Cô đôi thượng ngàn - một cổ mẫu trong vô thức tập thể của người Việt.
Một cổ mẫu rực rỡ nhất nhất sản sinh ra từ những nỗi đau khổ nhất
Trong cách nhìn của Carl Jung, con người không chỉ sống bằng ý thức cá nhân mà còn mang trong mình một tầng sâu gọi là vô thức tập thể – nơi lưu giữ những kinh nghiệm, khát vọng và nỗi ám ảnh chung của cả cộng đồng qua nhiều thế hệ. Trong tầng sâu ấy tồn tại các cổ mẫu (archetype) – những khuôn hình nguyên thủy chi phối cách con người cảm nhận và tưởng tượng về thế giới, hình ảnh “Người Mẹ Lớn” (Great Mother) người nuôi dưỡng – che chở – sinh ra sự sống ví dụ như Demeter (Hy Lạp): nữ thần mùa màng, mẹ của sự sống. Cổ mẫu “Anh hùng” (Hero) người vượt thử thách, người đối mặt với cái ác và trưởng thành qua hành trình ,ví dụ: Hercules , Odysseus. Cổ mẫu “Thiếu nữ / Anima, nữ tính trong tâm lý ,cảm xúc, trực giác, cái đẹp ví dụ như Cinderella

Đặt vào văn hóa Việt Nam thời phong kiến, khi Nho giáo giữ vai trò chi phối, người phụ nữ bị ràng buộc trong những chuẩn mực khắt khe như tam tòng tứ đức. 1000 năm xã hội phong kiến tạo ra một không gian vô cùng chật hẹp đè nén lên bản thể của người phụ nữ, tạo ra những nỗi đau, bi kịch dai dẳng cho người phụ nữ từ thế hệ này cho đến thế hệ khác, thậm chí cái khung suy nghĩ vẫn tiếp tục nhốt người phụ nữ hiện nay trong những nhà tù của tâm trí. Cho đến tận bây giờ. Người phụ nữ không được sống cho bản thân mình, mà phải sống theo vai trò và kỳ vọng của xã hội. Chính vì vậy, trong văn học trung đại như Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, hình ảnh người phụ nữ thường gắn với bi kịch. Vũ Nương, Nhị Khanh, Hàn Than là những ví dụ tiêu biểu: họ có thể hiền lành, thủy chung, họ có thể vượng phu ích tử, họ có thể xinh đẹp tài hoa nhưng cuối cùng tất cả đều phải chết trong những oan khuất khốc liệt. Qua đó, ta thấy rõ một thực tế xã hội đó là người phụ nữ dù đúng chuẩn hay lệch chuẩn với đạo đức xã hội, cũng khó thoát khỏi bất công và đau khổ.
Nếu nhìn vào văn học, ta mới thấy được bi kịch, nỗi đau của đời sống. Và sau đó Nguyễn Dữ, bằng hư cấu đặc trưng của văn chương cũng sáng tạo ra hình tượng ma nữ như một sự giải thoát cho sự cùng đường tuyện lộ của họ. Nhưng trên thực tế, ở 1 đời sống tinh thần khác – trong tín ngưỡng dân gian – con người vô thức tìm ra một lối thoát khác. Tín ngưỡng thờ mẫu, xuất hiện và phát triển ngầm trong chốn dân gian người Việt, và mang một sức sống khá bền bỉ như là một sự giải phóng cho những ức chế bị đè nén về tinh thần của người Việt, nhất là người phụ nữ. Nếu áp dụng lý thuyết cổ mẫu của Jung, ta có thể thấy hình tượng Cô Đôi Thượng Ngàn chính là một biểu hiện tiêu biểu của cổ mẫu nữ tính được giải phóng trong vô thức tập thể người Việt.
Trong các bài hát hầu thánh, Cô Đôi hiện lên đầu tiên là tư thế oai phong lẫm liệt, “Ngọc điện chốn kim môn. Cô ra vào ngọc điện chốn kim môn” 1 tư thế ngược lại hoàn toàn với phận vị mà Nho giáo áp đặt nên người phụ nữ. Sau đó giữa cô sống thiên nhiên rộng mở, tự do, phóng khoáng: rừng xanh, hoa nở, chim bay, nước chảy. Cô “chơi bốn mùa”, “dạo gót”, “ưa” những món ăn dân dã. Những chi tiết ấy rất giản dị nhưng lại mang ý nghĩa sâu sắc: đó là một người phụ nữ được tự do sống, tự do lựa chọn, tự do hưởng thụ, không bị ràng buộc bởi đạo đức hay định kiến. Khác với những người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục, Cô Đôi không hề “bị ngợi ca” với những phẩm chất ràng buộc đạo đức, không công dung ngôn hạnh, không phải hy sinh. Cô tồn tại như một hình ảnh đẹp, vui tươi, sống động, tự do, tươi thắm, long lanh và phóng khoáng nhất. Những người xung quanh liên tiếp hát đế “ cô đẹp quá’.. như thể đó mới là vẻ đẹp thực sự mà con người muốn nhìn thấy ở người phụ nữ, chứ không phải vẻ đẹp phận vị mà Nho giáo ụp vào đầu người phụ nữ.
Từ góc nhìn của Jung, có thể hiểu rằng: khi đời sống thực không cho phép người phụ nữ được tự do, thì nhu cầu ấy không biến mất, mà được đẩy xuống vô thức. Và chính vô thức tập thể đã tạo ra hình tượng Cô Đôi như một cách để bù đắp và giải tỏa. cho những ẩn ức. Nói cách khác, Cô Đôi không phải là người phụ nữ nào ngoài đời. Những gốc tích thần thánh, những câu chuyện huyền thoại chốn dân gian vẫn chỉ là một cơ chế tạo nghĩa trong đời sống tâm thức của con người. Hình ảnh Cô đôi thượng ngàn thực chất là 1 cổ mẫu, một hình ảnh mà người phụ nữ (và cả cộng đồng) âm thầm, ngấm ngầm ao ước, mà không bao giờ có ngôn ngữ nào để nói
Đặc biệt, trong nghi lễ hầu đồng, khi những thanh đồng ( người phụ nữ) nhập vai Cô Đôi, họ có thể tạm thời thoát khỏi thân phận đời thường. Trong khoảnh khắc ấy, họ không còn là người bị ràng buộc bởi gia đình hay xã hội, mà trở thành trung tâm của sự tôn vinh, của cái đẹp và quyền năng ( lời đế: lạy cô, lạy cô, cô đẹp quá, cô múa dẻo quá). Không gian hát hầu thánh, hầu đồng, chính là một nơi để người phụ nữ " được phép điên", " được phép sống thật với con người bản năng của mình" Đây chính là một dạng giải thoát tạm thời – không làm thay đổi xã hội, một dạng giải thoát núp bóng tôn giáo, để hợp thức hóa những khát vọng giải phóng ngầm ẩn, điều đó giúp con người cân bằng tâm lý, giải tỏa những ức chế bị dồn nén.
Tóm lại, Cô Đôi Thượng Ngàn lại chính là dạng cổ mẫu của người Việt, thể khát vọng tự do của người phụ nữ (aniama) trong vô thức tập thể. Và chính vì thê mà Cô đôi thượng ngàn có 1 sức sống bền bỉ và trở thành hình ảnh, biểu tượng yêu thích trong văn hóa của người Việt.

Sáng tác
/sang-tac
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất
