Chuyển đổi số ngân hàng: Cỗ máy hút tiền của Techcombank Việt Nam và chòm sao nhân tạo của Bình An Trung Quốc
Hai ngân hàng lớn lên từ bất động sản và lựa chọn của họ khi thị trường đến điểm giới hạn
Khi nhắc đến câu chuyện "chuyển đổi số" của ngành ngân hàng, đa số chúng ta thường nghĩ ngay đến những chiếc app mượt mà trên điện thoại, các thông báo chuyển khoản không mất phí, hay việc quét mã QR để trả tiền cho một ly trà đá vỉa hè. Báo chí cũng thường xuyên nói về việc AI giúp ngân hàng cho vay nhanh và hiệu quả hơn thế nào.
Nhưng tất cả những thứ đó thực chất chỉ là bề nổi. Cuộc chơi công nghệ thực sự của một ngân hàng không chỉ nằm ở giao diện người dùng, mà còn nằm ở cách họ dùng công nghệ để xoay chuyển cách kiếm tiền, đặc biệt là khi họ đang bị phụ thuộc quá nhiều vào một ngành nghề truyền thống là bất động sản.
Đó là lý do tôi chọn so sánh hành trình chuyển đổi số của hai cái tên đình đám: Techcombank - một trong những ngân hàng tư nhân lớn nhất Việt Nam, và ngân hàng Bình An (Ping An Bank) - cánh tay ngân hàng của một đế chế tài chính - công nghệ Bình An (Ping An Group) khổng lồ tại Trung Quốc.
Dù ở hai quốc gia khác nhau, cả hai ông lớn này đều có một điểm xuất phát giống hệt nhau vì họ đều phất lên nhanh chóng nhờ việc bơm những dòng vốn khổng lồ cho các dự án bất động sản và cơ sở hạ tầng. Thế nhưng, khi cuộc chơi "đất cát" bắt đầu bộc lộ những giới hạn của nó, chiến lược nâng cấp công nghệ của họ lại rẽ sang hai hướng hoàn toàn trái ngược.
Nếu như Techcombank nỗ lực dùng công nghệ để xây dựng một hệ sinh thái khép kín, hào nhoáng và mang dáng dấp như Apple, để tiếp tục gắn mình với vận mệnh thị trường bất động sản Việt Nam; thì Ngân hàng Bình An lại biến dữ liệu và thuật toán thành một lưỡi dao phẫu thuật cấu trúc, tách bỏ bản thân khỏi thị trường này để khai phá các cơ hội mới.
Bài viết này nhằm lý giải vì sao lại có sự rẽ nhánh này giữa hai đế chế tài chính.
Hai tay buôn tiền sỉ
Đầu tiên, chúng ta cần hiểu họ làm gì.
Trước khi những ứng dụng di động mượt mà hay các chiến dịch chuyển đổi số nghìn tỷ xuất hiện, Techcombank đã định vị bản thân một cách cực kỳ khác biệt so với phần còn lại của hệ thống tài chính Việt Nam. Trong khi các đối thủ mải mê rải rác chi nhánh khắp các tỉnh thành để nhặt nhạnh từng khoản vay tiêu dùng nhỏ lẻ, thì từ đầu những năm 2000, Techcombank, dưới sự lèo lái của những doanh nhân Đông Âu hồi hương, đã chọn cách dồn toàn bộ nguồn lực để đứng chung sân chơi với những tập đoàn khổng lồ.
Họ không vận hành như một phòng giao dịch thụ động chờ khách hàng mang hồ sơ đến thế chấp. Thế mạnh tuyệt đối của định chế này nằm ở vai trò kiến trúc sư tài chính cho giới tinh hoa bất động sản. Techcombank sở hữu năng lực thiết kế các cấu trúc đòn bẩy quy mô lớn và khả năng giải ngân chớp nhoáng. Dòng máu tín dụng của họ chính là bệ phóng kiến tạo nên hàng loạt siêu dự án thay đổi hoàn toàn đường chân trời Việt Nam. Từ tổ hợp Vinhomes Central Park với đỉnh Landmark 81 cao nhất Việt Nam, các đại đô thị Vinhomes Ocean Park ở ngoại ô Hà Nội và Hưng Yên với biển hồ nhân tạo, cho đến khu căn hộ hàng hiệu Grand Marina Saigon nằm trên nền xưởng Ba Son lịch sử có giá bán tới 500 triệu/m2.
Nhờ mô hình "buôn tiền sỉ" gắn chặt với các chủ đầu tư lớn, Techcombank vươn lên trở thành ngân hàng tư nhân sinh lời hiệu quả bậc nhất hệ thống. Tuy nhiên, cái giá của mức lợi nhuận vượt trội đó là một cấu trúc bảng cân đối kế toán kẹt cứng vào chung cư và biệt thự. Có những giai đoạn, cứ 10 đồng ngân hàng này cho vay thì 5 đồng đã chảy trực tiếp vào các dự án bất động sản và các khoản vay thế chấp mua nhà.
Họ sống khỏe và phình to nhờ chu kỳ đô thị hóa thần tốc, nhưng đồng thời cũng tự trói sinh mệnh mình vào nhịp đập của những khối bê tông cốt thép. Khi quỹ đất ngày càng khan hiếm và quy định siết chặt dòng vốn ngân hàng bắt đầu xuất hiện, cỗ máy đúc bê tông này buộc phải tìm kiếm một lối thoát không gian mới để tiếp tục sinh tồn.
Khác với một định chế được sinh ra độc lập như Techcombank, Ngân hàng Bình An (Ping An Bank) mang thân phận của một đứa con nuôi. Nó được khai sinh nhằm hoàn thiện cỗ máy tài chính của Tập đoàn Bình An, một đế chế bảo hiểm quyền lực bậc nhất Trung Quốc. Dựa trên núi tiền mặt khổng lồ thu được từ phí bảo hiểm của công ty mẹ, tổ chức này đã thâu tóm Ngân hàng Phát triển Thâm Quyến để chính thức thiết lập một mặt trận tín dụng vĩ đại cho riêng mình.
Nhưng cũng như Techcombank, thay vì đi nhặt nhạnh từng đồng tiền gửi tiết kiệm của người lao động, trục sống lưng của Bình An trong thập kỷ trước là đi buôn tiền sỉ nhưng ở quy mô lớn gấp nhiều lần. Thế mạnh cốt lõi của họ nằm ở mô hình trói buộc kép giữa nợ và vốn cổ phần. Bình An không cam chịu làm một chủ nợ ngoan ngoãn chỉ biết thu lãi định kỳ.
Họ dùng nguồn lực tưởng chừng bất tận để mua đứt cổ phần và ngồi thẳng vào ghế hội đồng quản trị của hàng loạt siêu tập đoàn bất động sản như Evergrande, Vanke hay Country Garden. Dòng vốn khổng lồ này trực tiếp kiến tạo nên những kỳ quan bê tông nhuốm màu rủi ro, trải dài từ siêu dự án nhân tạo Đảo Hải Hoa của Evergrande, các đại đô thị công nghiệp vành đai Bắc Kinh của China Fortune Land, cho đến tham vọng vươn vòi ra hải ngoại thông qua siêu đô thị lấn biển Forest City tại Malaysia của Country Garden. Bằng cách vừa nắm quyền sinh sát của dòng tiền vay vừa trực tiếp tham gia giật dây các chiến lược thâu tóm quỹ đất, Bình An trở thành cỗ máy bơm máu lớn nhất cho những đại đô thị mọc lên từ đất ruộng.
Ở giai đoạn đỉnh cao 2018 - 2019, toàn bộ hệ sinh thái Bình An quản lý tổng tài sản vượt 8.000–9.000 tỷ Nhân dân tệ (khoảng 1200-1300 tỷ USD), đưa họ vào nhóm 10 tập đoàn tài chính lớn nhất thế giới. Riêng Ngân hàng Bình An vận hành bảng cân đối hơn 3.400 nghìn tỷ Nhân dân tệ (500 tỷ USD), với tỷ trọng tín dụng doanh nghiệp và bất động sản thuộc nhóm cao nhất hệ thống.
Việc dồn toàn bộ sinh lực để đúc nên những biểu tượng chọc trời cũng đồng nghĩa với việc Bình An tự trói mình vào một khối lượng tài sản vật lý khổng lồ. Sự phơi nhiễm của họ với thị trường địa ốc Trung Quốc chạm đến mức cực đại. Cứ mỗi một siêu đô thị lấn biển hay khu công nghiệp mới được vẽ ra trên bản đồ, bảng cân đối kế toán của ngân hàng này lại càng phình to và lún sâu hơn vào nền móng của những khối bê tông đó.
Kẻ tất tay, người bỏ chạy
Khi nói về chuyển đổi số, các ngân hàng thường dùng những khẩu hiệu rất đẹp: nâng cao trải nghiệm, phổ cập tài chính, đưa công nghệ đến mọi người. Nhưng nếu gạt lớp sơn truyền thông sang một bên, động cơ thực sự lại đơn giản và thực dụng hơn nhiều.
Thực chất họ buộc phải đưa mã lệnh vào tận lõi hệ thống vì họ đã chạm trần tăng trưởng theo cách cũ. Mở thêm chi nhánh, tuyển thêm hàng nghìn nhân viên hay phình to bộ máy vận hành đều ngày càng đắt đỏ và kém hiệu quả. Giống như một thành phố chật chội không thể mở rộng giao thông trên mặt đất nữa, các kỹ sư bắt buộc phải xây đường mới ở trên cao.
Trong bối cảnh đó, dữ liệu dần trở thành một dạng tài sản thế chấp vô hình. Các dòng code do đó không chỉ để làm app đẹp hơn, mà còn để giúp ngân hàng nhìn rõ rủi ro, đo lường hành vi và đưa ra quyết định nhanh hơn với ít con người hơn. Nhờ công nghệ, một bộ máy tinh gọn ít nhân lực có thể vươn tín dụng đi xa như một cánh tay dài, thay thế cho hàng loạt tầng nấc thủ công trước đây.
Khi Techcombank và Bình An tiến hành chuyển đổi số, cả hai gã khổng lồ này đều đang ôm trên bảng cân đối kế toán những khối tài sản bất động sản vĩ đại nhất nhì khu vực. Thế nhưng, động lực vung tiền cho công nghệ của họ lại rẽ sang hai hướng hoàn toàn trái ngược nhau. Chính sự khác biệt trong cách họ nhìn nhận về sự sống còn của những khối bê tông đã định đoạt luôn hình hài cỗ máy công nghệ mà họ quyết định chế tạo.
Techcombank: khát vọng tối ưu hóa cỗ máy bê tông
Trong những năm đầu khi đất mới tăng giá, chiến lược của Techcombank giống như việc dùng một chiếc vòi rồng khổng lồ xả thẳng tiền xuống các đại công trường. Họ bơm những khoản vốn bán buôn khổng lồ để các chủ đầu tư như Vingroup, Masteri đi gom quỹ đất và đổ móng xây nên những đại đô thị sừng sững.
Nhưng nhà xây xong thì phải có người mua. Khi giá nhà tăng phi mã và bỏ xa thu nhập của người dân bình thường, rủi ro nợ xấu vì nhà không bán được tăng lên; dòng chảy tiền sẽ bị tắc lại như cục máu đông. Để máu không đông, Techcombank quyết định bẻ lái sang việc tài trợ cho người mua nhà cuối cùng. Như vậy, một tay họ bơm tiền cho doanh nghiệp xây nhà, tay còn lại họ mời chào người dân các gói vay thế chấp kéo dài kỷ lục tới 35 năm, mà thực chất là đang dùng thời gian để pha loãng áp lực tài chính. Một cục nợ mua nhà khổng lồ được đập vụn ra thành những khoản trả góp hàng tháng nhỏ xíu, vừa vặn nhét vào ví tiền của giới trung lưu. Nhờ thiết kế xuất sắc này, hàng vạn căn hộ nhanh chóng được tiêu thụ trót lọt.
Tuy nhiên, việc phóng tay cho vay dài hạn tới một phần ba thế kỷ lại đẻ ra một cái bẫy sinh tử về dòng tiền. Hãy thử làm một phép tính nhẩm đơn giản. Ngân hàng không thể liên tục đi huy động tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn một năm với mức lãi suất 7% - 8%, rồi đem chính khoản tiền đó đi tài trợ cho một bản hợp đồng thế chấp mua nhà kéo dài đằng đẵng 35 năm với mức lãi suất 10%. Khoảng chênh lệch vài phần trăm nhỏ nhoi đó sẽ bị bóp nghẹt ngay lập tức bởi chi phí vận hành và rủi ro lãi suất.
Tồi tệ hơn, hệ thống sẽ đối mặt với nguy cơ đứt gãy thanh khoản trầm trọng. Khách gửi tiền thường sẽ rút vốn chỉ sau 12-24 tháng ngắn ngủi, trong khi người vay mua nhà thì cần tới hơn ba thập kỷ mới trả xong nợ gốc. Để cỗ máy tín dụng vĩ đại này không đổ sụp, Techcombank phải cố hết sức để thu hút tiền gửi. Họ phải làm sao để biển tiền khổng lồ trong dân chảy vào hệ thống liên tục và quan trọng nhất là chi phí huy động phải rẻ đến mức gần như bằng không.
Đây chính là nút thắt ép Techcombank phải bấm nút kích hoạt cuộc chơi chuyển đổi số. Họ không vung hàng trăm triệu đô la làm ứng dụng di động chỉ để khoe khoang sự hiện đại hay bám đuổi trào lưu. Thực chất, họ đang cố gắng chế tạo một cỗ máy hút tiền công suất lớn để gắn chặt vận mệnh của mình vào thị trường bất động sản Việt Nam.
Bình An: nỗi sợ kéo ra khỏi cuộc chơi
Ở một thái cực đối lập, Ngân hàng Bình An lại bước vào cuộc chơi số hóa với một tâm thế hoàn toàn khác. Nếu Techcombank dùng công nghệ để đào sâu hơn vào mỏ vàng bất động sản, thì Bình An lại bị thôi thúc bởi một nỗi sợ hãi mang tính cấu trúc hình thành từ tận năm 2016.
Vào thời điểm đó, thị trường địa ốc Trung Quốc vẫn đang phình to rực rỡ và các đại đô thị tiếp tục mọc lên như nấm. Tuy nhiên, các lãnh đạo của Bình An đã cảm nhận được một luồng gió lạnh buốt từ Bắc Kinh. Cuối năm 2016, thông điệp chính sách "nhà là để ở, không phải để đầu cơ" chính thức được Chính phủ Trung Quốc phát đi. Đối với một đế chế tài chính đang ôm giữ hàng trăm tỷ đô la tài sản gắn chặt với bất động sản, câu nói ngắn gọn đó không khác gì một bản án tử hình treo lơ lửng.
Họ sớm nhìn thấy viễn cảnh kinh hoàng mà trong đó khối tài sản vật lý khổng lồ mà họ đang tài trợ hoàn toàn có thể biến thành một cái bẫy không lối thoát. Nếu chính phủ thực sự siết van tín dụng để nắn gân thị trường, những tờ giấy thế chấp bất động sản hào nhoáng giá trị tỷ đô nằm im lìm trong két sắt sẽ chớp mắt mất hết đi giá trị. Bình An thấu hiểu rằng chu kỳ dựa dẫm vào cuộc chơi đất cát đã chạm đến giới hạn chính trị tột cùng và họ buộc phải tìm đường tháo chạy trước khi quả bom phát nổ.
Họ là kẻ tỉnh táo hiếm hoi trong cơn mê muội bao phủ khắp Trung Quốc bấy giờ.
Nhưng một cỗ máy bơm tiền khổng lồ thì không thể cứ muốn tắt máy là tắt. Để sinh tồn, Bình An bắt buộc phải bẻ lái dòng chảy tiền của mình sang một không gian mới là nền kinh tế thực, bao gồm các công ty logistics, nhà máy và hàng triệu doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vấn đề chết người ở đây là nhóm khách hàng sản xuất này không hề có những mảnh đất vàng hay siêu dự án để làm tài sản thế chấp. Nếu đi đánh giá sức khỏe của các công ty này bằng cách cử nhân viên tín dụng đi lật từng trang báo cáo tài chính giấy thì sẽ chẳng khác nào nhắm mắt ném tiền qua cửa sổ, vừa tốn thời gian vừa không hiệu quả.
Chính tại điểm nghẽn đó, nỗi lo sinh tồn biến thành động lực chuyển đổi số. Bình An không làm công nghệ để đi hút vốn giá rẻ như Techcombank. Họ vung tiền chế tạo một hệ thống giăng lưới dữ liệu khổng lồ nhằm kiến tạo ra một loại tài sản thế chấp hoàn toàn mới. Công nghệ lúc này được dùng như một chiếc phi thuyền thoát hiểm. Họ dùng mã lệnh để chặt đứt chiếc mỏ neo bằng đá mang tên bất động sản, mở đường cho dòng vốn bơi thẳng sang vùng biển của nền kinh tế sản xuất đại chúng.
Sau khi hiểu được động cơ đằng sau nỗ lực chuyển đổi số của cả hai, bây giờ chúng ta có thể xem họ đã làm điều đó như thế nào.
Techcombank: Cỗ máy hút vốn tinh xảo
Với Techcombank, để hiện thực hóa khát vọng duy trì cỗ máy bơm vốn vĩ đại, họ không hề từ bỏ mô hình kinh doanh cốt lõi. Thay vào đó, họ dùng sức mạnh của phần mềm để rèn ra một hệ thống ống dẫn tinh vi. Hành trình số hóa này không diễn ra theo từng bước tuyến tính chậm chạp, mà được vận hành đồng thời qua ba chiến lược đan cài hoàn hảo vào nhau.
Chiến lược thứ nhất - Tạo hồ chứa vốn bằng đòn tâm lý Zero Fee
Để giải quyết cơn khát vốn rẻ mạt, một trong những mũi nhọn đầu tiên được Techcombank tung ra vào năm 2016 là đòn tâm lý đánh thẳng vào thói quen đám đông với chính sách Zero Fee cho phép khách hàng chuyển tiền liên ngân hàng miễn phí. Họ không phải là người đi đầu, ngân hàng số Timo đã làm điều đó từ năm 2015, nhưng họ là ngân hàng lớn đầu tiên dám làm thế.
Bằng cách chấp nhận mất hàng ngàn tỷ đồng doanh thu từ phí chuyển khoản điện tử, họ nhanh chóng thu hút hàng triệu người đến mở tài khoản. Như thế ứng dụng ngân hàng biến thành một hồ chứa khổng lồ, âm thầm thu gom dòng tiền thanh toán nhàn rỗi của hàng triệu người dân.
Ban đầu, dòng tiền khổng lồ này nằm lại trong hệ thống dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn với chi phí trả lãi xấp xỉ bằng không. Nhưng khi chiến lược miễn phí chuyển khoản dần bị các đối thủ sao chép và trở thành tiêu chuẩn chung của thị trường, Techcombank buộc phải nâng cấp cỗ máy để ngăn chặn sự thất thoát của dòng vốn. Họ khéo léo tung ra tính năng sinh lời tự động ngay trên tài khoản thanh toán hàng ngày. Giờ đây dù không gửi tiết kiệm, tiền của khách hàng vẫn phát sinh lãi khoảng 3%/năm.
Nước cờ này nhắm thẳng vào tệp khách hàng sở hữu lượng tiền mặt lớn, có thể tới hàng chục tỷ đồng, nhưng cần sự linh hoạt. Đây là những người luôn để sẵn nguồn vốn lớn để chụp lấy các cơ hội kinh doanh chớp nhoáng và không hề muốn trói buộc tiền của mình vào các kỳ hạn tiết kiệm cứng nhắc. Thuật toán của ứng dụng sẽ tự động quét và điều hướng số tiền nhàn rỗi này vào các công cụ sinh lời ngắn hạn để tạo ra lợi nhuận mỗi ngày, trong khi khách hàng vẫn có thể rút ra tiêu dùng hoặc chuyển khoản bất cứ lúc nào.
Chiến lược thứ hai - Đưa hệ thống lên mây để vắt kiệt dữ liệu
Song song với việc mở rộng phễu hút tiền, một chiến lược khác được kích hoạt ở kiến trúc thượng tầng. Vào năm 2021, Techcombank đã đầu tư 500 triệu USD để bắt tay chiến lược với Amazon Web Services đưa các dịch vụ thiết yếu của họ lên điện toán đám mây. Việc này không đơn thuần là để giúp giao diện người dùng chạy mượt mà hơn, mà là để thiết lập một bộ não phân tích dữ liệu đầy tinh vi.
Khi hàng triệu người dùng liên tục quẹt thẻ, trả hóa đơn và nhận lương trên cùng một nền tảng, thuật toán sẽ tự động phác họa chân dung tài chính của từng cá nhân. Nguồn dữ liệu dồi dào này cho phép Techcombank lướt qua các rào cản giấy tờ cồng kềnh, tự động hóa việc phê duyệt các khoản vay tiêu dùng và đặc biệt là các khoản vay mua nhà với một tốc độ vượt xa phương thức truyền thống.
Chiến lược thứ ba - Khóa chặt dòng tiền bằng các vệ tinh công nghệ
Chiến lược lớn nhất về quy mô, và cũng là mảnh ghép tinh vi nhất, chính là việc giăng ra các vệ tinh công nghệ để khóa chặt vòng lặp. Đây là cách họ đảm bảo dòng tiền một khi đã chảy vào hệ sinh thái thì sẽ đi thẳng đến những khối tài sản vật lý họ chỉ định.
Họ xây dựng nền tảng TCInvest cho công ty chứng khoán TCBS để bình dân hóa thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Nền tảng số này làm nhiệm vụ phân phối trực tiếp hàng chục ngàn tỷ đồng trái phiếu bất động sản Vinhomes đến tay hàng vạn nhà đầu tư cá nhân với một bộ máy nhân sự siêu mỏng. TCInvest đóng vai trò như một chiếc van xả phụ, dẫn tiền từ túi dân thường bơm thẳng vào các siêu dự án mà không dồn gánh nặng rủi ro lên bảng cân đối kế toán của ngân hàng mẹ.
Mảnh ghép hoàn thiện vòng lặp này là nền tảng định giá nhà OneHousing. Bằng cách số hóa khâu môi giới và thẩm định bất động sản vốn dĩ vô cùng mù mờ, mô hình định giá tự động của OneHousing đưa ra các ước tính giá trị tài sản gần như tức thì. Nền tảng này làm nhiệm vụ nối thẳng người mua nhà với nguồn vốn vay đã được phê duyệt tự động của ngân hàng và các dự án của đối tác chiến lược.
Tổng hòa ba chiến lược vận hành song song này, Techcombank đã dùng công nghệ để kiến tạo một cấu trúc khép kín hoàn hảo. Các dòng code âm thầm hút dòng tiền lẻ, phác họa rủi ro trên đám mây, rồi bơm thẳng vào những đại công trường thông qua các van phân phối tinh vi. Cuộc chuyển đổi số của họ rốt cuộc là một minh chứng xuất sắc cho việc công nghệ có thể phục vụ tận tụy cho sự phình to của bất động sản.
Bình An: Chòm sao định giá doanh nghiệp
Hai đích đến mới để giải cứu dòng vốn khổng lồ của Bình An chính là tín dụng cá nhân và các mạch máu trong nền kinh tế thực, bao gồm các xưởng cơ khí, các nông trại và hàng triệu doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Ở mặt trận đầu tiên, việc bẻ lái sang mảng bán lẻ diễn ra vô cùng mượt mà nhờ một lợi thế bất công mà ít ngân hàng độc lập nào có được. Nếu Techcombank phải tung ra các chiến thuật miễn phí giao dịch và tài khoản sinh lời để hút tiền của người dùng và thu thập dữ liệu, thì Bình An lại khai thác triệt để mỏ vàng dữ liệu di truyền từ tập đoàn mẹ kinh doanh trong ngành bảo hiểm.
Bằng cách dùng thuật toán để đục thông các vách ngăn nội bộ, hệ thống lõi của ngân hàng kết nối thẳng vào kho tàng chứa hàng trăm triệu người dùng của đế chế bảo hiểm Bình An. Từ kho vàng đó, trí tuệ nhân tạo sẽ quét qua lịch sử đóng phí bảo hiểm, thói quen khám chữa bệnh trên ứng dụng y tế hay hồ sơ mua sắm xe hơi để tự động phác họa độ tín nhiệm của từng cá nhân. Cỗ máy này cho phép họ giải ngân thần tốc các khoản vay tiêu dùng mà không đòi hỏi khách hàng phải thế chấp bất kỳ mét vuông đất nào.
Tuy nhiên, khi mặt trận bán lẻ đã thông suốt, Bình An vấp phải một thử thách cam go hơn rất nhiều. Đó là việc làm sao bơm tiền an toàn cho các xưởng cơ khí, nông trại và hàng triệu doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ở lĩnh vực đó, Bình An cũng gặp một vấn đề hóc búa mà các ngân hàng truyền thống khác vẫn chưa giải quyết được triệt để: đó là đảm bảo rủi ro. Nhóm khách hàng sản xuất này có thể kinh doanh rất tốt nhưng lại không sở hữu đất đai có giá trị, thứ tài sản thế chấp truyền thống duy nhất mà hệ thống ngân hàng tin tưởng.
Bức tranh bế tắc này thực chất là một căn bệnh trầm kha quen thuộc không chỉ ở Trung Quốc. Ngay tại Việt Nam hiện nay, hàng trăm ngàn doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng đang bị mắc kẹt với vấn đề này. Dù đóng vai trò là xương sống tạo ra công ăn việc làm cho hàng triệu người và tạo ra hàng hóa xuất khẩu ra thế giới, rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam thường xuyên bị đẩy ra rìa của dòng chảy tín dụng. Việc không sở hữu những khối bất động sản để thế chấp khiến các doanh nghiệp này hoặc bị từ chối vay vốn một cách phũ phàng, hoặc phải cắn răng chấp nhận những mức lãi suất cắt cổ đe dọa trực tiếp đến biên lợi nhuận mỏng manh của họ.
Do đó, để phục vụ cho nhóm khách hàng mới này, Ngân hàng Bình An đã chuyển mình từ một ngân hàng số thành một công ty công nghệ có giấy phép ngân hàng. Tương tự như hệ thống của Techcombank, hành trình này được vận hành qua ba guồng máy đan cài chặt chẽ nhưng táo bạo hơn rất nhiều.
Chiến lược thứ nhất - Giăng lưới cảm biến để bắt mạch nền kinh tế thực
Để cho vay mà không cần sổ đỏ, Bình An phải tìm ra một loại tài sản bảo đảm mới. Bước đi đầu tiên của họ là giăng một hệ thần kinh nhân tạo khổng lồ với hơn chục triệu thiết bị cảm biến Internet Vạn vật (IoT) cắm sâu vào các mao mạch của nền kinh tế.
Cốt lõi của chiến lược này là một sự đoạn tuyệt với những giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nằm im trong két sắt. Thay vì hỏi doanh nghiệp sở hữu cái gì, Ping An đặt câu hỏi doanh nghiệp đang vận hành như thế nào. Tài sản đảm bảo không còn là một vật thể tĩnh, mà trở thành một dòng tín hiệu sống, phản ánh nhịp sản xuất, vận tải và tiêu thụ theo thời gian gần thực.
Để làm được điều đó, ngân hàng này xây dựng một mạng lưới quan sát đa tầng. Ở tầng mặt đất, các thiết bị IoT được gắn trực tiếp vào tài sản đang vận hành của doanh nghiệp: cảm biến rung và nhiệt độ trên máy CNC trong xưởng cơ khí, thiết bị GPS và đo tải trọng trên xe tải vận chuyển hàng, cảm biến áp suất trong bồn chứa hóa chất, hay vòng cổ sinh trắc học theo dõi đàn bò sữa tại các trang trại nông nghiệp. Mỗi thiết bị là một điểm đo, và mỗi điểm đo là một mảnh dữ liệu về khả năng tạo ra dòng tiền.
Giờ đây, ngân hàng không còn phải ngồi chờ đợi những bản báo cáo tài chính trên giấy mỏng manh và thường xuyên bị xào xáo. Hệ thống của họ đã âm thầm thu thập dữ liệu về nhịp đập sinh học của doanh nghiệp theo thời gian thực. Ngân hàng giờ đây có thể biết chính xác một xưởng may đang chạy bao nhiêu ca một ngày hay một đội xe tải đang di chuyển trên quãng đường nào.
Chiến lược thứ hai - Trí tuệ nhân tạo và viễn thám định giá dòng chảy vận hành
Thách thức cho việc thu thập dữ liệu nảy sinh khi phần lớn các hoạt động khai khoáng, nông nghiệp quy mô lớn hay vận tải viễn dương lại thường diễn ra ở những vùng lõm sóng viễn thông, nơi tín hiệu Internet không có hoặc rất yếu.
Để vượt qua giới hạn vật lý này, Bình An đã lựa chọn một giải pháp cực kỳ táo bạo vượt ra khỏi mọi giới hạn thông thường của ngành tài chính là đưa hệ thống thẩm định rủi ro của mình thoát khỏi bầu khí quyển Trái Đất. Trong giai đoạn 2019 - 2020, họ đã hợp tác với các đối tác hàng không vũ trụ để phóng lên quỹ đạo các chòm vệ tinh mang tên Bình An 1, 2 và 3. Động thái vô tiền khoáng hậu này là nền móng cho một mạng lưới giám sát vạn vật kết nối khổng lồ mang tên dự án Chòm sao Tinh Vân (Nebula).
Sự xuất hiện của chòm vệ tinh Tinh Vân đóng vai trò như một cặp mắt thần toàn năng. Dữ liệu từ hàng triệu thiết bị vật lý nhỏ bé kia, bất chấp sự cách trở của địa hình, được bắn thẳng lên quỹ đạo thấp và trút ngược về trung tâm xử lý dữ liệu khổng lồ của ngân hàng với độ trễ rất thấp.
Không chỉ nhận tín hiệu, các vệ tinh còn trực tiếp theo dõi và giám sát tài sản vật lý của khách hàng, từ diện tích và sức khỏe mùa vụ nhìn từ trên cao, số lượng xe tải ra vào nhà máy, cho tới số tấm pin mặt trời thực sự tồn tại trong một nông trại điện mặt trời, rồi đổ dữ liệu đó vào các mô hình AI quản trị rủi ro của ngân hàng.
Các thuật toán trí tuệ nhân tạo sẽ tổng hợp toàn bộ lượng thông tin khổng lồ này để lượng hóa thành một chỉ số tín nhiệm động. Cấu trúc rủi ro lúc này trải qua một sự dịch chuyển mang tính lịch sử. Nó không còn bị trói buộc vào giá trị tĩnh của một mảnh đất vô hồn, mà được đo lường trực tiếp qua tốc độ nhả khói của ống khói nhà máy và vòng quay thực tế của hàng tồn kho.
Chiến lược thứ ba - Thuật giả kim biến dữ liệu thành tài sản thế chấp
Khi hệ thống quan sát toàn diện đã vận hành trơn tru, Bình An chính thức hoàn thiện cuộc lột xác. Họ dùng năng lực điện toán để tiến hành một thuật giả kim tài chính, biến những dòng tín hiệu điện tử vô hình thành tài sản đảm bảo vững chắc.
Mạng lưới giám sát này cho phép họ tự tin bơm hàng trăm tỷ đô la dòng vốn tín dụng xuống tận những tầng sâu nhất của chuỗi sản xuất đại chúng. Thậm chí đối với các khoản vay nông nghiệp, Bình An không cần cử nhân viên về tận làng quê để đếm số lượng gia súc thế chấp. Họ dùng camera hồng ngoại và cảm biến chuyển động tại trang trại để đo lường mật độ sinh sống của đàn vật nuôi. Nếu một đợt dịch bệnh âm thầm quét qua làm sụt giảm đàn lợn, cỗ máy AI sẽ phất cờ cảnh báo đỏ về nguy cơ mất vốn sớm trước hàng tháng trời, từ rất lâu trước khi người nông dân kịp làm đơn xin khất nợ.
Tổng hòa lại, chòm sao Tinh Vân và trung tâm dữ liệu đã giúp Ngân hàng Bình An tự tay cắt đứt chiếc mỏ neo bất động sản, chuyển hóa thành công mô hình định giá tài sản tĩnh sang định giá vận hành. Họ đã bước qua phạm vi là một ngân hàng, chuyển mình thành một công ty công nghệ để tạo ra một sức mạnh tăng trưởng mới bám rễ vào sự chuyển động thật của nền kinh tế.
Kẻ vắt đất, người nuôi tăng trưởng
Nhìn lại toàn bộ bức tranh khốc liệt của thập kỷ qua, cả Techcombank và Ngân hàng Bình An đều gặt hái được những thành quả tài chính vượt trội trên thị trường. Dù chọn hai ngã rẽ công nghệ hoàn toàn trái ngược, những dòng mã lệnh của họ đều đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh bảo vệ và khuếch đại quyền lực cốt lõi.
Với Techcombank, chiến lược dùng đám mây và ứng dụng di động để vắt kiệt công suất của hệ sinh thái bất động sản đã tạo ra những con số vô tiền khoáng hậu. Khép lại năm 2025, nhờ gắn vận mệnh của mình sát với thị trường bất động sản, cỗ máy này đã báo lãi trước thuế hơn 32.500 tỷ đồng, tăng trưởng 18.2% so với năm trước. Tỷ lệ vốn giá rẻ CASA liên tục được duy trì ở mức áp đảo thị trường. Đáng kinh ngạc hơn cả là chiếc van xả phụ TCBS đã tự mình mang về hơn 7.100 tỷ đồng lợi nhuận chỉ nhờ việc phân phối tự động các gói trái phiếu và công cụ đầu tư cho người dùng cá nhân.
Tuy nhiên, nếu nhìn bằng con mắt phản biện, sự thành công của Techcombank không đến từ việc họ tự bứt mình ra khỏi rủi ro. Thành quả rực rỡ này chứng minh sức mạnh của một kiến trúc phân tán. Công nghệ đã giúp họ đập nhỏ tảng đá rủi ro khổng lồ của các siêu dự án thành công, chuyển giao sự phơi nhiễm đó lên vai hàng vạn người dùng cuối để giữ cho bảng cân đối kế toán của ngân hàng mẹ ở trạng thái bóng bẩy nhất.
Trong khi đó, sự sụp đổ tàn khốc của thị trường Trung Quốc giai đoạn 2022 đến 2024 lại chứng minh sự đúng đắn trong chiến lược đổi mới của Bình An. Khi quả bóng bất động sản chính thức vỡ vụn, tạo ra một cơn sóng thần nhấn chìm hàng loạt đế chế tưởng không thể sụp đổ như Evergrande hay Country Garden và thổi bay thanh khoản của vô số định chế tài chính, Ngân hàng Bình An lại trình diễn một khả năng chống chịu vững chãi đến nghẹt thở.
Bất chấp cơn cuồng phong đứt gãy vĩ mô đang càn quét khắp nơi, tỷ lệ nợ xấu của Bình An được ghìm chặt ở mức 1,06%, mức cự kỳ an toàn. Họ đứng vững giữa tâm bão cứ như thể nền kinh tế bên ngoài vẫn đang trong những ngày tháng bình yên nhất.
Sự bình yên đó có được là nhờ cỗ máy công nghệ đã giải phóng họ khỏi chiếc bẫy thế chấp bằng tài sản tĩnh. Chỉ khoảng năm năm sau khi kích hoạt, “chòm sao” Tinh Vân đã được kết nối với hơn 12 triệu thiết bị IoT khắp các mỏ khoáng sản, nông trại, khu công nghiệp và tuyến vận tải, phục vụ hơn 12.000 khách hàng doanh nghiệp ở sáu ngành xương sống của nền kinh tế Trung Quốc.
Hơn 100 tỷ USD dòng vốn đã được họ bơm an toàn tuyệt đối xuống tận các xưởng sản xuất và tuyến logistics thông qua hệ thống cảm biến Tinh Vân mà không cần một mét vuông đất thế chấp nào. Cộng hưởng với mỏ vàng tín dụng tiêu dùng được khai thác triệt để từ dữ liệu công ty mẹ, sự lột xác công nghệ này đã giúp Bình An cắt đứt hoàn toàn dây rốn với những khối bê tông từng một thời nuôi lớn chính họ.
Họ thực sự đã cấp dưỡng chất nuôi sống hàng vạn doanh nghiệp trong cơn bão khủng hoảng.
Chuyển đổi công nghệ hay chỉ là tối ưu Code
Nếu chúng ta gọi không gian của những thuật toán, phần mềm và giao diện số là thế giới "Code", thì "Cát" chính là bản chất vật lý khai sinh ra toàn bộ kỷ nguyên này, bao gồm những tinh thể silicon, chip bán dẫn và các trung tâm dữ liệu khổng lồ. Lịch sử từng chứng kiến giai đoạn phần mềm định hình thế giới, nhưng ở thập kỷ hiện tại, sức mạnh của Cát đang trỗi dậy và xác lập lại trật tự móng nền. Bất kỳ một hệ thống trí tuệ nhân tạo hay nền tảng tài chính tối tân nào cũng không thể vận hành nếu thiếu đi năng lực tính toán vật lý (compute power) bên dưới.
Đặt trong hệ quy chiếu này, chiến lược chuyển đổi số của Techcombank là một ví dụ điển hình cho tư duy tối ưu hóa lớp Code. Việc hợp tác chiến lược với các nhà cung cấp điện toán đám mây như Amazon Web Services cho phép ngân hàng này nhanh chóng triển khai các ứng dụng mượt mà, tự động hóa quy trình tín dụng và xử lý lượng lớn giao dịch mà không cần tự xây dựng hạ tầng máy chủ quy mô lớn.
Sự lựa chọn này hoàn toàn logic và đạt hiệu quả xuất sắc đối với mục tiêu kinh doanh cốt lõi của họ là phân phối vốn nhanh chóng vào chuỗi giá trị bất động sản. Tuy nhiên, giới hạn cấu trúc của mô hình này nằm ở chỗ ngân hàng không thực sự nắm giữ công nghệ lõi. Việc phụ thuộc vào hạ tầng của các tập đoàn công nghệ toàn cầu định vị họ ở vai trò một người sử dụng bộ công cụ số xuất sắc, thay vì một nhà kiến tạo nền tảng độc lập.
Ngược lại, những thế lực tài chính hàng đầu thế giới đang có xu hướng dịch chuyển trọng tâm quyền lực về phía Cát. Chúng ta đã thấy, ngân hàng Bình An không chỉ dừng ở việc viết phần mềm chấm điểm tín dụng; họ trực tiếp phóng các chòm vệ tinh và giăng hàng triệu cảm biến IoT bằng silicon xuống các nhà máy sản xuất để làm chủ hoàn toàn dữ liệu vật lý.
Nhìn rộng ra bức tranh toàn cầu, sự trỗi dậy của mã lệnh đang buộc các đế chế ngân hàng phải tái định nghĩa bản chất tồn tại của chính mình. Những thế lực tài chính hàng đầu thế giới không còn coi công nghệ thông tin là một công cụ hỗ trợ vận hành. Họ đang quyết liệt lột xác để trở thành những công ty công nghệ "tình cờ" có giấy phép ngân hàng.
JPMorgan Chase, ngân hàng lớn hàng đầu nước Mỹ, đang duy trì ngân sách công nghệ gần 20 tỷ USD mỗi năm không chỉ để phát triển ứng dụng, mà còn để tự xây dựng các trung tâm dữ liệu khổng lồ nhằm bảo vệ chủ quyền tuyệt đối về hạ tầng tính toán.
Tại châu Âu, ngân hàng HSBC của Anh sớm nhận ra giới hạn xử lý của các hệ thống máy chủ cổ điển và đã bước vào kỷ nguyên điện toán lượng tử cùng IBM. Họ sử dụng sức mạnh phần cứng tối tân nhất để giải quyết các bài toán tối ưu hóa danh mục và giao dịch thuật toán phức tạp.
Ngay cả tại Đông Nam Á, ngân hàng DBS của Singapore đã tự thiết lập một tiêu chuẩn chiến lược nội bộ mang tên GANDALF — một từ viết tắt ghép chữ cái đầu "D" của họ vào chung hàng ngũ với Google, Amazon, Netflix, Apple, LinkedIn và Facebook. DBS không cố gắng số hóa các dịch vụ ngân hàng truyền thống; họ đập đi xây lại toàn bộ hệ thống lõi, chuyển sang kiến trúc cloud‑native, API‑first và vận hành các trung tâm dữ liệu như một công ty công nghệ thực thụ.
Trên nền hạ tầng đó, DBS triển khai các sản phẩm số thuần túy như digibank tại Ấn Độ và Indonesia, nơi toàn bộ vòng đời khách hàng - từ mở tài khoản, chấm điểm tín dụng đến cấp vốn - được xử lý hoàn toàn bằng phần mềm, không chi nhánh, không giấy tờ.
Đến đây chúng ta hãy xem xét các thang bậc tiến hóa mang tính cấu trúc của ngành tài chính toàn cầu. Nhìn lại lịch sử chuyển đổi số, chúng ta có thể chia tiến trình này thành ba nấc thang tiến hóa rõ rệt, định hình bởi cách các định chế tương tác với mã lệnh và nền tảng vật lý.
Giai đoạn 2010-2015: Nấc thang đầu tiên là kỷ nguyên số hóa bề mặt diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn này. Ở chặng đường này, các định chế tài chính tập trung dùng mã lệnh để xây dựng ứng dụng di động, bôi trơn quy trình thủ tục và số hóa các điểm chạm với khách hàng.
Giai đoạn 2015-2020: Khi bước sang giai đoạn này, mũi nhọn của ngành ngân hàng toàn cầu tiến vào kỷ nguyên tái thiết lập lõi thuật toán. Đây là lúc các ngân hàng tự động hóa những quy trình vận hành phức tạp, chuẩn hóa dữ liệu, và đưa các mô hình phân tích vào trung tâm của hoạt động kinh doanh. Thay vì chỉ số hóa bề mặt, họ bắt đầu tái cấu trúc hệ thống lõi để cho phép xử lý thời gian thực, đánh giá rủi ro động và ra quyết định dựa trên dữ liệu thay vì dựa vào thủ tục giấy tờ truyền thống. Nói cách khác, mã lệnh không còn chỉ là lớp giao diện mà trở thành bộ máy vận hành nội tại của tổ chức.
Techcombank, cũng như nhiều ngân hàng khác ở Việt Nam, hiện đang nỗ lực bứt phá trong chính giai đoạn thứ hai này để bắt kịp thế giới.
Giai đoạn 2020 - nay: Ở giai đoạn này, cuộc chơi quyền lực của ngành tài chính toàn cầu bắt đầu vượt ra khỏi giới hạn của phần mềm để tiến vào một nấc thang mới: kỷ nguyên của quyền lực hạ tầng vật lý. Đây không phải là một bước nhảy đột ngột, mà là quá trình tích lũy dần, khi các định chế lớn nhận ra rằng việc tối ưu mã lệnh trên hạ tầng đi thuê đã chạm trần lợi thế cạnh tranh.
Trong giai đoạn này, những ngân hàng dẫn đầu như JPMorgan, DBS, Ping An hay HSBC không còn xem cloud công cộng là nền móng duy nhất. Họ chủ động xây dựng đám mây nội bộ, data center riêng và các lớp hạ tầng tính toán chuyên biệt, nhằm giành lại quyền kiểm soát đối với độ trễ, chi phí biên, dữ liệu nhạy cảm và năng lực ra quyết định theo thời gian thực. Phần mềm vẫn quan trọng, nhưng quyền lực thực sự bắt đầu dịch chuyển xuống tầng hạ tầng, nơi quyết định ai có thể vận hành ở quy mô công nghiệp và ai buộc phải phụ thuộc vào nền tảng của người khác.
So với xu thế này, phần lớn các ngân hàng tại Việt Nam hiện vẫn đang vận hành chủ yếu ở hai nấc thang đầu: số hóa trải nghiệm và tối ưu phần mềm trên hạ tầng đi thuê. Khoảng cách không nằm ở chất lượng mã lệnh hay ý chí chuyển đổi số, mà ở khả năng đầu tư dài hạn vào hạ tầng lõi - một cuộc chơi đòi hỏi quy mô vốn, tầm nhìn và mức độ chấp nhận rủi ro mà các ngân hàng trong nước vẫn chưa đủ khả năng đáp ứng.
Trong kỷ nguyên mà ranh giới giữa một tổ chức tín dụng và một tập đoàn công nghệ bị xóa nhòa, quy luật sinh tồn trở nên vô cùng khắt khe. Việc tinh chỉnh các dòng Code xuất sắc đến mấy cũng chỉ giúp ngân hàng chạy nhanh hơn trên những con đường đã được lót gạch sẵn. Để thiết lập một cấu trúc quyền lực tài chính vĩnh cửu và không thể bị xô đổ trước các cuộc khủng hoảng vĩ mô, nền móng quyết định cuối cùng bắt buộc phải được cắm sâu xuống Cát.
--------------------------------------------------------------------------------------------------
Nếu bạn đã đọc đến đây mình rất cám ơn và hi vọng bạn đã hài lòng với bài viết này. Đây là bài viết thứ hai trong chuỗi bài viết phân tích về việc ứng dụng công nghệ trong các công ty Việt Nam và nước ngoài.
Do mình làm series này trong khuôn khổ hợp tác với đội ngũ Spiderum nên cũng muốn quảng cáo. Nếu bạn hứng thú với chủ đề công nghệ thay đổi xã hội, hãy đặt mua sách "Code và Cát: Những quyền lực công nghệ xoay chuyển thế giới". Quyển sách sẽ giúp bạn đọc hiểu hơn về lịch sử của những công ty công nghệ lớn trên toàn cầu, cách họ thay đổi bộ mặt xã hội và thâu tóm quyền lực vào tay mình.
Link đặt sách:

Khoa học - Công nghệ
/khoa-hoc-cong-nghe
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

