Công dụng của kỵ binh (DỊCH - Thảo lư kinh lược 草廬經略)
Bộ binh không chống được kỵ binh, là điều rõ ràng vậy. Làm tướng phần nhiều dùng kỵ binh để xuất kỳ (1), trọng ở tính thần tốc vậy....

Bộ binh không chống được kỵ binh, là điều rõ ràng vậy. Làm tướng phần nhiều dùng kỵ binh để xuất kỳ (1), trọng ở tính thần tốc vậy. Công dụng của kỵ binh là: có thể xung kích, có thể yểm tập, có thể truy đuổi, có thể công kiên (2), có thể quấy rối trận hình, tẩu bôn vượt cỏ ngọn, theo lối lạ đường kỳ, thừa cơ mà thoắt hiện, chớp nhoáng khó lường nổi, mà thoắt cái đã chạy xa vài dặm rồi. Khi giao chiến đến hồi gay cấn, ta cử thiết kỵ tấn kích tung hoành, xông vào trung quân, tập kích hai cánh, bào mòn trước sau, siết chặt rầy quấy, vào rồi lại ra. Địch có mạnh đến mấy thì vẫn phải chịu rối loạn. Nên tránh xa chỗ nghiêng dốc, hiểm trở; mà gặp bình nguyên khoáng dã thì nên tiến tới. Dự liệu cỏ nước, luyện sự rong đuổi. (3) Khi đối diện địch, càng phải xét thời cơ mà hành động, chớ khinh suất mà lỡ hao tổn sức quân. Còn như thuyết mười thắng chín bại, Vũ Thành vương đã nói rồi, kẻ làm tướng không thể không biết. (4)
(1) Xuất kỳ 出奇: tức đem quân đánh vào chỗ không ngờ hoặc thiếu phòng bị.
(2) Phá vỡ phòng thủ của địch.
(3) Câu này lấy từ Kỷ hiệu tân thư của Thích Kế Quang (調其水草,習其馳逐).
(4) Lục thao 六韜, Khuyển thao 犬韜, Chiến kỵ 戰騎 (điều 59): “Chu Vũ vương Cơ Phát hỏi Khương Thượng về phép dùng kỵ binh; Khương Thượng nói rằng, khi kỵ binh giao chiến có mười cơ có thể thắng, có chín điều dẫn đến bại.” 武王問太公曰:「戰騎奈何?」 太公曰:「騎有十勝,九敗。」
Mộ Dung Khác 慕容恪 đuổi kịp Nhiễm Mẫn 冉闵 tại Liêm Đài ở Ngụy Xương. Quân Mẫn phần nhiều là bộ binh, định tiến vào rừng. Tham quân Cao Khai nói: Kỵ binh của ta lợi ở đất bằng, nếu để Mẫn vào rừng thì không thể chế ngự lại được, nên gấp sai kỵ nhẹ chặn đánh, khi giao chiến thì giả thua mà chạy, dụ ra đồng bằng, rồi mới có thể đánh. Khác nghe theo. Quân Mẫn quay lại đồng bằng, liền thua trận.
Chu Đức Uy 周德威 cứu nước Triệu, gặp quân Lương tại Bách Hương. Trang Tông muốn giao chiến, Đức Uy nói: Không nên. Người Triệu giỏi giữ thành mà không giỏi đánh ngoài đồng, chỗ ta lấy thắng lợi là ở kỵ binh; đồng bằng rộng rãi là sở trường của kỵ binh. Nay quân ta ở bờ sông, áp sát cửa trại địch, không phải đất dùng sở trường của ta. Trang Tông bèn lui quân về vùng Yên Ấp, đất bằng rộng, Đức Uy dụ quân Lương đến đánh, rồi thắng.
Lý Thành 李成 chống Nhạc Vũ Mục 岳武穆, bên trái bày kỵ binh ở bờ sông, bên phải đặt bộ binh ở chỗ bằng phẳng. Phi nói: Kỵ binh lợi ở đất bằng, bộ binh lợi ở chỗ hiểm. Nay Thành bên trái xếp kỵ ở bờ sông, bên phải đặt bộ ở đồng bằng, tuy đông đến mười vạn thì làm được gì? Bèn dùng bộ binh cầm trường thương đánh kỵ binh của hắn, lại dùng kỵ binh đánh bộ binh của hắn. Ngựa chiến đều trúng thương mà chết, chen lấn rơi xuống bờ sông. Đó là bằng chứng kỵ binh lợi ở địa thế dễ đi.
Đời Đường, Tô Định Phương 苏定方 đánh Đô Mạn 都曼, chọn tinh binh một vạn kỵ, chia làm ba đường tập kích, ngày đêm phi ba trăm dặm, đến nơi đóng quân của hắn. Đô Mạn kế cùng, bèn đầu hàng. Đó là nghiệm chứng sự thần tốc của kỵ binh.
Mã Toại 馬燧 ở Hà Đông, kỵ binh yếu và ít, bèn triệu tập hết những người chăn ngựa, sai dịch được mấy nghìn người, dạy luyện vài tháng, đều trở thành tinh kỵ. Đó là dựa theo sở trường của họ mà dạy, cho nên việc dạy dễ thành, cũng như dạy lính chèo thuyền làm thủy binh vậy.
Kỵ binh vốn lợi ở đất bằng, nhưng phép phá kỵ binh thì có: hoặc dùng trường thương giết trước ngựa của chúng; hoặc dùng khiên che binh khí của lính trên ngựa, rồi dùng đao chém vào chân ngựa, ngựa đã ngã quỵ thì lính trên ngựa liền trở nên vô dụng. Phép này đặc biệt lợi ở nơi hiểm trở. Hoặc bày chông sắt và đinh sắt ba lưỡi một chân trên mặt đất, khiến địch giẫm phải. Phá thiết kỵ, người Tống phần nhiều dùng rìu lớn cán dài, trên đẩy vào ngực người, dưới chém vào chân ngựa. Bởi kỵ binh giáp sắt, binh khí khó làm bị thương, cho nên dùng rìu lớn, trúng thì không có kẻ nào không gãy xương. Chông sắt và đinh sắt ba lưỡi, ban ngày đặt trong cỏ, đất đen chỗ hẹp cũng dùng được. Lại vì đánh ban đêm, địch không thấy chỗ hẹp thì không tản ra, có thể dụ địch đến nơi này, hoặc dùng thần thương, hỏa pháo, cường nỏ, cung mạnh ép đuổi, cho quân tinh nhuệ mai phục hai bên, nhân lúc chúng ngã rối mà đánh. Hình dạng chông sắt có vẽ trong Kỷ hiệu tân thư. Còn đinh sắt ba lưỡi một chân thì ba lưỡi cong hướng lên, rỗng ở giữa để tra cán búa, chân thẳng hướng xuống, dùng búa đóng cho vào đất; lưỡi dài hơn một tấc, chân dài hơn ba tấc, đóng xuống đất thì chắc, không thể nhổ lên. Vật này có thể làm người ngã, cũng có thể bày ngoài doanh trại, làm kế cố thủ.
Quách Đăng 郭登 ở Đại Đồng lo việc kỵ binh khó khống chế, bèn chế ra giao địa long, phi thiên võng, phát động cơ quan cho chúng tự va chạm, trong khoảnh khắc, mấy chục dặm đều bị sa hãm - ấy cũng là kế hay để phá kỵ binh.

Lịch sử
/lich-su
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

