện cơ bản, ông được điều động vào ngày 10 tháng 12 năm 1778 đến Trung đoàn Auxerrois và phục vụ tại Tây Ấn. Trải nghiệm tham chiến đầu tiên và duy nhất của ông là trong cuộc tấn công trái phép và thảm khốc của D’Estaing vào Savannah. Cuộc tấn công bị đẩy lui bởi một đơn vị của Trung đoàn 6, để lại 637 thương vong cho Pháp và 264 cho bên địch trước các công sự Anh mới được xây dựng.
Lực lượng rệu rã của D’Estaing rút về vùng Caribbean, nơi khí hậu khó chịu với người Pháp không kém gì người Anh. Vào ngày 1 tháng 1 năm 1782, Jourdan trở về Pháp trong tình trạng kiệt sức vì một cơn sốt — thứ sẽ còn hành hạ ông theo từng đợt trong suốt phần đời còn lại. Phải mất gần hai năm ông mới đủ sức khỏe để tái ngũ, nhưng lúc đó hòa bình đã được ký kết. Ông giải ngũ vào ngày 26 tháng 7 năm 1784 khi mới chỉ là một binh nhì.
Trở về nơi sinh ra là Limoges, ông mở cửa hàng tạp hóa và kết hôn với một thợ may vào năm 1788, họ có với nhau năm cô con gái. Những kẻ gièm pha sau này cho rằng ông chẳng qua chỉ là một kẻ bán rong, nhưng có khả năng ông kinh doanh khá quy mô vì khi lực lượng Vệ binh Quốc gia được thành lập vào tháng 7 năm 1789, ông được bầu làm đại úy của đại đội khinh binh Limoges. Lực lượng mới này về cơ bản là một tổ chức của giai cấp tư sản, và khó có khả năng họ lại bầu một kẻ bán hàng rong nay đây mai đó với kinh nghiệm quân sự ít ỏi vào một vị trí đầy trách nhiệm như vậy.
Trong bối cảnh hòa bình đầy biến động thời đó, Đại úy Jourdan khó có thể học hỏi được nhiều trong hai năm tiếp theo; nhưng chắc chắn ông đã tạo được uy tín. Sau khi cuộc chạy trốn đến Varennes chấm dứt vĩnh viễn nền quân chủ, Quốc hội đã kêu gọi thành lập 169 tiểu đoàn từ quân đội tình nguyện, và một lần nữa qua bầu cử, ông trở thành tiểu đoàn trưởng (chef de bataillon) của Tiểu đoàn Tình nguyện số 2 trực thuộc vùng Haute-Vienne. Sự thăng tiến nhanh chóng này là một điều may mắn, vì nhóm Tình nguyện viên đầu tiên này có chất lượng rất tốt, nhiều người trong số họ là quân nhân giải ngũ hoặc những người được huấn luyện từ lực lượng dân quân đã giải tán. Hơn nữa, họ là những tráng sĩ có tâm thực thụ, khác hẳn với các đợt cưỡng bách quân dịch năm 1792–1793 — những kẻ vốn mang đặc điểm "vô kỷ luật, ngu dốt, kiêu ngạo và hèn nhát," khó có thể mang lại danh tiếng tốt cho chỉ huy cầm đầu.
Tiểu đoàn Tình nguyện số 2 của vùng Haute-Vienne nhanh chóng trở thành một đội quân đáng tin cậy, tháo vát. Sau khi Jourdan dẫn dắt họ đi qua chiến thắng Jemappes (6/11/1792) và trận thua tại Neerwinden (18/3/1793), ông được công nhận là một nhà lãnh đạo bẩm sinh và được thăng cấp Thiếu tướng vào ngày 27/5/1793, và hai tháng sau đó là Trung tướng. Ngay cả khi xét đến việc quân đội đã mất 5.500 sĩ quan trong tổng số 9.578 người trong 18 tháng, đây vẫn là sự thăng tiến nhanh chóng đáng kinh ngạc.
trận Jemappes
trận Jemappes
Sau sáu tuần giao chiến lần đầu với quân Anh tại Linselles, Jourdan dẫn dắt sư đoàn của mình vào Trận Hondschoote (8/9/1793) — một trận chiến rời rạc - Jourdan cũng thể hiện khả năng chỉ huy kém tại đây, và dù là thắng lợi về mặt chiến thuật, đây lại là thất bại chiến lược đối với Pháp. Đấy là một ngày đầy thăng trầm đối với ông: bắt đầu bằng một cuộc tiến quân thắng lợi, nhưng sau đó áp lực chính trị buộc ông phải tiếp tục tiến lên dù ông muốn dừng lại để củng cố quân đoàn, dẫn đến việc quân tiền phong bị đẩy lùi trong hỗn loạn. May mắn thay, ông đã kịp dùng một tiểu đoàn dự phòng để bọc hậu, đồng thời đồng cấp gốc Hanover kia cũng rút đi sau khi hoàn thành vai trò bảo vệ. Trong giai đoạn cuối này, Jourdan bị một vết thương ở ngực. Khi vết thương chưa kịp lành, ông đã được chỉ định (22/9) vào vị trí chỉ huy Tập đoàn quân Phương Bắc.
Tại thời điểm mà hai người tiền nhiệm là Custine và Houchard đang trên đường ra máy chém, việc lãnh đạo Tập đoàn quân chủ lực của Pháp là một viễn cảnh đáng sợ. Tại trụ sở của ông, cũng như mọi Tập đoàn đoàn khác, có bốn Đại biểu nhân dân với quyền lực tuyệt đối. Nhiệm vụ của họ là đảm bảo sự trung thành của mọi người lính, đặc biệt là tổng chỉ huy, vì bốn người trong số đó (bao gồm cả Lafayette) đã đào tẩu sang phe địch. Họ cũng được lệnh đưa ra tòa án cách mạng bất kỳ ai mà họ coi là đã "gây ra sự mất tổ chức của quân đội." Việc thua một trận chiến đương nhiên bị coi là gây mất tổ chức, nhưng theo quan điểm từ một số Đại biểu, việc không nghe lời khuyên của họ cũng tội lỗi tương đương. Vì phần lớn trong số họ hoàn toàn mù tịt về quân sự, việc nghe lời khuyên của họ rất có thể sẽ tạo ra sự hỗn loạn tột cùng.
Thử thách đầu tiên của Jourdan không chậm trễ. Thân vương Saxe-Coburg Saalfeld, chỉ huy quân Áo, đã vây hãm Maubeuge. Quân tiếp viện Pháp gồm 20.000 người không nhỏ hơn bao nhiêu so với lực lượng vây hãm của Thân vương Orange, và có một quân đoàn yểm trợ 20.000 người dưới quyền Clerfayt. Lệnh của Jourdan là giải vây cho Maubeuge ngay lập tức. Để giám sát việc này, không ai khác ngoài Lazare Carnot đã đích thân đến để tăng thêm sức nặng cho "lời khuyên" của các Đại biểu.
Tài năng của Carnot với tư cách là "Nhà tổ chức chiến thắng" là không thể tranh cãi, nhưng kỹ năng chiến thuật của ông thì chỉ ở mức tối thiểu. Carnot khăng khăng thực hiện một cuộc bao vây hai mặt kết hợp với tấn công trực diện, làm phân tán ưu thế về quân số của Pháp. Kế hoạch này dẫn đến thất bại nặng nề và khiến Pháp mất 12 khẩu pháo. Ngày hôm sau, Jourdan đã hành động theo phán đoán của riêng mình, tập trung sức mạnh chủ lực vào cánh phải và biến Trận Wattignies (15-16/10/1793) thành một chiến thắng, giải vây cho Maubeuge. Carnot trở về Paris với lời kể câu chuyện bên trên theo thiên kiến của riêng mình, trong đó ông ta không hề có chút thiện cảm nào dành cho tướng Jourdan.
Những mệnh lệnh mới đến từ chữ ký của Carnot nhanh chóng đến tay Jourdan: Tâp đoàn Phương Bắc phải vượt sông Sambre, bao vây kẻ thù, cắt đứt liên lạc và đốt kho lương của họ. Nhưng đồng thời, Jourdan lại được yêu cầu giữ quân liên kết lại, giữ liên lạc với các pháo thủ phía sau và hạn chế giao tranh ở các tiền đồn. Không có lời giải thích hay biện minh nào cho việc làm thế nào để bao vây kẻ thù trong khi quân Pháp vẫn phải tập trung thành một cụm, tại một điểm cố định.
Như một lẽ dĩ nhiên, tướng Jourdan phản đối, chỉ ra rằng "bộ binh không có giày, kỵ binh không có cỏ khô và pháo binh thì không có ngựa,". Kết quả là ông bị triệu tập về Paris khi Thời kỳ Khủng Bố đang hoành hành Paris. Ngày 10/1/1794, ông bị đưa ra trước Ủy ban An toàn Công cộng. Tuy nhiên, một cựu tu sĩ tên là Ernest Joseph Duquesnoy đã đứng ra bảo vệ ông. Duquesnoy đã phản bác lại phiên bản của Carnot về trận Wattignies và thậm chí còn đem tính mạng mình ra bảo đảm cho sự trung thành của Jourdan. Vị cựu tu sĩ đã cứu được mạng sống của vị tướng, nhưng không cứu được chức vụ của ông. Jourdan bị bãi nhiệm và bị yêu cầu "trở về nơi cư trú ngay lập tức." Đến ngày 27/1, Jourdan đã quay lại cửa hàng tạp hóa tại Limoges.
Cơ cấu tổ chức và sự phát triển của Tập đoàn quân Moselle
Cơ cấu tổ chức và sự phát triển của Tập đoàn quân Moselle
Chỉ hơn một tháng sau, ông được trọng dụng trở lại và bổ nhiệm vào Tập đoàn quân Moselle. Ngày 5/5, ông hành quân lên phía bắc, tiếp nhận chỉ huy lực lượng lên tới 96.000 người — một trọng trách không hề nhỏ đối với người vừa suýt mất đầu 6 tháng trước đó. Quân đoàn này sau đó nhận được cái tên bất tử: Tập đoàn quân Sambre-et-Meuse.
Sau một vài thất bại ban đầu, Jourdan tấn công lại vào ngày 18/6 và vận dụng nỗi khiếp sợ mà Đại biểu St.-Just gieo rắc để khiến Charleroi đầu hàng vào ngày 26/6. Cùng ngày hôm đó, tướng địch là Coburg tiến tới để giải vây nhưng đã muộn. Tại Trận Fleurus, mặc dù quân Áo đã chọc thủng được cả hai cánh, nhưng sự kiên cường của các tướng lĩnh Pháp ( - đặc biệt là Thống chế tương lai Lefebvre ) đã giúp tướng Jourdan giành chiến thắng. Đây là thắng lợi quyết định vận mệnh của Bỉ - Vùng đất Thấp trong suốt 20 năm sau đó. Tuy nhiên, một lần nữa, câu chuyện lưu truyền tại Paris lại kể rằng chính Carnot đã dẫn đầu cuộc tấn công cuối cùng bằng cách vẫy chiếc mũ dân sự trên đầu mũi kiếm. Thực tế, ngày hôm đó Carnot đang "tổ chức chiến thắng" ở một nơi nào khác.
Trận Fleurus năm 1794
Trận Fleurus năm 1794

Vận mệnh thăng trầm — Cây gậy thống chế và Tây Ban Nha (1795–1809)

Sau thất bại của liên quân tại Turcoing, chiến thắng Fleurus đã khiến người Áo quyết định từ bỏ vùng Hà. Bước đi này đẩy người Hà Lan vào tình trạng hoàn toàn ngơ ngác và buộc người Anh cùng các lực lượng phụ trợ vùng Hanover và Hesse phải tìm đường tháo chạy về Emden. Con đường giờ đây đã rộng mở cho Tập đoàn quân Sambre-et-Meuse tiến quân thần tốc. Họ tiến vào Brussels trong vinh quang, chiếm Namur, và trong suốt mùa thu đã tiến đến sông Rhine tại Coblenz, Cologne và Dusseldorf. Vào thời điểm đó, Robespierre và St.-Just đã lên máy chém, và nước Pháp bắt đầu củng cố nền quốc phòng được tái tổ chức đồng thời dò dẫm xây dựng một bản hiến pháp mới.
Phải đến năm 1796, cuộc chiến của Jourdan mới bùng nổ trở lại. Paris lên kế hoạch cho một cuộc tấn công hai gọng kìm vượt sông Rhine nhằm bao vây quân đội của Đại vương công Charles. Carnot, người vạch ra kế hoạch này, vẫn chưa bỏ được thói quen yêu thích các cuộc bao vây kép hay học được bài học về sự nguy hiểm khi tác chiến trên các tuyến đường ngoại biên. Tập đoàn quân Sambre-et-Meuse ở cánh trái tiến xa hơn hẳn so với Tập đoàn quân Rhine-et-Moselle chậm chạp dưới quyền tướng Moreau. Jourdan đã nhìn thấy biên giới vùng Bohemia gần Amberg trước khi Đại vương công tập trung quân chống lại ông. Khi rút lui về Wurzburg, quân Pháp bị đánh bại trong một trận chiến ác liệt (3/9/1796) và phải lùi về sông Rhine. Jourdan đã phải chịu đựng những đợt bạo bệnh — di chứng từ thời ở Caribbean — xuyên suốt chiến dịch và đã từ chức chỉ huy vào cuối tháng 9.
Mặt trận Rhine năm 1796
Mặt trận Rhine năm 1796
Trong vòng vài tuần, ông được tái bổ nhiệm vào Tập đoàn quân Phương Bắc đang án binh bất động. Nhưng trong hai năm sau đó, hoạt động của ông chủ yếu mang tính chính trị khi ông được bầu làm đại biểu cho vùng Haute-Vienne và sớm trở thành Chủ tịch Hội đồng Năm trăm. Chính trong nhiệm kỳ này, Đạo luật Nghĩa vụ quân sự (5/9/1797) — thường được nhớ đến với tên gọi "Đạo luật Jourdan" — đã được thông qua. Một tháng sau, ông từ chức để nhận nhiệm vụ tại Tập đoàn quân Mayence, lực lượng mà tháng 3 năm sau được đổi tên một cách lạc quan thành Tập đoàn quân Danube. Lúc này, ông cũng nắm quyền chỉ huy trên danh nghĩa đối với Tập đoàn quân Helvetia (của Massena) ở cánh phải và Quân đoàn Quan sát khiêm tốn hơn (của Bernadotte) ở cánh trái. Lực lượng này được dùng để mở màn cuộc chiến mới chống lại Đế quốc Áo bằng cách đánh xuyên qua vùng Baden trung lập. Jourdan hành quân một cách lạc quan và nhận xét:
"Nếu bộ trưởng giữ lời, tôi sẽ có mặt ở Vienna."
Tay bộ trưởng đã không giữ lời. Thay vì 124.000 quân như đã hứa, ba quân đoàn chỉ có tổng cộng 72.000 người. Vào ngày 25/3/1799, Jourdan với 34.823 quân và 62 khẩu pháo phải đối đầu với Đại vươngcông Charles nắm trong tay 72.335 quân và 114 khẩu pháo tại Stockach. Tin rằng sự táo bạo là nguồn lực duy nhất, Jourdan đã tấn công và đạt được một kết quả hòa về mặt chiến thuật. Tuy nhiên, vị trí của ông không thể duy trì lâu dài, và một lần nữa bị hành hạ bởi cơn sốt, ông rút lui về Strasbourg và bị thay thế bởi Massena. Bất chấp hai thất bại nghiêm trọng, ông lập tức được trọng dụng lại với vai trò Tổng thanh tra bộ binh.
Cuộc đảo chính của Tướng Napoleon
Cuộc đảo chính của Tướng Napoleon
Những rắc rối tiếp theo của ông nằm ở lĩnh vực chính trị. Tướng quân Bonaparte đã tìm kiếm sự giúp đỡ của ông trước cuộc đảo chính tháng Sương mù (11/1799) nhưng bị từ chối. Jourdan rất sẵn lòng với việc phải thay đổi chính phủ — "Tôi ghê tởm sự yếu kém của chính quyền Đốc chính... và đồng thuận với quan điểm với những người nghĩ rằng cần phải phế bỏ họ" — nhưng sự khác biệt căn bản của ông với Bonaparte nằm ở việc cái gì sẽ thay thế chính quyền đấy. Jourdan muốn mở rộng nền tảng chính phủ, còn Bonaparte muốn thu hẹp nó. Hệ quả là ông trở thành đối tượng bị nghi ngờ của chính quyền Tổng tài mới và thậm chí có tin đồn về việc trục xuất ông. May mắn thay, uy tín còn sót lại từ trận Fleurus đã lớn hơn cả tư tưởng cộng hòa và ký ức thất bại Stockach. Ông được trọng dụng lại ở các vị trí không quá quan trọng, và khá bất ngờ, ông nằm trong nhóm đầu tiên được phong Thống chế của Đế chế vào năm 1804.
Cuộc bổ nhiệm quan trọng đầu tiên của ông dưới thời Napoleon là kết quả từ sự tham lam của Massena. Khi Joseph Bonaparte trở thành Vua xứ Naples, những vụ tham ô của chỉ huy quân đội tại đó (Công tước Rivoli) lớn đến mức Hoàng đế thấy cần phải cử một người còn có lương tri đến làm toàn quyền Naples. Ông chọn Jourdan (3/1806). Một tình bạn nồng ấm đã nảy nở giữa vị vua và vị thống chế 44 tuổi, đến mức khi Joseph được điều sang ngai vàng Tây Ban Nha, ông đã yêu cầu Jourdan đi cùng làm Tổng tham mưu.
Joseph Bonaparte, anh trai của Hoàng đế Napoleon Bonaparte
Joseph Bonaparte, anh trai của Hoàng đế Napoleon Bonaparte
Việc phê chuẩn bổ nhiệm này bị trì hoãn và mãi đến ngày 22/8/1808, Jourdan mới hội quân cùng Joseph tại thủ đô tạm thời là Vitoria. Việc Joseph ở lại Madrid chỉ kéo dài hơn một tuần trước khi tin tức về việc Dupont đầu hàng tại Bailen buộc nhà vua phải rút lui về sau sông Ebro. Tại đó, vua và thống chế chẳng có việc gì nhiều để làm cho đến khi Napoleon đích thân đưa Đại quân sang Tây Ban Nha, chiếm lại Madrid. Giữa tháng 1/1809, Hoàng đế lên đường về Paris, để lại một kế hoạch tổng thể nhằm bình định bán đảo và tuyên bố rằng "chuyện ở Tây Ban Nha đã xong xuôi."
Đánh giá của Napoleon dựa trên một loạt những ngộ nhận nguy hiểm, nhất là việc ông tin rằng người Anh sẽ không dám can thiệp vào Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha một lần nữa. Ông tin chắc rằng quân đội không cần tiếp tế vì "ở đây cái gì cũng có sẵn." Ông cũng mặc định các quân đoàn được tự do di chuyển, mà theo lời Jourdan là "cứ như thể các con đường ở đây cũng dễ đi như đường từ Paris đến Lyons vậy." Với Napoleon, những yếu tố này không quan trọng vì ông luôn lặp lại rằng toàn bộ lực lượng vũ trang Tây Ban Nha không thể chống lại nổi 10.000 quân Pháp.
Vì vậy, Jourdan thấy mình bị buộc phải triển khai một kế hoạch mà ông không mấy có niềm tin vào nó. Tệ hơn nữa, các cấp dưới trên danh nghĩa của ông — những người như Bessieres, Mortier, Ney, Soult và Victor — hầu như không thèm tuân theo mệnh lệnh từ vị Tổng tham mưu. Không ai trong số họ coi trọng tài năng quân sự của ông, và tất cả sớm nhận ra rằng họ có thể bỏ qua vị thống chế để khiếu nại trực tiếp lên Hoàng đế mà không bị phạt, và Napoleon cũng thường xuyên gửi lệnh trực tiếp cho họ. Vị thế của ông cũng chẳng khá hơn - do ác ý đến từ triều đình hoặc lỗi chế bản mà tên ông bị sót khỏi danh sách các thống chế trong niên giám năm 1809.
Chiến tranh Bán đảo 1807-1814
Chiến tranh Bán đảo 1807-1814
Khủng hoảng đến vào tháng 7/1809. Một đội quân do Gregorio Cuesta (36.000 người Tây Ban Nha) và Arthur Wellesley (21.000 người Anh) dẫn đầu đang tiến về Madrid. Jourdan tập trung 46.000 quân để chặn đường, trong khi Soult với 50.000 quân khác đang hành quân từ phía bắc để cắt đường rút lui của địch. Lực lượng của Jourdan nằm dưới quyền chỉ huy danh nghĩa của Vua Joseph. Họ chỉ cần giữ vững vị trí để đợi Soult đến, nhưng Thống chế Victor — người có mặt tại đó — lại nghĩ mình giỏi hơn. Ngày 27/7, sau khi từ chối ba mệnh lệnh trực tiếp, Victor đã gây gổ công khai, buộc tội Jourdan là kém cỏi ngay trước mặt toàn thể ban tham mưu. Sau đó, từ trạng thái lờ đờ, ông ta chuyển sang hành động mù quáng khi tung ra một cuộc tấn công đêm trái phép vào vị trí của người Anh tại đồi Medellin. Cuộc tấn công bị đẩy lui đẫm máu, nhưng Victor vẫn tự ý tiếp tục tấn công vào rạng sáng với kết quả tương tự.
Lược đồ trận Talavera
Lược đồ trận Talavera
Jourdan khuyên Joseph rằng quân đội chỉ nên giữ vị trí để kìm chân kẻ thù cho đến khi Soult tới. Nhưng Victor khăng khăng đòi tấn công lần cuối, tuyên bố: "Nếu chúng ta không chiếm được ngọn đồi đó, tốt nhất nên bỏ hẳn nghề làm lính đi." Vua Joseph sợ rằng nếu đứng về phía Jourdan, Victor sẽ báo cáo lên Hoàng đế rằng ông ta bị Vua Tây Ban Nha ngăn cản để giành lấy chiến thắng lẫy lừng, nên đã để vị thống chế trẻ tuổi tự ý hành động. Cuộc tấn công lần thứ ba cũng thất bại thảm hại. Sự ngạo mạn của Victor đã mang lại cho người Anh một chiến thắng chiến thuật, sau đó trở thành chiến thắng chiến lược khi Wellesley kịp rút lui về Badajoz do Thống chế Soult đến quá muộn. Mọi chuyện càng tệ hơn bởi báo cáo của Joseph vốn chứa đầy những lời nói dối về một chiến thắng, khiến Napoleon nổi thịnh nộ và đổ lỗi cho Tổng tham mưu: "Hãy cho Thống chế Jourdan biết về sự bất mãn cực độ của ta." Với Victor, ông chỉ gửi một lời khiển trách nhẹ nhàng.
Trước khi cơn thịnh nộ của Hoàng đế kịp truyền đến, Jourdan một lần nữa gục ngã vì "rối loạn thần kinh, đau bụng và đau lưng". Ông xin nghỉ phép và được phép trở về Pháp vào tháng 10.
Thống chế Jourdan
Thống chế Jourdan

Quay lại Tây Ban Nha — Và những năm cuối đời (1810–1833)

Hai năm sau, Jourdan được điều trở lại Tây Ban Nha làm toàn quyền Madrid — một chức vụ mang tính an ủi cho một thống chế. Tháng 10/1811, ông được phong làm Tổng tham mưu cho vua Joseph, nhưng quyền hạn thực tế chỉ bao gồm Tập đoàn Trung tâm nhỏ bé với 15.000 người. Mãi đến tháng 3/1812, khi Napoleon đang mải mê chuẩn bị cho chiến dịch Nga, ông mới giao cho Joseph quyền tổng chỉ huy toàn bộ quân Pháp tại Tây Ban Nha với sự hỗ trợ của Jourdan. Như thường lệ, Hoàng đế không làm rõ quyền tối cao của nhà vua đối với các chỉ huy quân đoàn khác. Tập đoàn quân Phương Bắc (48.000 người) nắm giữ các tuyến đường về Pháp không hề nhận được lệnh nào về việc này. Suchet (60.600 quân) thì tuyên bố các mệnh lệnh không áp dụng cho vùng Catalonia vì phần lớn tỉnh này đã bị sáp nhập vào Pháp. Marmont (52.600 quân) và Soult (66.000 quân) cũng phớt lờ các mệnh lệnh từ Madrid.
Hậu trận Salamanca
Hậu trận Salamanca
Trong một bản đánh giá sâu sắc vào ngày 28/5/1812, Jourdan chỉ ra rằng quân đội Pháp đang bị dàn trải đến mức vô lý: 230.187 quân phải dàn ra chiếm giữ một đất nước thù địch đồng thời phải canh chừng cuộc xâm lược từ Bồ Đào Nha của Wellington. Napoleon không chịu thừa nhận Wellington có hơn 50.000 quân, trong khi con số thực tế là hơn 66.000 người. Jourdan cảnh báo rằng Wellington có thể đánh tan từng quân đoàn lẻ tẻ vì sự thiếu phối hợp giữa Soult và Marmont. Ông kiến nghị nếu không có thêm 15.000-20.000 quân tiếp viện, hãy rút khỏi Andalusia. Không có viện binh nào từ Pháp, và Soult cũng từ chối tuân lệnh Joseph. Hệ quả trực tiếp là Marmont bị đánh bại thảm hại tại Salamanca (22/7). Joseph và Jourdan phải bỏ Madrid chạy đến Valencia lánh nạn.
trận Vitoria năm 1813
trận Vitoria năm 1813
Khi các quân đoàn cuối cùng cũng tập hợp lại để đẩy lùi Wellington, tình hình có vẻ tạm ổn định. Thống chế Soult được gọi về Pháp, và Jourdan trở thành thống chế duy nhất ở miền tây Tây Ban Nha, hy vọng có quyền chỉ huy tuyệt đối. Nhưng vào tháng 1/1813, Madrid nhận được tin Đại quân đã bị tiêu diệt tại Nga. Các con đường về Pháp bị du kích Tây Ban Nha chặn đứng hoàn toàn. Napoleon, vẫn muốn can thiệp chi tiết, đã ra lệnh rút 5 sư đoàn bộ binh từ lực lượng đang đối đầu với Wellington để đi dẹp loạn du kích. Ông tin rằng việc này an toàn vì "người Anh chẳng ở trong tình trạng có thể làm được gì đâu." Khi Jourdan hỏi liệu nên đánh hay nên rút nếu bị tấn công, câu trả lời đầy tự mãn gửi về từ Pháp vào ngày 7/6 khẳng định: "Không có lý do gì để cho rằng kẻ thù sẽ tấn công." Ngay ngày hôm đó, Wellington đã dẫn đầu 80.000 quân tấn công. Phía Pháp chỉ có 42.000 quân chống lại. Kết quả là trận chiến Vitoria đẫm máu và quyết định cho vương quốc Tây Ban Nha của Napoleon.

Trận Vitoria năm 1813

Vitoria là trận đánh cuối cùng trong cuộc đời của Jourdan và là trận cầu mà ông không hề có hy vọng chiến thắng. Quân Pháp không chỉ bị áp đảo về quân số xuyên suốt chiến dịch, mà cấu trúc chỉ huy y hệt như thời các thống chế mạnh ai ấy lo, tất cả đều làm việc theo kế hoạch riêng. Ngay cả trước khi Liên Quân bắt đầu tiến quân, Joseph đã than phiền rằng: "Có tới bốn tổng tư lệnh chia cắt quyền chỉ huy, tranh cãi với nhau và tranh giành nhu yếu phẩm của nhau." 
Ba trong số những tổng tư lệnh đối địch này là các Tướng Gazan (Tập đoàn quân phía Nam), D'Erlon (Trung tâm) và Reille (Bồ Đào Nha), nhưng người thứ tư lại chính là Joseph – người lẽ ra phải kiểm soát tất cả bọn họ dưới sự dẫn dắt từ lời khuyên của Jourdan, sĩ quan cao cấp nhất và là lựa chọn của chính ông cho vị trí Tổng tham mưu. Thay vào đó, nhà vua chọn cách chỉ huy theo kiểu hội đồng và trong hầu hết các trường hợp, ông đều phớt lờ quan điểm của Jourdan. Ngay khi nhận thấy Wellington đang thọc sâu vào sườn phía bắc, Jourdan đã khuyên nên tung một cú đòn vào cánh quân Bồ Đào Nha dọc theo tuyến liên lạc của Liên Quân. Các chỉ huy tập đoàn quân lại ủng hộ việc rút lui và Joseph đứng về phía họ, ông cho thiết lập một loạt các vị trí phòng thủ mà tất cả đều bị Wellington đánh tạt sườn từ phía bắc. Đến ngày 16 tháng 6, tổng hành dinh hoàng gia đóng tại Miranda de Ebro, nhưng một lần nữa họ bị đánh bọc sườn và buộc phải lùi về Vitoria, cách biên giới Pháp trong vòng 65 dặm. Tinh thần quân đội sa sút, sĩ quan và binh lính đồng thanh đòi hỏi quyền được biết vì sao họ cứ phải rút lui mãi, tại sao không thể đứng lại và chiến đấu. Lúc này, chính các chỉ huy tập đoàn quân lại nôn nóng muốn hành động, trong khi Jourdan khuyên nên rút lui thêm nữa để có thể tập trung toàn bộ sức mạnh quân đội. Những lời mỉa mai và giễu cợt trút xuống sự thận trọng của những người phản đối việc tham chiến ngay lập tức, và sự thận trọng của họ bị chế giễu bằng những ngôn từ khác.
Joseph, tin rằng mình còn thời gian, đã trì hoãn việc đưa ra quyết định.
Việc giả định rằng các đạo quân hợp nhất mà đã được điều động từ trước đấy lùi về khu vực do Tập đoàn quân phương Bắc nắm giữ là hợp lý, họ sẽ không chỉ được sự hỗ trợ từ năm sư đoàn biệt phái của mình mà còn được tăng viện từ 35.000 quân thuộc biên chế của tập đoàn quân đó. Trên thực tế, chỉ có hai trong số các sư đoàn bị thất lạc hội quân trở lại, với chưa đầy 1.000 người từ các lực lượng dân quân địa phương. Một lần nữa, Joseph lại có lỗi, vì yêu cầu triệu hồi các sư đoàn của ông có giọng điệu quá rụt rè: "Nếu các hoạt động của các anh đã tiến triển một cách hợp lý mà không gây thiệt hại gì, hãy cho quân đội trở lại." Lẽ tự nhiên, lời khẩn cầu này chẳng mấy được để tâm, và khi các đạo quân kết hợp tập hợp gần Vitoria vào cuối ngày 19 tháng 6, quân số của họ chỉ khoảng 60.000 người, trong đó có 11.000 kỵ binh. Họ có 138 khẩu dã pháo.
Vitoria, một trung tâm giữa các tuyến đường, nằm ở phía đông của một vùng đồng bằng lượn sóng hình bầu dục, nơi con sông nhỏ Zadorra chảy vào từ phía đông bắc và sau nhiều khúc quanh co, chảy ra qua những dãy núi ở phần phía tây nam của lòng chảo. Các vị trí mà ba tập đoàn quân Pháp chiếm giữ giống như một lực lượng tạm dừng chân lúc hoàng hôn sau một chuyến hành quân dài mà không chuẩn bị việc bị địch tấn công. Thực tế là không ai trong số các sĩ quan cao cấp nghĩ rằng sẽ phải chiến đấu ở Vitoria. Kể từ khi Wellington đánh tạt sườn phải của họ với một sự đều đặn đơn điệu trong suốt bốn tuần qua, người ta mặc định rằng ông sẽ làm thế một lần nữa và hành quân về phía điểm Bilbao. Theo lẽ thường, các vị trí lẽ ra đã được điều chỉnh vào ngày hôm sau, 20 tháng 6, nhưng Jourdan một lần nữa bị cơn sốt quật ngã và phải nằm bẹp trên giường. Quyền chỉ huy tổng thể nằm trong tay vua Joseph và ông này lại không có hành động gì. Vị vua Tây Ban Nhanóng lòng muốn ở lại vị trí hiện tại thêm ít nhất 24 giờ nữa, điều này sẽ tạo thời gian cho những đoàn xe khổng lồ chở người tị nạn và hành lý đang làm nghẽn đường hành quân của quân đội có thể khởi hành về Pháp. Ông cũng hy vọng Tướng Clausel với 10.000 quân của Tập đoàn quân phía Bắc sẽ hội quân trong đêm 20-21 tháng 6. Đen đủi thay, lực lượng này bị chậm 36 giờ so với kế hoạch và mãi đến ngày 22 tháng 6 mới nhìn thấy Vitoria.
Quan sát đến việc các vị trí mà quân Pháp chiếm giữ vào bình minh ngày 20 không hoàn toàn là ngẫu nhiên, chúng được thiết kế để chống lại một cuộc tấn công trực diện ở bờ nam sông Zadorra nơi nó chảy ra khỏi đồng bằng Vitoria. Tập đoàn quân lớn nhất trong ba đạo quân, cánh quân phía Nam của Gazan, được triển khai với ba sư đoàn với sườn trái tựa vào chân đồi của dãy Puebla và sườn phải tựa vào dòng sông. Một lữ đoàn độc lập được đặt làm quân tiên phong và có một sư đoàn dự bị. Hai sư đoàn của Tập đoàn quân Trung tâm nằm hỗ trợ phía sau đồi Arinez, và ở phía sau họ, bảo vệ thành phố Vitoria, là hai sư đoàn của Tập đoàn quân Bồ Đào Nha và Đội Cận vệ của Vua Joseph. Trong ngày, các báo cáo gửi đến về một lực lượng Tây Ban Nha đang tiến lại từ phía bắc dọc theo con đường Bilbao. Để đối phó với mối đe dọa này - vốn không được coi trọng lắm, Reille được lệnh chuyển một sư đoàn Bồ Đào Nha sang bờ bắc con sông. Phần còn lại của quân đội vẫn giữ nguyên vị trí suốt cả ngày. 
Đó là một cách triển khai kỳ quặc vì không chỉ cánh phía Nam và phía Bồ Đào Nha quay lưng lại với nhau, mà phần lớn quân đội lại dựa vào dòng sông như một lá chắn sườn. Sông Zadorra, theo lời của Fortescue, chẳng khác gì "một con suối nhỏ reo vui đầy cá hồi" và có thể lội qua ở nhiều nơi. Tệ hơn thế, có tới năm cây cầu bắc qua sông trong khu vực của Tập đoàn quân phía Nam và Trung tâm, và những cây cầu này đã không bị phá hủy dù một số đã được dựng rào chắn. Về cơ bản, phần lớn quân Pháp đã để hở sườn phải của mình giữa thinh không.
Lúc 4 giờ sáng ngày 21 tháng 6, Jourdan, sau khi hồi phục sức khỏe, đã cùng Joseph cưỡi ngựa đi kiểm tra các vị trí của quân đội. Cả hai đều tin rằng một cuộc tấn công khó có thể xảy ra, niềm tin này càng được củng cố bởi một thông điệp nhận được trong đêm khẳng định rằng: "Công tước Wellington cùng một lực lượng lớn quân đội đã hành quân trên con đường Bilbao-Vitoria." Jourdan nhận ra ngay lập tức rằng việc triển khai quân là sai lầm và khuyên nên kéo mặt trận lùi về một sườn núi ngay phía trước Vitoria, phía sau một con suối nhỏ chảy từ làng Berosteguieta qua Zuazo de Alava đến sông Zadorra gần Crispijana, điều này sẽ tạo ra một vị trí phòng thủ mạnh hơn, gọn gàng hơn và dễ kiểm soát nhiều. "Cách bố trí mới này, nếu không vì cơn bạo bệnh của Thống chế Jourdan thì lẽ ra đã được thực hiện vào tối hôm trước, và có lẽ đã có thể tránh được thảm họa của ngày hôm nay; tuy nhiên, sĩ quan được cử đến gặp Tướng Gazan để bảo ông tới gặp nhà vua đã báo cáo lại rằng ông không thể rời bỏ binh lính của mình vì họ sắp bị tấn công. Người ta quyết định rằng không còn thời gian để thực hiện sự thay đổi đó nữa."
Khi các cánh quân đang tiến về phía vị trí của Gazan xuyên qua hẻm núi do sông Zadorra cắt qua khi rời khỏi đồng bằng, người ta thấy họ tách một sư đoàn nhỏ người Tây Ban Nha sang bên phải để chiếm giữ cao điểm chiến lược mà quân Pháp vốn chỉ bố trí một toán lính gác cấp đại đội. Phản ứng của Jourdan đối với việc này là ra lệnh cho Gazan gửi ba lữ đoàn lên cao điểm Puebla để họ có thể đánh vào sườn kẻ thù trong khi phần còn lại của Tập đoàn quân phía Nam tấn công trực diện. Theo lời Gazan, một nhân vật đầy thù địch với Jourdan, vị thống chế đã khăng khăng một cách nóng nảy rằng Wellington đã thay đổi cách tiếp cận và thay vì đánh tạt sườn phải, ông ta sẽ đánh tạt sườn trái quân Pháp. Quan điểm này được củng cố phần nào bởi việc sau đó Jourdan đã điều một trong các sư đoàn của Tập đoàn quân Trung tâm lên cao điểm, nhưng nguyên nhân của động thái này là do sự chậm chạp cực độ của Gazan trong việc điều quân lên cao điểm, buộc Jourdan phải rút quân từ nơi khác cho cú phản đòn dự kiến của mình. Dù lý do là gì, việc tách quân sang sườn trái quân Pháp là cái giá lớn hơn mức họ có thể chi trả, bởi trong khi Wellington chỉ gửi 4.000 người Tây Ban Nha, sau đó được hỗ trợ bởi một lữ đoàn Anh (2.500 người) lên cao điểm Puebla, quân Pháp đã tiêu tốn tới năm lữ đoàn, tương đương 13.000 người.
Thay vì cố gắng đánh tạt sườn trái quân Pháp, Wellington – người có 72.000 quân với 90 khẩu pháo chống lại 60.000 quân của Joseph với 138 khẩu pháo – đã đều đặn đánh vòng qua sườn phải của họ theo bốn cánh quân mà cánh tại Puebla là cánh phía hữu. Cánh quân trung tâm-phải và trung tâm-trái của ông đã vượt sông Zadorra phía sau mặt trận của Tập đoàn quân phía Nam mà hầu như không gặp phải sự kháng cự nào; do đã tách quá nhiều quân sang cánh trái, cả cánh phía Nam lẫn Trung tâm đều không còn đủ lực lượng để ngăn chặn họ. Cánh quân ngoài cùng bên trái của liên minh đang theo chân quân Tây Ban Nha tiến xuống từ hướng bắc theo đường Bilbao.
Ngay khi Jourdan hiểu rằng các vị trí hiện tại không thể trụ vững, ông ra lệnh rút lui về sườn núi Berosteguieta-Crispijana, nơi ông đã triển khai một hệ thống phòng thủ pháo binh mạnh mẽ. Hầu hết binh lính trên đồng bằng đã tìm cách cắt đuôi quân địch với ít rắc rối hơn mong đợi, nhưng một lần nữa, chỉ huy của Tập đoàn quân phía Nam đã phá hỏng kế hoạch.
"Tướng Gazan, thay vì đưa các sư đoàn của mình vào vị trí đã được chỉ định, nơi sườn phải được bảo vệ vững chắc bởi [Tập đoàn quân Trung tâm], đã tiếp tục rút lui dọc theo dốc của các cao điểm, để con đường lớn và thị trấn Vitoria ở xa tít bên trái [khi ông rút lui] và tạo ra một khoảng trống lớn giữa quân đội của ông và quân Trung tâm."
Gazan khẳng định rằng ông không nhận được mệnh lệnh nào về vị trí phía sau mà ông phải chiếm giữ và trong khi rút lui, ông "liên tục bị đánh tạt sườn phải". Mọi dấu hiệu đều cho thấy ít nhất phần cuối của lời khẳng định này là sai sự thật, và rằng D'Erlon đã thiết lập sư đoàn còn lại của Tập đoàn quân Trung tâm tại đầu sông của tuyến phòng thủ mới, trong khi Gazan rút lui thẳng qua mặt ông ta, để mặc sườn của ông ta hở ra giữa không trung. May mắn cho quân Pháp là cánh quân bên phải của Wellington không tránh khỏi việc bị trễ và ngay cả khi đã tới nơi, sự chỉ huy cũng thiếu quyết đoán hơn mong đợi. Điều này đã giúp Tập đoàn quân Bồ Đào Nha của Reille, dù mất kiểm soát con đường chính dẫn về Pháp, vẫn giữ được sườn phía bắc đủ lâu để các đạo quân khác thực hiện một cuộc rút lui hỗn loạn theo con đường phụ tới Salvatierra. Đây chẳng khác gì một con đường mòn "bị chia cắt bởi những khe vực, hào rãnh không thể băng qua," khiến cho kỵ binh không thể thực hiện cuộc truy kích hiệu quả, nhưng toàn bộ pháo binh Pháp, ngoại trừ hai khẩu bị chiếm vào ngày hôm sau, đều phải bỏ lại cùng một lượng khổng lồ hành lý và ngân quỹ quân đội. Tổn thất về người chỉ là 8.500, trong đó 2.500 người được báo cáo là mất tích, 2.000 người bị bắt làm tù binh. Joseph và Jourdan suýt chút nữa đã gia nhập số tù binh khi lính hussar và kỵ binh nhẹ của Anh xông vào giữa đám tham mưu, nhưng họ đã được đội kỵ binh cận vệ của Joseph giải cứu. Tuy nhiên, nhà vua và vị thống chế đã bị lạc nhau và không gặp lại cho đến tận 11 giờ đêm khi Joseph đang ăn tối tại Salvatierra cùng với D'Erlon và những người khác. Mệt mỏi và lấm lem, Jourdan bước vào phòng, nhìn quanh và nhận xét: 
"Chà thưa các quý ông, các ông đã muốn có một trận đánh và có vẻ như chúng ta đã thua rồi."
Dù quy mô nhỏ hơn các trận đánh ở Trung hay Đông Âu, Vitoria là một thảm họa cho Đế chế Napoleon. Không chỉ mất Tây Ban Nha, tin tức này còn khiến Đế quốc Áo quyết định từ bỏ trung lập để tham gia liên minh chống lại Pháp. Một con dê tế thần cần phải có, và Jourdan là lựa chọn hiển nhiên. Ông lại bị bãi nhiệm và cắt lương. Dù vậy, Napoleon vẫn công nhận lòng trung thành của ông đối với nước Pháp và trong những ngày tuyệt vọng của năm 1814 đã giao ông chỉ huy quân khu Rouen. Sau khi Bourbon phục hồi lần thứ nhất, ông phục vụ Louis XVIII và được phong tước hiệu đầu tiên là Hiệp sĩ St. Louis. Trong thời kỳ Trăm ngày, ông tiếp tục phục vụ trong thầm lặng, được phục hồi lương đầy đủ và nhận tước vị quý tộc. Sau trận Waterloo, nhà vua phong ông làm Bá tước. Ông vẫn tiếp tục phục vụ khi Cách mạng 1830 xảy ra. Louis-Philippe phong ông làm Thống đốc Điện Invalides, vị trí ông giữ cho đến khi qua đời ba năm sau đó.
Thống chế Jourdan
Thống chế Jourdan
Jourdan dường như có một cuộc sống cá nhân hạnh phúc. Ngay cả những người khó tính cũng không tìm được lời nào xấu để nói về ông. Ông là một quân nhân có năng lực hơn là một thiên tài, nhưng trên hết ông là một người chính trực phụng sự nước Pháp, bất kể ai là người lãnh đạo đất nước. Napoleon, người từng đối xử tệ bạc và nói những lời cay nghiệt về ông, đã đúc kết về Jourdan khi ở đảo St. Helena:
"Ta chắc chắn đã đối xử rất tệ với người đàn ông đó... Ta rất vui khi biết rằng kể từ khi ngày tàn của ta, ông ấy luôn hành động một cách chuẩn mực nhất. Ông ấy là một tấm gương về một tâm hồn cao cả. Jourdan là một người yêu nước chân chính; và đó chính là câu trả lời cho tất cả những gì người ta đã nói về ông ấy."
Napoleon nói về tướng Jourdan