Chủ nghĩa đế quốc thực dân Nga có một người thầy đã giúp xây dựng tư tưởng. Và người thầy đấy nằm ngay ở Tây Âu
Chủ nghĩa đế quốc thực dân Nga là một sự khác biệt của châu Âu, khi nó bành trướng trên đất liền hơn là trên biển. Trên giấy tờ, nó không giống các chủ nghĩa thực dân nào khác của các nước Âu lục đồng hương, nhưng thực tế lại khác.

Khi nói đến chủ nghĩa đế quốc thực dân, Nga lại thường ít được đề cập khi so với Hoa Kỳ, Mông Cổ, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Ý, Trung Quốc và Anh. Nhiều người cả tin rằng Nga hiền hậu nên được yêu mến, một nhận định hoàn toàn sai lầm. Nếu Nga mà đã hiền hậu, thì có lẽ láng giềng đã không cần NATO làm gì.
Thế nhưng, đã ai từng bao giờ hỏi, chủ nghĩa đế quốc Nga hiện đại có gốc gác từ đâu chưa? Lịch sử đã chứng minh rằng các đế quốc thực dân đều phải có xuất phát điểm, và Nga cũng không phải là ngoại lệ. Nhưng khi sự thật được hạ màn, thì đó là lúc mà chắc chắn đến cả những người chín chắn nhất cũng phải sốc, bởi một phần nguồn gốc cho các hành động của Nga cho đến tận nay, lại nằm ngay ở đất nước Tây Âu này.
Chuyến thăm định mệnh

Sa hoàng Peter I yết kiến Vua Louis XV ở Versailles, 1717
Năm 1717, trong bối cảnh Sa quốc Nga đang giao chiến kịch liệt với Thụy Điển để tranh giành Bắc và Trung Âu, Sa hoàng Peter I đích thân tới diện kiến Vua Louis XV, lúc đó mới 7 tuổi, trong một chuyến thăm bất ngờ tới cung điện Versailles. Chuyến đi tới Pháp này là một phần trong nỗ lực ngoại giao của Nga nhằm làm suy yếu và cô lập Thụy Điển bằng mọi giá.
Lựa chọn của Peter I khá logic khi nhìn vào vị thế của Pháp bấy giờ. Pháp chính là cường quốc số một châu Âu khi đó, với một nền kinh tế lớn, dân số đông đảo, trung tâm khoa học và văn hóa của châu lục, một quân đội hùng mạnh vừa giành chiến thắng trước người Anh, Hà Lan và Phổ ở Tây Ban Nha, và đặc biệt hơn nữa, là một thể chế quân chủ chuyên chế tuyệt đối (Ancien régime). Vì lẽ đó, đến Pháp là một cơ hội diện kiến không thể tốt hơn cho Sa hoàng Peter I để được tận mắt nhìn sự vĩ đại của Pháp bấy giờ, đặc biệt khi so với nước Nga rộng lớn nhưng chậm phát triển hơn.
Nhưng chính chuyến đi Pháp này lại thay đổi vĩnh viễn nhận thức của Peter I. Khi ông được chứng kiến cách chính phủ Pháp vận hành, ông bắt đầu thôi thúc quá trình cải cách mạnh dạn hơn. Nhưng "cải cách" của Peter I không phải là để tạo mầm mống cho những suy nghĩ tự do, mà là để gây dựng một thể chế kiểu Tây mà không làm mất đi bản chất chuyên chế Nga, một dạng chính phủ mà sau này được gọi là "Tsarist autocracy", hay còn gọi là "Chuyên chế kiểu Sa hoàng". Thể chế này cho phép Sa hoàng Nga được toàn quyền quyết định, với quyền lực hạn chế dành cho các quan chức dưới quyền.
Sau khi Peter I chính thức đăng cơ ngôi vị Hoàng đế của Đế quốc Nga mới thành lập năm 1721, ông ta đã nhanh chóng mở rộng cuộc cải cách chuyên chế của mình bằng việc yêu cầu các du học sinh Nga phải sang Tây Âu để thu thập các tài liệu và ghi chép trong quá trình Tây hóa, mà Pháp chính là ưu tiên số một và là địa điểm hàng đầu. Kể từ đó, các tài liệu của Pháp dần được tuồn vào Nga nhiều hơn, và những kiến thức, học thuật trị quốc của người Pháp dần trở nên rộng rãi trong giới cầm quyền Nga, dựng nên bản chất gốc rễ của tư tưởng đế quốc chủ nghĩa của Nga sau này.
Thay đổi chính quyền, cùng quan điểm thực dân

Pháp chinh phục Algeria vào thế kỷ 19
Năm 1789, Pháp rơi vào hỗn loạn bởi cuộc Cách mạng chống chế độ chuyên chế của dòng dõi Capet-Bourbon. Cũng kể từ đó, Pháp trải qua loạt bất ổn chính trị và thay đổi thể chế, lúc thì Cộng hòa, lúc thì dưới trướng nhà Bonaparte, trước khi chính thức chuyển đổi thành mô hình Cộng hòa hẳn hoi từ năm 1871. Sự thay đổi mô hình và thể chế liên tục ở Pháp khiến người Nga vô cùng thấp thỏm, nhất là khi họ không ưa gì những mầm mống cách mạng đòi dân chủ và áp dụng nền cộng hòa trị, vốn đối lập với tư tưởng chuyên chế Sa hoàng mà Nga đang áp dụng. Trên thực tế, Nga và Pháp đã trở thành kẻ thù nhiều hơn là bạn vào thời điểm đó, khi đã lao vào chiến tranh từ thời Napoleon cho đến bán đảo Crimea; điều đấy dễ nảy sinh ý nghĩ rằng hai nước chắc chắn sẽ phải có ý tưởng đối lập nhau.
Nhưng chính trị không chỉ đơn thuần là trắng hay đen, và chính yếu tố này dẫn đến một điểm mù mà cả hai tương đồng đến kỳ lạ: tư tưởng bành trướng chủ nghĩa kiểu áp đặt. Sự vô lý là ở chỗ, Pháp và Nga, với hệ chính trị ngày càng đối lập, đáng nhẽ phải xung khắc nhau ngày càng nhiều, nhưng chính trong sự xung khắc ấy, họ lại ngày càng giống nhau ở một logic, đó là sự áp đặt với các nhóm dân tộc bị áp bức. Tại sao?
Mầm mống xuất hiện ngay ở trong thời kỳ Cách mạng Pháp, khi vào ngày 25/9/1792, các nhà lập pháp của nền Cộng hòa Pháp đầu tiên đề xuất và thông qua đạo luật tuyên bố, Pháp là một nhà nước "thống nhất và không thể bị chia rẽ" (une et indivisible), nhằm phản đối ý tưởng liên bang hóa đất nước. Trong khi đặc điểm này nhìn nhận Pháp là một quốc gia thống nhất và sẽ trao quyền bình đẳng cho mọi công dân, thì nó cũng được người Pháp sử dụng để ủng hộ sự tập trung hóa quyền lực vào tay của một lãnh đạo và ép buộc các dân tộc bị đô hộ phải đi theo mô hình của Pháp, theo sứ mệnh khai hóa văn minh gọi là "Mission Civilisatrice", mà Pháp tự cho là sứ mệnh cao cả, thay vì theo đuổi mô hình bán tự trị hoặc cai trị gián tiếp của Anh, kẻ thù không đội trời chung của Pháp.
Chính yếu tố "une et indivisible" + "mission civilisatrice" đã trực tiếp ảnh hưởng tới cách người Pháp nhìn vào thế giới bên ngoài. Khi người dân Haiti vùng lên đòi độc lập, Pháp đã đem quân đàn áp dã man cho đến năm 1804. Sau này, Pháp sử dụng cả hai nguyên tắc trên để mở các cuộc chinh phạt toàn cầu, phần lớn đầy tàn bạo và nhuốm máu, trải dài từ Algeria, Morocco, Việt Nam, Syria, Lebanon, New Caledonia và Senegal, và đến đầu thế kỷ 20, Pháp là đế quốc lớn thứ ba thế giới sau Anh và Nga, với diện tích lên tới 13,5 triệu cây số vuông.
Tất nhiên, người Pháp không đơn giản chỉ càn quét là xong. Họ cũng bắt đầu ép buộc các tiêu chuẩn Pháp vào trong các thuộc địa toàn cầu của họ, chẳng hạn như ngôn ngữ, luật pháp, phong cách sống, xã hội và đặc biệt là Công giáo La Mã mà người Pháp là những người giao giảng đức tin. Cùng thời điểm đó, Pháp đàn áp dã man các lực lượng phản kháng, từ phong trào nổi dậy của Emir Abdelkader ở Algeria, phong trào phục quốc của người Việt, cuộc nổi dậy của các bộ lạc Rif ở Morocco, phong trào đấu tranh của người Syria; cũng như triệt hạ các hệ thống xã hội bản địa và thay bằng một hệ thống do Pháp đứng tên. Hệ thống kết hợp này đã tạo ra một mạng lưới những giới tri thức, chính trị gia và công dân thân Pháp, nhưng cũng bị cắt đứt với nguồn gốc quê cha đất tổ của mình trong một khoảng thời gian dài.
Khi người Nga rao rảng văn minh

Quân Nga xâm lược Caucasus vào thế kỷ 19
Người Nga thực sự là những học trò giỏi nhất của người Pháp mà ít ai biết, mặc dù không giống người Pháp phát triển theo kiểu hàng hải, người Nga chọn mở rộng trong nội lục.
Mặc cho những xung đột quyền lợi và địa chính trị, người Nga lại có sự ngưỡng mộ lớn cho Pháp cùng thời điểm, vì dù sao đi chăng nữa, chính Pháp là đất nước truyền cảm hứng cho quá trình Tây hóa của Nga. Trên thực tế, người Nga chưa bao giờ xem mình thù địch với Pháp, mà sự đối địch lớn nhất của Nga là với người Anh, vốn cũng là kẻ thù của Pháp, đó cũng là vì người Anh bị xem là kẻ có âm mưu làm suy yếu nội lực Nga. Chẳng thế mà tại sao Nga lại không ưa mô hình bán tự trị hoặc cai trị gián tiếp của Anh.
Vì yếu tố đó mà Nga, trong nỗ lực nhằm chứng minh vị thế, đã áp dụng chính logic "une et indivisible" và "mission civilisatrice" khi xâm chiếm và mở rộng đất đai. Điển hình của việc này là cuộc chinh phạt Caucasus vào thế kỷ 19, dưới danh nghĩa là mở rộng quyền lực Sa hoàng và Chính Thống giáo. Sau hơn một thế kỷ, Nga thành công và bắt đầu đưa di dân Nga và các nhóm Slav và Chính Thống khác (Ba Lan, Ukraine, Belarus, Hy Lạp và Romania) vào nhập cư và chiếm đất trong khi diệt chủng đẫm máu các dân tộc bản địa như người Circassia, Chechen, Ingush và Dagestan. Tại Đông Âu, sau khi xóa sổ Thịnh Vượng chung Ba Lan-Lithuania, chính phủ Nga tiến hành chiến dịch Nga hóa tàn bạo nhằm tiêu diệt văn hóa Ba Lan và Lithuania bản địa, nổi bật hơn cả là chiến dịch cấm truyền thông Lithuania sử dụng ký tự Latin trong thế kỷ 19. Ở bán đảo Crimea, người Tatar Crimea bị dần hạn chế quyền tự do tôn giáo và bị đàn áp chính trị, khiến nhóm dân này dần rời bỏ quê hương về Thổ Nhĩ Kỳ tị nạn. Chính phủ Nga viện dẫn các nước này đã "từ bỏ văn minh", công khai hạ cấp nền văn hóa của các xứ bị đô hộ trong khi tự coi mình là khai sáng các nền văn minh khác theo khuôn mẫu của Nga; ngay chính bản Hiến pháp Nga năm 1906 (bản Hiến pháp đầu tiên của Nga) cũng nhấn mạnh ý tưởng về một nhà nước thống nhất.
Các chiến dịch Nga hóa và khủng bố các nhóm dân tộc thiểu số không chấm dứt sau khi chế độ Sa hoàng sụp đổ và thay thế bằng nhà nước Liên Xô. Liên Xô cố gắng tây chinh hòng đem chủ nghĩa cộng sản vào Tây Âu nhưng bị Ba Lan đánh bại năm 1920. Dưới thời Stalin, Liên Xô tiến hành chiến dịch tập thể hóa và cưỡng bức lao động tại Ukraine và Kazakhstan, gây ra nạn đói Holodomor và Asharshylyk, trong khi cũng thanh trừng tàn khốc các sắc dân thiểu số người Triều Tiên, Phần Lan, Ba Lan, Hán và Mông Cổ trong lãnh thổ của nước này.
Khi Thế chiến II làm lộ bản chất thật

Quân đội Liên Xô duyệt binh mừng chiến thắng Thế chiến II
Nhưng có lẽ không cái gì bộc lộ rõ bản chất thực dân của Pháp và Nga mạnh mẽ như Thế chiến II.
Liên Xô, sau khi ký hiệp ước Molotov-Ribbentrop với Đức năm 1939, hùa vào xâm lược Ba Lan bốn tuần sau khi Đức đã giải quyết gọn gàng, và họ theo chân bằng một series các cuộc xâm lược hung hăng vào Phần Lan, Lithuania, Latvia, Estonia và Romania. Trong tất cả, chỉ có Phần Lan và Romania giữ được độc lập, nhưng bị buộc phải cắt đất cho Liên Xô; các vùng đất bị cắt phải trải qua quá trình Nga hóa và tập thể hóa tàn bạo. Mặc cho Đức xâm lược Liên Xô sau đó, chính phủ Stalin vẫn tiến hành các chiến dịch đàn áp đẫm máu như trục xuất người Thổ Meskheti, Tatar Crimea, Chechen, Kalmyk và Ingush ra Trung Á với cáo buộc cộng tác với Đức, gây ra thương tổn nặng nề cho các dân tộc này. Liên Xô cũng chủ động cố ý ngưng một số cuộc tiến công để Đức loại bỏ các phong trào kháng chiến có tư tưởng chống Liên Xô như tại Warsaw 1944, khi quân Đức hủy diệt toàn bộ thủ đô của Ba Lan và biến thành phố thành một đống phế liệu hoang tàn trước khi Hồng Quân tiến vào với các lực lượng tay sai do Stalin dựng lên, một chiêu thức sau này Liên Xô cũng áp dụng với Bulgaria, Romania, Hungary, Tiệp Khắc và Đông Đức.
Pháp thì cũng chẳng khá hơn. Mặc cho chính Pháp là một thành viên Đồng Minh đời đầu, song Pháp đã không hành động khi Đức đánh Ba Lan năm 1939. Một năm sau, Pháp đầu hàng chỉ sau sáu tuần, trước khi một chính phủ thân Đồng Minh được vội vã thành lập bởi Charles De Gaulle ở London. Tuy nhiên, thay vì giúp sức cho phe Đồng Minh được lãnh đạo bởi Anh, Hoa Kỳ và sau này là Liên Xô (và chút ít là Trung Quốc), chính quyền Pháp Tự Do của De Gaulle lại chọn xung đột với lực lượng của chính quyền Vichy tại các thuộc địa nhiều hơn là đánh nhau với quân Đức và quân Nhật, mà không dành thời gian giải quyết những bất mãn của dân chúng thuộc địa. De Gaulle cũng có quan hệ vô cùng căng thẳng với chính Thủ tướng Anh Winston Churchill và Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt vì tư tưởng Đại Pháp của ông xung khắc với lợi ích và toan tính dài hạn của London và Washington.
Trong khi đó, đây lại cũng là hai quốc gia có tỷ lệ người ủng hộ phe Trục do Đức và Nhật Bản cầm đầu thuộc hàng cao nhất cuộc chiến, và nhiều hành vi còn bị cấu thành tội ác chống lại loài người.
Với Liên Xô, ở châu Âu, binh đoàn Kaminski của SS, tập hợp bởi những người Liên Xô thù địch với Stalin, là một trong những binh đoàn tàn ác và đẫm máu nhất của chế độ Quốc Xã, khiến Hitler và các thuộc hạ vô cùng ghê rợn. Các đội quân người Liên Xô khác ở Đông Âu, gọi là Hiwi, cũng bị coi là vô cùng hung hãn và khát máu, thường hay bắt người Do Thái hay Đông Âu khác vào các trại tập trung để quân Đức xả khí độc ngay lập tức. Ở châu Á, Đảng Phát xít Nga thân Đức và Nhật tham gia tiếp tay bắt cóc rất nhiều người vô tội, chủ yếu là người Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ, tù binh Liên Xô, Anh, Mỹ, vào các phòng thí nghiệm quỷ dữ của quân đội Thiên hoàng như Đơn vị 731; trong khi lữ đoàn Asano vốn toàn người gốc Liên Xô cũng vô cùng tàn ác với người dân Mãn Châu vì các chiến dịch càn quét đẫm máu.
Với Pháp, ở châu Âu, sau khi đầu hàng Đức, các nhà máy Pháp trên toàn quốc đã được trưng dụng làm nơi sản xuất các vũ khí chiến tranh chinh phạt Đông Âu, và lãnh thổ Syria và Lebanon còn bị Đức sử dụng để hỗ trợ phong trào phát xít ở Iraq; rất nhiều người Pháp tham gia vào Wehrmacht và SS, nổi tiếng nhất là sư đoàn SS Charlemagne, một trong những đơn vị cuối cùng cố thủ Berlin khi Hồng Quân tràn vào. Ở châu Á, thuộc địa Đông Dương của Pháp bị Nhật sử dụng cho các chiến dịch tấn công toàn bộ Đông Nam Á và Trung Quốc với sự ngầm đồng thuận của giới chức Vichy, khiến nhiều tù binh Đồng Minh bị đối xử tàn bạo bởi lính Nhật sau này; chính điều này mà sau khi Nhật lật Pháp năm 1945, các binh lính Pháp tháo chạy sang Trung Quốc bị đối xử vô cùng tệ bạc bởi chính phủ Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch. Giới cai trị Pháp tại Syria, Lebanon, Madagascar và Việt Nam cũng trực tiếp gây ra nạn đói bằng các chính sách cưỡng bức trưng thu lương thực, mặc dù chỉ có tình hình ở Syria, Lebanon và Madagascar là được kịp giải quyết trước khi nó bùng phát thành thảm họa quốc gia. Khi người dân Algeria ăn mừng chiến thắng ở châu Âu năm 1945, họ lại bị thảm sát bởi chính người Pháp mà họ đã từng chiến đấu cùng nhau, gây oán hận ở Algeria.
Từ chính các hành vi này, nên sau khi Thế chiến II kết thúc, Paris và Moscow đã ngay lập tức lao vào các hành động nhằm mở rộng hoặc níu giữ thể chế đế quốc thực dân của họ. Từ cách Liên Xô khủng bố người dân Hungary và Tiệp Khắc, cho đến việc Pháp ném bom ở Việt Nam và Algeria, nó đều theo một ý thức hệ chung về việc các đế chế của họ "phải tiếp tục hợp nhất" và "không thể tách rời". Và tất nhiên, nó kết thúc không đẹp gì, khi đế chế thực dân Pháp dần sụp đổ sau năm 1960, trong khi Liên Xô tan rã năm 1991.
Những vết thương không lành và phía trước

Lễ cầu siêu cho các nạn nhân người Crimean Tatar bị trục xuất bởi Liên Xô năm 1944 tại Kyiv, Ukraine
Do chính những di chứng tàn bạo và đẫm nước mắt này, nên không ngạc nhiên khi tại sao các cựu thuộc địa của Pháp và Nga thường có khuynh hướng phi Pháp hóa (de-Francisation) và phi Nga hóa (de-Russification) cao hơn rất nhiều so với các cựu thuộc địa của Anh, Tây Ban Nha, và Bồ Đào Nha. Ở một số nước mà tiếng Pháp và tiếng Nga đã từng là ngôn ngữ quốc gia, chẳng hạn như Syria, Ba Lan, Việt Nam và Lithuania, các ngôn ngữ này đã và đang bị thay thế bởi các tiếng bản địa hoặc tiếng Anh, là ví dụ điển hình, dù quá trình đó bị cản trở bởi các vấn đề chính trị.
Những vụ việc gần đây chỉ càng làm khoét thêm những vết thương không lành này, mà chính Pháp và Nga lại làm trầm trọng thêm. Ở Mali, Niger và Burkina Faso, các chính phủ này đang tìm cách loại bỏ vĩnh viễn tiếng Pháp khỏi hệ thống giáo dục do di chứng thực dân; nó đang nhận được sự hưởng ứng ở những nước khối Pháp ngữ khác như Morocco, Tunisia, Algeria và Senegal vì chán ghét việc Pháp tiếp tục nhúng tay vào vấn đề nội quốc. Trong khi đó, Ukraine, Gruzia, Armenia và Kazakhstan đang bắt đầu quá trình loại bỏ tiếng Nga vĩnh viễn khỏi hệ thống giáo dục bắt buộc cũng vì di sản thực dân trên, và hành động của các nước này cũng được ủng hộ bởi các nước từng bị đô hộ hoặc cai trị gián tiếp như Phần Lan, Lithuania, Estonia và Séc do nỗi sợ hãi với Nga.
Đến nay, cả Pháp và Nga, dù không chung thể chế chính trị và chiến tuyến, vẫn đang phải vật lộn đối mặt với di chứng này. Nếu như Pháp, một nền cộng hòa tập trung, chọn đối diện một cách nửa vời và không nhất quán; thì Nga, một nhà nước toàn trị, lại chọn từ chối thẳng thừng và cố gắng che giấu trách nhiệm. Nhưng cả hai đều có vẻ chung một ý kiến: nếu có lỗi, thì đó cũng chỉ là vô tình mà thôi. Chính điều đó mà có cảm giác hai nước vẫn đang rất mặc cảm khi nghĩ về quá khứ.
Điều này khiến chúng ta chỉ có chạch lòng thêm khi chúng ta nhận ra rằng bản chất thực dân của Pháp và Nga không hề khác nhau như chúng ta vẫn tưởng, mà đơn giản, nó là hai mặt của một đồng xu mà thôi. Một di sản đầy nhơ nhuốc và bi kịch của cả hai, với những bí mật còn chưa được tìm hiểu hết. Có lẽ, chỉ khi cả hai đất nước này chọn biện pháp đương đầu với sự thật và lắng nghe tại sao dân chúng tại các xứ bị đô hộ không ưa gì họ, thì có lẽ họ mới hiểu tại sao nó lại thành thế này, thì lúc đó, họ mới thực sự thông cảm với những nạn nhân năm xưa mà họ đã làm.

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất