Cuộc chiến giữa Mỹ và Iran có ý nghĩa ra sao đối với Trung Quốc?
Bài dịch từ Foreign Affairs ...
Bài dịch từ Foreign Affairs

Thông tin tác giả: ZONGYUAN ZOE LIU là Nghiên cứu viên Cấp cao chuyên về Nghiên cứu Trung Quốc tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, đồng thời là Học giả Nghiên cứu Cấp cao tại Viện Chính trị Toàn cầu thuộc Trường Quan hệ Quốc tế và Hành chính công, Đại học Columbia. Cô là tác giả của cuốn sách Sovereign Funds: How the Communist Party of China Finances Its Global Ambitions (Tạm dịch: Quỹ tài sản quốc gia: Cách Đảng Cộng sản Trung Quốc tài trợ cho các tham vọng toàn cầu).
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang có được một nước Mỹ mà ông luôn mong muốn. Kể từ khi Tổng thống Donald Trump quay trở lại Nhà Trắng vào năm 2025, Washington đã bớt đi sự tự tin vào sứ mệnh toàn cầu của mình, ít cam kết hơn với trật tự dựa trên luật lệ mà họ từng dày công bảo vệ, và sẵn sàng sử dụng quyền lực theo những cách gây bất ổn cho các thị trường, các định chế và cả các đồng minh. Uy quyền và uy tín toàn cầu của Washington đang dần bị xói mòn.
Dưới một góc độ nào đó, đây là tin tốt đối với Bắc Kinh. Một Washington suy yếu và bớt rao giảng đạo lý sẽ khiến các nước khác khó tập trung nguồn lực xung quanh họ hơn. Mỹ hiện tại đem lại một mô hình kém sức hút. Họ trở nên chật vật hơn trong việc tổ chức các liên minh và dễ có nguy cơ đẩy xa chính những đối tác thiết yếu mà họ cần để cân bằng với Trung Quốc. Trong suốt nhiều thập kỷ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc luôn mong muốn một nước Mỹ đủ mạnh để duy trì sự vận hành nền kinh tế toàn cầu và ngăn chặn việc sụp đổ hệ thống, nhưng họ cũng muốn một nước Mỹ không còn khả năng định hình trật tự quốc tế theo hướng kìm hãm sự phát triển của Trung Quốc. Giờ đây, ông Tập đang tiến gần đến viễn cảnh đó hơn bất kỳ người đứng đầu nào trong suốt hai thế kỷ qua.
Tuy nhiên, đây chưa hẳn là một chiến thắng tuyệt đối với Trung Quốc. Ông Tập không đơn thuần chỉ muốn một nước Mỹ suy yếu. Điều ông muốn là một nước Mỹ vẫn xuất hiện và đóng góp vào việc duy trì trật tự thế giới. Ranh giới khác biệt này rất dễ bị phớt lờ tại Washington, nơi giới phân tích thường mặc định rằng cạnh tranh địa chính trị vận hành như một bảng tỷ số: hễ Mỹ thua thì Trung Quốc ắt hẳn thắng, và ngược lại. Thế nhưng, Bắc Kinh không diễn giải mọi bước lùi của nước Mỹ đều là phần thắng cho Trung Quốc, và giới lãnh đạo Trung Quốc cũng không cho rằng mọi cơ hội mở ra đều nhất thiết phải được tận dụng.
Hành động chủ yếu của Trung Quốc là họ chờ đợi, quan sát và tính toán nước đi tiếp theo. Họ không chỉ đặt câu hỏi rằng liệu nước Mỹ có đang suy yếu hay không, mà còn xem xét liệu thế giới đang trở nên ổn định hay ngày càng hỗn loạn. Mối bận tâm của Bắc Kinh là liệu dòng chảy thương mại có tiếp tục thông suốt, năng lượng có cập bến đúng hạn, và các cuộc khủng hoảng toàn cầu có được kiềm chế thay vì thổi bùng lên ở khắp nơi hay không. Đối với Trung Quốc, sự ổn định không phải là một ưu tiên thứ yếu. Đó là điều kiện tiên quyết để quốc gia này tiếp tục củng cố sức mạnh.
Cuộc chiến của Mỹ và Israel nhằm vào Iran đang vượt tầm kiểm soát và biến khu vực Trung Đông thành “chảo lửa”. Đây chính là phép thử quan trọng nhất từ trước đến nay đối với sự kiềm chế chiến lược của Trung Quốc. Khác với cuộc chiến của Nga tại Ukraine, ngọn lửa xung đột tại Iran đe dọa trực tiếp đến những lợi ích chiến lược cốt lõi của Trung Quốc - không hẳn vì sự phụ thuộc sâu sắc vào nguồn năng lượng hóa thạch từ Trung Đông, mà bởi vì một Washington ngày càng khó lường đang làm rung chuyển trật tự toàn cầu, nền tảng sống còn mà Bắc Kinh đang dựa vào.
Mối nguy hiểm thực sự đối với Trung Quốc không nằm ở sự thiếu hụt nguyên liệu, mà chính là tình trạng hỗn loạn. Một nước Mỹ đơn thuần suy yếu là điều Bắc Kinh hoàn toàn có thể kiểm soát; nhưng một nước Mỹ hành xử khó lường, bạo lực và rũ bỏ mọi ràng buộc từ chính hệ thống mà họ từng dẫn dắt lại là một mối đe dọa lớn hơn gấp bội. Sự suy giảm quyền lực của nước Mỹ có thể mở ra những cơ hội chiến lược; thế nhưng, một nước Mỹ đầy biến động sẽ tàn phá chính những điều kiện nền tảng để biến các cơ hội đó thành hiện thực. Nỗi sợ hãi lớn nhất của Bắc Kinh không phải là việc Washington đánh mất quyền lực, mà là cách Washington sử dụng thứ sức mạnh còn lại của mình để khiến cục diện toàn cầu trở nên rối ren và khó lèo lái hơn. Đối mặt với một Washington ngày càng liều lĩnh, giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ hành động một cách vô cùng cẩn trọng, tập trung che chắn những yếu điểm của mình, đồng thời khước từ việc gánh vác những trọng trách toàn cầu mà bản thân họ chưa đủ tiềm lực để đảm nhận.
Phản ứng có chừng mực của Trung Quốc trước cuộc chiến tại Iran thông qua các nỗ lực can dự ngoại giao, kêu gọi ngừng bắn và né tránh can thiệp quân sự trực tiếp không hề phản ánh sự thờ ơ hay mưu đồ trục lợi cơ hội. Thay vào đó, đây là một nỗ lực có chủ đích nhằm kiểm soát rủi ro hệ thống, bảo toàn các điều kiện ngoại cảnh thiết yếu cho dòng chảy thương mại, đồng thời che đậy những yếu tố nền tảng phục vụ quá trình trỗi dậy dài hạn của quốc gia này. Do đó, thách thức đối với Trung Quốc không chỉ đơn thuần là vươn lên trong hệ thống toàn cầu, mà còn là phải sinh tồn khi hệ thống cũ ấy dần sụp đổ. Trong một thế giới ngày càng được định hình bởi những đứt gãy hỗn loạn thay vì các trật tự được sắp đặt sẵn, mối đe dọa lớn nhất đối với tham vọng của Trung Quốc có lẽ không nằm ở sức mạnh của nước Mỹ, mà chính là sự bất ổn của nước Mỹ.
I. GIỮA LẰN RANH CÁC THẾ GIỚI
Kể từ khi mở cửa trở lại với thế giới vào năm 1979, Trung Quốc đã tích lũy được khối tài sản và quyền lực khổng lồ bên trong một hệ thống quốc tế do chính Hoa Kỳ kiến tạo và duy trì. Bắc Kinh đã khai thác triệt để trật tự đó, liên tục thách thức nó, và ráo riết kiến tạo các cấu trúc thay thế xoay quanh nó. Thế nhưng, quốc gia này vẫn phải phụ thuộc sâu sắc vào những điều kiện mang tính sống còn mà trật tự ấy mang lại: những tuyến hàng hải thông suốt, các thị trường không ngừng mở rộng, khả năng vay mượn và giao dịch bằng đồng đô la, cùng với những định chế đa phương đủ vững chãi để hấp thụ các cú sốc địa chính trị trước khi chúng biến thành sự sụp đổ mang tính hệ thống.
Sự phụ thuộc ấy cắm rễ vô cùng sâu sắc. Khi ông Tập thúc đẩy nền kinh tế hướng tới sự tự chủ cao hơn nhân danh an ninh quốc gia, nền công nghiệp Trung Quốc đã phải đối mặt với tình trạng lợi nhuận sụt giảm và dư thừa công suất trầm trọng. Để bù đắp, Bắc Kinh đã phát triển một bộ công cụ quản trị kinh tế ngày càng tinh vi, tận dụng quyền tiếp cận thị trường nội địa khổng lồ, vị thế thống trị chuỗi cung ứng đất hiếm, các khoản vay và hiệp định đầu tư, cùng các công cụ mang tính cưỡng ép như kiểm soát xuất khẩu và trừng phạt. Thế nhưng, những công cụ này được xây dựng dựa trên một giả định cốt lõi: đó là hệ thống quốc tế vẫn duy trì tính ổn định, có thể dự đoán được, và được vận hành bởi các luật lệ thay vì bạo lực.
Tiền đề đó giờ đây đang bị đặt dấu hỏi lớn. Những hành động quân sự gần đây của Washington tại Venezuela và Iran, được thực hiện bất chấp các hệ lụy kinh tế hay luật pháp quốc tế, đã thể hiện thực tế mà các nhà chiến lược Trung Quốc không thể làm ngơ: hệ thống do Mỹ dẫn dắt mà họ đã học cách lèo lái và khai thác đang ngày càng lỗi thời, và quá trình tái định hình trật tự đang diễn ra có thể sẽ không phục vụ cho lợi ích của Bắc Kinh. Giới lãnh đạo Trung Quốc nhìn nhận nước Mỹ như một cường quốc đang trên đà suy thoái, nhưng lại trở nên nguy hiểm hơn chứ không hề suy giảm sức ảnh hưởng. Họ hiểu rằng khi các đòn bẩy kinh tế và ngoại giao của Washington suy yếu, nước Mỹ có thể sẽ dùng đến thứ quyền lực duy nhất mà họ đang dư dả sở hữu: sức mạnh quân sự.
Từ góc nhìn của Bắc Kinh, các cuộc can thiệp của chính quyền Trump tại Venezuela và Iran không giống với việc thể hiện sức mạnh của một đế chế, mà giống với sự vùng vẫy khi đế chế này đã bước sang giai đoạn suy yếu, một thế lực đang cố gắng tận dụng ưu thế quân sự còn sót lại của mình khi vẫn còn có thể. Một nước Mỹ đầy biến động và thiếu kiềm chế không mang lại chút an tâm nào cho giới tinh hoa Trung Quốc - những người vốn cực kỳ nhạy cảm trước những rủi ro do một bá quyền gây ra. Bá quyền này hiện không còn tự tin vào chính trật tự của mình nhưng vẫn nắm giữ sức mạnh hủy diệt không có đối thủ.
Nếu sức mạnh của Mỹ chỉ đơn thuần đang giảm dần, Trung Quốc có thể sẽ bị thôi thúc hành động nhanh chóng để nắm bắt thời cơ và củng cố vị thế. Thế nhưng, nếu sự suy thoái của nước Mỹ biểu hiện qua những đòn cưỡng ép kinh tế leo thang, sự đổ vỡ của các luật lệ và định chế thương mại toàn cầu, cùng với các hành động gây hấn quân sự, Bắc Kinh có thể sẽ thấy mình rơi vào thế phải đứng ra bảo vệ, ít nhất là trên các phát ngôn tới toàn thế giới. Đối với Trung Quốc, vấn đề không nằm ở chỗ nước Mỹ đang biến mất khỏi vai trò lãnh đạo hệ thống toàn cầu. Vấn đề là nước Mỹ có thể vẫn đủ mạnh để tung ra những đòn tấn công bộc phát và ngày càng trở nên khó lường hơn trong cách họ sử dụng quyền lực đó.
II. KHÔNG AI DÀNH CHIẾN THẮNG
Cuộc chiến tại Iran khắc họa mọi thứ một cách rõ nét. Đối với nhiều người tại Washington, thêm một chiến dịch quân sự của Mỹ ở Trung Đông dường như là một món quà chiến lược dành cho Trung Quốc. Theo logic thông thường, nếu nước Mỹ bị trói chân vào một cuộc xung đột ở khu vực khác, Bắc Kinh sẽ hoàn toàn rảnh tay hành động tại châu Á. Thế nhưng, giới lãnh đạo Trung Quốc không hề nhìn nhận cuộc khủng hoảng này như một trò chơi có tổng bằng không. Một Trung Đông lún sâu vào bất ổn không nghiễm nhiên chuyển hóa thành lợi thế cho Trung Quốc. Cả Washington lẫn Bắc Kinh đều sẽ không thể thoát khỏi những hệ lụy địa chính trị và kinh tế của cuộc chiến này một cách nguyên vẹn.
Đối với Trung Quốc, viễn cảnh eo biển Hormuz bị phong tỏa hoàn toàn không phải một mối lo ngại viển vông. Là quốc gia nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới, Trung Quốc phụ thuộc tới 70% nguồn cung từ nước ngoài, trong đó khoảng một phần ba bắt buộc phải đi qua eo biển chiến lược này. Bất chấp rủi ro đó, Trung Quốc vẫn tương đối an toàn trong ngắn hạn. Kể từ khi xung đột bùng phát vài tuần trước, giá xăng tại Trung Quốc chỉ tăng khoảng 10%, so với mức vọt lên tới xấp xỉ 25% tại Mỹ. Các chuyến tàu chở dầu xuất khẩu từ Iran sang Trung Quốc vẫn tiếp tục băng qua eo biển, đồng thời Bắc Kinh đang nắm giữ kho dự trữ dầu mỏ chiến lược lớn nhất thế giới, đủ sức đáp ứng nhu cầu nội địa trong nhiều tháng.
Tuy nhiên, một cuộc chiến kéo dài và tàn phá cơ sở hạ tầng dầu khí tại Iran và các quốc gia vùng Vịnh lân cận sẽ mang đến những rủi ro lớn hơn rất nhiều, đe dọa trực tiếp đến an ninh năng lượng của Trung Quốc và có nguy cơ kích hoạt một đợt suy thoái kinh tế nghiêm trọng. Nền kinh tế định hướng xuất khẩu của Trung Quốc tồn tại dựa trên sự vận hành trơn tru của bộ máy thương mại toàn cầu. Xuất khẩu đóng góp khoảng 20% GDP của nước này, với gần như toàn bộ hàng hóa được vận chuyển qua đường biển. Tình trạng gián đoạn vận tải, chi phí bảo hiểm leo thang, và việc phải thay đổi hải trình để né tránh các điểm nghẽn sẽ đội chi phí lên vai các doanh nghiệp xuất khẩu. Cùng lúc đó, giá năng lượng tăng cao sẽ làm giảm nhu cầu mua sắm toàn cầu, làm sụt giảm doanh số bán hàng ra thị trường quốc tế và nhanh chóng chuyển hóa thành áp lực đối với nền kinh tế nội địa. Chẳng có kịch bản nào trong số này phục vụ cho lợi ích của Bắc Kinh.
Những điểm yếu này không chỉ mang sức nặng về mặt kinh tế mà còn cả trên bình diện địa chính trị. Công cuộc theo đuổi sự tự chủ chiến lược của Trung Quốc vẫn phụ thuộc vào một hệ thống toàn cầu duy trì được độ mở và tính khả đoán. Đối với Bắc Kinh, tự chủ chiến lược không đồng nghĩa với bế quan tỏa cảng, mà là năng lực vận hành bên trong hệ thống đó với những điều kiện có lợi. Trung Quốc quả thực đã và đang chuẩn bị cho một thế giới nhiều biến động hơn, nhưng việc chuẩn bị để đối phó đó không đồng nghĩa rằng đây là viễn cảnh họ mong muốn. Nỗ lực thúc đẩy việc tự cường của họ là nhằm giảm thiểu mặt dễ bị tổn thương, chứ không phải để biến Trung Quốc thành kẻ chiến thắng trong một thế giới hỗn mang.
Những lo ngại trước sự bất ổn leo thang đã thể hiện rõ trong các kế hoạch kinh tế của Trung Quốc. Trong Kế hoạch 5 năm mới nhất, Bắc Kinh đã hạ mục tiêu tăng trưởng xuống mức 4,5 đến 5% — mức thấp nhất trong nhiều thập kỷ qua, như một sự thừa nhận rằng môi trường toàn cầu đang ngày càng trở nên kém tin cậy. Tốc độ tăng trưởng chậm lại giờ đây không còn được xem là một đợt suy giảm mang tính chu kỳ, mà đã trở thành một điểm nghẽn mang tính cấu trúc, bị kìm kẹp bởi những áp lực về nhân khẩu học, căng thẳng thương mại bên ngoài và sự bất định ngày càng gia tăng.
Cùng lúc đó, Bắc Kinh đang ưu tiên phát triển cái mà họ gọi là "lực lượng sản xuất chất lượng mới" — những công nghệ tiên tiến nhằm duy trì đà tăng trưởng trong bối cảnh các lĩnh vực như bất động sản đang chững lại. Sự chuyển dịch này khiến những bất ổn bên ngoài càng trở nên nguy hiểm hơn đối với Trung Quốc. Ngành sản xuất tiên tiến có tính thâm dụng vốn cao và phụ thuộc sâu sắc vào các yếu tố đầu vào ổn định như: năng lượng, khoáng sản thiết yếu, thiết bị tinh vi và các mạng lưới tri thức phân bổ trên toàn cầu. Bất kỳ sự gián đoạn nào đối với các yếu tố này đều sẽ đẩy chi phí lên cao, làm đình trệ sản xuất và khuếch đại rủi ro tài chính. Trong một môi trường địa chính trị nhiều biến động hơn, chính những lĩnh vực được kỳ vọng sẽ bảo đảm năng lực cạnh tranh dài hạn của Trung Quốc lại trở nên dễ tổn thương hơn trước các cú sốc mang tính hệ thống.
Đó là lý do Bắc Kinh ưu tiên việc khôi phục sự ổn định hơn là mở rộng vai trò trong một trật tự đầy hỗn loạn. Họ muốn quyền tiếp cận các nguồn năng lượng, thị trường và gia tăng tầm ảnh hưởng tại Trung Đông — chứ không muốn gánh vác trọng trách ổn định khu vực hay đóng vai trò cân bằng giữa các cường quốc cạnh tranh. Bất kể cuộc chiến tại Iran kéo dài bao lâu, Trung Quốc ít có khả năng triển khai hộ tống hàng hải qua eo biển Hormuz, gây sức ép lên Tehran, hay nỗ lực thế chân Washington trong vai trò "cảnh sát" khu vực. Điều này không phản ánh sự thờ ơ, mà là một sự cẩn trọng. Giới lãnh đạo Trung Quốc vẫn cảnh giác sâu sắc trước nguy cơ sa lầy ở nước ngoài, đặc biệt là tại Trung Đông, nơi các cường quốc đã có một lịch sử dài tiêu tốn uy tín và tài lực vào những cuộc xung đột mang lại quá ít lợi ích chiến lược.
Giới lãnh đạo Trung Quốc cũng áp dụng chính sự tính toán đó đối với vấn đề Đài Loan. Một nước Mỹ bị phân tâm quả thực có thể tạo ra một khoảng trống quân sự hoặc chính trị. Bắc Kinh nhận thức rất rõ khi Washington bị kéo căng trên nhiều mặt trận. Nhưng một lần nữa, các nhà phân tích Mỹ thường mặc định rằng chỉ cần có một cơ hội xuất hiện là đủ để buộc Trung Quốc phải hành động. Sự thật là tính toán của Bắc Kinh đa tầng và phức tạp hơn nhiều. Giới lãnh đạo Trung Quốc không chỉ tự hỏi liệu nước Mỹ có đang bị phân tâm hay không. Họ còn tự hỏi: họ sẽ phải đối mặt với một nước Mỹ như thế nào trong một cuộc đối đầu trực diện vì Đài Loan.
Câu trả lời cho câu hỏi đó mang tính cảnh tỉnh sâu sắc. Một nước Mỹ bớt đi sự ổn định, quân sự hóa nhiều hơn và ngày càng dựa vào vũ lực như một lợi thế so sánh rõ rệt nhất, có thể sẽ trở nên nguy hiểm hơn chứ không hề bớt đi trong một cuộc xung đột tại Đài Loan. Nếu Bắc Kinh tin rằng Washington đang hành xử như một đế chế suy giảm tính chính danh và sự tự tin nhưng vẫn không có đối thủ về sức mạnh quân sự và rất khao khát sử dụng nó, thì việc kích động một cuộc đụng độ sẽ trở nên rủi ro hơn gấp bội.
Hơn thế nữa, các nhà lãnh đạo Trung Quốc thừa nhận rằng một cuộc xâm lược hay phong tỏa Đài Loan sẽ không diễn ra một cách biệt lập. Nó sẽ làm gián đoạn các luồng thương mại, gây chao đảo các thị trường tài chính, kéo căng chuỗi vận tải hàng hải toàn cầu, và đe dọa trực tiếp đến mối quan hệ với các thị trường xuất khẩu trọng điểm, đặc biệt là châu Âu và Nhật Bản. Đối với Bắc Kinh, đó là một chuỗi hệ lụy vô cùng tồi tệ.
III. CUNG ĐIỆN ĐANG SỤP ĐỔ
Phải chắc chắn một điều rằng, Bắc Kinh quả thực muốn định hình lại cán cân khu vực tại châu Á, làm suy yếu mạng lưới liên minh của Mỹ, sáp nhập Đài Loan và kiến tạo một thế giới ít bị tổn thương hơn trước các sức ép từ Mỹ. Dẫu vậy, những phương thức ưu tiên của Trung Quốc vẫn sẽ diễn ra chậm và bất đối xứng: từ chính sách công nghiệp, sử dụng quyền tiếp cận thị trường làm đòn bẩy, các chiến dịch gây ảnh hưởng chính trị, cho đến những chiến thuật "vùng xám" như lấn chiếm hàng hải và tình báo mạng, cùng với việc từng bước xây dựng một hệ thống tài chính song song nhằm né tránh đồng đô la. Bắc Kinh tìm cách tích lũy lợi thế mà không làm toàn bộ hệ thống sụp đổ.
Ông Tập vẫn có lý do để theo đuổi một mối quan hệ làm việc hiệu quả với ông Trump. Trung Quốc được hưởng lợi từ một mối quan hệ có chừng mực với nước Mỹ, xoay quanh các hoạt động thương mại sinh lời và có thể dự báo trước. Một nước Mỹ thất thường, liên tục chao đảo giữa chủ nghĩa bảo hộ, sức mạnh quân sự và sự tùy cơ ứng biến về mặt chiến lược, không phải là một “món quà” dành cho Trung Quốc. Bắc Kinh muốn một cuộc cạnh tranh diễn ra trên những điều khoản mà họ vẫn có thể nắm bắt được.
Đối với ông Tập, cuộc gặp thượng đỉnh sắp tới với ông Trump tại Bắc Kinh vào tháng 5 năm 2026 mang đến một cơ hội chính trị. Giới chức Trung Quốc chuộng việc thực thi chính trị cường quyền thông qua những hình ảnh ngoại giao được dàn xếp có chủ đích, hơn là sa đà vào các cuộc xung đột quân sự hay làm gián đoạn thương mại. Dù chưa có một chương trình nghị sự chính thức nào được công bố, giới quan sát vẫn kỳ vọng hội nghị thượng đỉnh này sẽ kéo dài lệnh "ngừng bắn" trong cuộc chiến thương mại, và có khả năng mở đường cho một tiến trình xích lại gần nhau rộng lớn hơn giữa Bắc Kinh và Washington. Tuy nhiên, cuộc chiến tại Iran đã buộc ông Trump phải trì hoãn cuộc gặp rất được mong đợi này, vốn ban đầu được lên lịch vào cuối tháng Ba. Cuộc chiến tại Iran càng kéo dài, Bắc Kinh sẽ càng chật vật hơn trong việc bình ổn quan hệ với Washington và định hình các quy tắc cho cuộc cạnh tranh trong tương lai.
Trong lúc chờ đợi những động thái cụ thể của Washington, Bắc Kinh sẽ tiếp tục hành xử cẩn trọng. Bất chấp những dịch chuyển trong chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời chính quyền Trump, mục tiêu bao trùm của giới lãnh đạo Trung Quốc vẫn không thay đổi: cân bằng các rủi ro ngắn hạn với mục tiêu dài hạn là sự tự chủ chiến lược và duy trì mối quan hệ bình ổn với Washington. Sự tính toán đó phản ánh một điều căn bản trong thế giới quan của Trung Quốc. Bắc Kinh nhìn nhận các mối quan hệ quốc tế qua lăng kính thương mại nhiều hơn là hệ tư tưởng. Họ không phân chia thế giới thành bạn và thù nhiều bằng khách hàng và nhà cung cấp. Điều đó không khiến Trung Quốc bớt đi tính chiến lược. Trái lại, nó khiến chiến lược của quốc gia này mang tính vật chất hơn, mang tính giao dịch hơn, và bận tâm nhiều hơn đến việc duy trì các hoạt động thương mại thông thường.
Nghịch lý lớn ở đây là ông Tập đã nhận được cả thứ mà ông mong muốn nhất - một nước Mỹ kém đáng tin cậy hơn, bớt tự tin hơn và kém năng lực hơn, và thứ mà ông sợ hãi nhất: một hệ thống quốc tế ngày càng biến động. Nước Mỹ trên đà suy thoái có thể sẽ nguy hiểm hơn một nước Mỹ hùng mạnh: một siêu cường chao đảo ngày càng dễ bị cám dỗ bởi việc sử dụng vũ lực khi vẫn còn có thể. Giới lãnh đạo Trung Quốc thấu hiểu điều mà các nhà hoạch định chính sách Mỹ thường bỏ lỡ: không phải mọi thứ làm suy yếu nước Mỹ đều tiếp thêm sức mạnh cho Trung Quốc. Những bước đi sai lầm của chính quyền Trump không mang lại lợi thế cho Trung Quốc nhiều bằng việc làm mất ổn định hệ thống mà cả hai cường quốc vẫn đang phụ thuộc vào.
Có một câu ngạn ngữ cổ của Trung Quốc dành cho những thời khắc biến động: ngay cả cây cột gỗ vững chãi nhất cũng không thể chống đỡ nổi một tòa cung điện đang sụp đổ. Tại Bắc Kinh, các quan chức đang chạy đua để gia cố lại kết cấu, trong khi tại Washington, họ đang đập bỏ các bức tường chỉ để cơi nới thêm một phòng khiêu vũ.

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

