
Một trong bảy mảnh vỡ của Bia Kền Kền (Stele of Vultures) của người Lưỡng Hà, một trong những chứng tích sớm nhất về chiến tranh được ghi lại. Tấm bia ca tụng chiến thắng của Ennatum và thành bang Lagash của ông trước thành bang láng giềng là Umma.
Chiến tranh cũng lâu đời như chính bản thân nền văn minh nhân loại vậy. Trong 3,421 năm, chỉ có gần 8% là không có chiến tranh, tương đương với khoảng 268 năm rải rác trên suốt quãng thời gian đó. Nói cách khác, chiến tranh không phải sự xen vào giữa hòa bình mà chính những giai đoạn hòa bình mới là sự xen giữa các cuộc chiến tranh. Lý do thì có rất nhiều, và luôn luôn có: Nó không thờ cùng vị Chúa với tao, nó dắt dê qua đất của tao, nó có nhiều lúa hơn tao, con hươu kia là của tao, nó nhìn đểu tao,... Dù con người bây giờ đã bay được lên tận cung trăng, thì bản tính con người vẫn không thay đổi từ lúc họ còn sống trong những hang động và dùng đá và những chiếc chùy gỗ để phang vào đầu nhau.
Prelude: Nâng tầm chiến tranh

Một người da đỏ dùng một chiếc phóng lao. Nguồn.
Thời tiền sử, một gã người nguyên thủy ném đá có thể giết chết một người. Rồi đến atlatl (siêu vũ khí đầu tiên của nhân loại, một công cụ phóng lao) - một gã giờ đây có thể giết ba, bốn người gì đó từ xa. Tiếp đến Thời đại đồ đồng, chiếc atlatl lại biến thành một cây cung liên hợp (composite bow). Với sự kết hợp của gân, sừng và gỗ trong tay, gã giờ có thể bắn chết tầm chục người hoặc hơn nếu là một cung thủ tốt, mà còn không cần phải thấy mặt nạn nhân của mình. Thời đại đồ sắt, Thời kỳ Cổ điển (Classical Age) và Thời Trung cổ tiếp tục bổ sung vào kho vũ khí của gã những lưỡi kiếm, mũi lao và đầu tên rèn từ thép sắc bén hơn, chết người hơn và bền bỉ hơn.

Một khẩu đội súng máy Vickers của anh ở Trận Somme trong Thế chiến I.
Thời đại Thuốc súng (Gunpowder Age) mang đến cho gã một cơ hội hoàn toàn mới: Khả năng bắn hạ số lượng người tương đương, thậm chí hơn một cung thủ xuất sắc mà không cần phải trải qua những phiền nhiều của việc khổ luyện ròng rã hàng năm trời. Cơ hội đó mang tên: súng. Cách mạng Công nghiệp và Kỷ nguyên Công nghiệp nối tiếp nó chứng kiến sự ra đời của pháo bắn nhanh, súng máy và súng trường - một bước nhảy vọt trong lịch sử giết người. Chưa bao giờ gã có thể giết không chỉ nhanh mà còn nhiều như vậy: Một tràng súng máy quét qua, gã đã bắn hạ vài tá người. Nạp lại đạn, gã lại hạ thêm vài tá và nạp lại gã lại hạ thêm vài tá nữa. Một phát trọng pháo cách xa hai chục ki-lô-mét, và tất cả những gì còn lại của một tiểu đội là một cái hố bốc khói. Súng trường thì kém hiệu quả hơn, những cũng đủ để gã hạ gục những cái chấm đen từ khoảng cách gần nửa cây số. Thế chiến II sau đó mang đến một số thay đổi nhỏ, như sự phổ biến của vũ khí tự động và những đợt ném bóm trải thảm: Chễm chệ trên một chiếc oanh tạc cơ, gã nhấn "thả" và có thể thổi tung cả ngàn người từ tầng bình lưu.

Tên lửa AGM-114 Hellfire bắn trúng một mục tiêu ở Libya năm 2011
Ồ, chưa gì đã đến thời hiện đại. Gã còn không thèm liếc nhìn mà nhấp chuột, và thưởng cho bản thân một ly cacao nóng trong khi loạt tên lửa vừa phóng bắn tan xác vài ngàn người. Lúc này, mạng người cũng chỉ đáng 1,42 calo mà gã mới bỏ ra để ấn nút phóng. Cùng với đó là súng trường tấn công, máy bay phản lực, và bom hạt nhân (riêng bom hạt nhân thì chắc không cần phải nói). Với một trái bom hạt nhân (bọm phân hạch và bom khinh khí), gã có thể san phẳng một thành phố, giết hàng trăm nghìn, không, thậm chí hàng triệu. Và ICBM (tên lửa đạn đạo liên lục địa) là một công cụ phóng đại khả năng ấy, biến mọi thành phố và quốc gia cách nửa vòng trái đất thành những cảnh game Fallout trong khoảng thời gian chỉ đủ làm món lườn gà áp chảo.

Một vụ thử hạt nhân ở Sa mạc Nevada năm 1959.
Ta có thể thấy được sự tiến bộ của nền văn minh cũng đồng thời tương đồng với sự tiến bộ trong vũ khí, và rộng hơn là chiến tranh. Và không đâu mà tài hoa và trí tuệ con người được thể hiện rõ hơn là qua bom, súng và gươm. Vậy, làm thế nào mà chúng ta trở nên như thế?
I. Giải phẫu chiến tranh
1) Động cơ

Việc giết chóc là bị cấm; và do đó tất cả những kẻ sát nhân đều bị trừng trị trừ phi chúng giết đủ số người, và trong tiếng kèn trumpetVoltaire
Như đã nhắc đến ở phía trên, có rất nhiều nguyên do cho chiến tranh: Bất đồng về ý thức hệ và tôn giáo, khan hiếm tài nguyên, tranh giành quyền lực và sức ảnh hưởng, sự tự hào dân tộc bị tổn thương, sự kiêu ngạo, lòng tham... Đặc biệt là lòng tham.
Không, tất nhiên không phải là lòng tham của người lính. Trong đầu một người lính khi ra trận, ít khi anh ta nghĩ đến những mỏ dầu trù phú, những cánh đồng màu mỡ hay những mỏ kim loại quý hiếm của quốc gia đối địch, và anh ta cũng hầu như không quan tâm đến việc khi những mỏ dầu, ruộng đồng hay khu mỏ đó thuộc về quốc gia của mình thì anh ta sẽ được lợi lộc gì. Anh ta tòng quân và ra trận vì gia đình xóm mạc, vì lòng yêu nước, và nghĩa vụ, có thể còn có một chút dân tộc chủ nghĩa. Nhưng những người có thể hưởng lợi trực tiếp từ chiến tranh là các chủ tư bản, hoặc các vị tướng tá hay những ông hoàng hay những tên độc tài,... - và hầu như đã luôn là như vậy từ lúc có chiến tranh.
Không mấy khi các cuộc chiến bắt đầu do một nhu cầu tuyệt vọng về không gian hay những tài nguyên cần thiết để sinh tồn, mà vì một quốc gia muốn nhiều hơn là nó cần - cụ thể hơn, là tầng lớp phía trên của nó. Một quốc gia có thể đã sở hữu đất đai, tài nguyên và an ninh tương đối ổn định, nhưng vẫn tiến hành chiến tranh để mở rộng lãnh thổ, kiểm soát các tuyến thương mại, độc chiếm tài nguyên chiến lược hoặc gia tăng ảnh hưởng địa chính trị. Trong trường hợp này, động lực không còn là phòng thủ hay đáp ứng nhu cầu cơ bản, mà là để tích lũy quyền lực, của cải và vị thế. Lượng của cải và các lợi ích kinh tế này sau đó sẽ tập trung chủ yếu vào tay của một nhóm lợi ích thiểu số - Và vì vậy, nhóm này sẽ có xu hướng thúc đẩy chiến tranh. Một ví dụ điển hình là Basil Zaharoff, nhà công nghiệp người Hy Lạp nhưng nổi tiếng hơn trong vai trò là tay buôn vũ khí khét tiếng cho tập đoàn Vickers với biệt danh Thương gia tử thần. Bằng việc kích động các cuộc xung đột và liền với đó là bán súng ống, tàu thuyền, máy bay, pháo, thiết giáp cho tất cả các phe tham gia, Zaharoff đã kiếm được những khoản lợi kếch xù từ Thế chiến I và các cuộc xung đột sau đó.

Nhà máy của đế chế hóa chất IG Farben, chuyên chịu trách nhiệm cho hoạt động sản xuất nhiên liệu chất lượng cao, cao su tổng hợp, dược phẩm... gần Auschwitz vào năm 1941.
Ngoài ra, không thể không kể đến những trùm tư bản công nghiệp người Đức với những cái tên tiêu biểu như IG Farben, Krupp, Daimler-Benz, Siemens, BMW hay Volkswagen đã hưởng lợi khổng lồ từ việc sử dụng lao động cưỡng bức người Do Thái, chiếm hữu các cơ sở sản xuất có từ trước ở các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng và tham gia vào những hợp đồng béo bở được nhà nước Quốc Xã chống lưng. Chính bản thân chính quyền Quốc Xã trước đó cũng đã được những nhà tài phiệt hậu thuận lớn về tài chính và giúp sức không nhỏ trong quá trình trở nên lớn mạnh và thâu tóm nước Đức của nó.
Nghĩ mà xem: Mỗi viên đạn, mỗi lít nhiên liệu, mỗi trái bom, mỗi khẩu súng, mỗi chiếc máy bay và mỗi chiếc xe tăng đều tốn tiền. Mỗi người lính cũng chỉ là một con người, cần ăn uống ngủ nghỉ, và để nuôi người lính cần vô khối tiến. Rất nhiều tiền là đằng khác - về cơ bản, chiến tranh là một cuộc thi đốt tiền, và hai phe đối địch đua xem bên nào có nhiều tiền để đốt hơn và ai đốt nhanh hơn (ví dụ, chiến dịch Epic Fury mới đây ngốn xấp xỉ một tỷ đô-la Mỹ mỗi ngày). Và tái thiết ở những vùng lãnh thổ chiếm được cũng đốt rất nhiều tiền. Ta có thể dàng đoán được là tất cả số tiền được chi cho tất cả những điều trên sẽ chảy vào túi ai.

Bản đồ lộ trình các cuộc Thập Tự Chinh.
Sẽ không có tám cuộc Thập Tự Chinh đến Đất Thánh nếu các thương nhân không muốn tìm những tuyến lộ trình thay thế để tránh phải nộp phí bảo kê cho người Hồi giáo, hay nếu các quốc gia Châu Âu không có tham vọng và mơ ước đoạt lấy những vùng đất phì nhiêu , những tài nguyên quý giá ở phương Đông và mở rộng sức ảnh hưởng chiến lược. Sẽ không có Thập Tự Chinh nếu các thành bang Ý như Genoa và Venice không thể mở rộng các mạng lưới giao thương và làm chủ các thương cảng quan trọng ở phía Đông Địa Trung Hải. Và nên nhớ, những "dũng sĩ" lẽ ra có sứ mệnh "giải phóng vùng đất Thánh khỏi tay lũ ngoại đạo báng bổ" người Hồi giáo đã cướp phá và đốt trụi phần lớn Constantinople trong cuộc Thập Tự Chinh lần thứ tư, vào tháng Tư năm 1204 (với động cơ chính, tất nhiên, là lòng tham) - và sau đó chia chác với nhau những phần lãnh thổ chiếm được của đế chế Byzantine. Có thể đức tin và lòng thành kính Chúa trời của các hiệp sĩ cũng đóng một phần quan trọng, nhưng rõ ràng là tiền vàng, địa vị, đất đai và gia vị Đông phương còn là nguồn động lực lớn hơn thế rất, rất nhiều.
2) "Tiếng kèn trumpet"
Chà, vậy đó. Nhưng khi một quốc gia chuẩn bị bước vào một cuộc chiến, nó đâu thể cứ thế phăm phăm đi vào và nói: "Này các bạn, cho tôi lấy đất của các bạn nhé?" hay "các mỏ dầu của bạn có vẻ nhiều nhỉ?". Nó (đặc biệt là những cuộc chiến phi nghĩa với tôn chỉ duy nhất là tiền) cần sự hợp thức hóa. Sự hợp thức hóa này có thể được đạt qua ,ví dụ, một chiếc khu trục hạm mang tên Maddox đậu ở trong vịnh Bắc Bộ hay một lọ muối của một người tên Colin Powell. Không quan trọng nghe nó yếu đuối đến đâu, chỉ cần và phải có một cái cớ.
Có thể chiến tranh được khởi xướng bởi tầng lớp lãnh đạo, nhưng cỗ máy chiến tranh lại được vận hành bởi tiền (thuế) và lính, cả hai thứ đều đến từ người dân. Vì thế, đối với ngay cả các nhà nước chuyên chế thì sự đồng thuận (ít nhất là của phần lớn) công chúng vẫn là điều vô cùng quan trọng - người dân sẽ dễ dàng chấp nhận chiến tranh hơn nếu nó được biện minh là cần thiết - trả thù, "bảo vệ kiều dân", "chống khủng bố", "phục hồi trật tự", hay "tự vệ" chỉ là một số những cái cớ thường được dùng. Tính hợp pháp quốc tế cũng là một lý do khác. Trật tự quốc tế hiện đại được xây dựng dựa trên ít nhất là chuẩn mực hình thức rằng chiến tranh xâm lược là sai trái, đặc biệt là sau Thế chiến II và sự thành lập Liên Hợp Quốc. Vì vậy, ngay cả những quốc gia có kế hoạch gây hấn trắng trợn cũng thường cố gắng đưa hành động của mình vào các phạm trù pháp lý hoặc đạo đức được chấp nhận.
Niềm tin tuyệt đối hiếm khi là mục đích của những cái cớ (Chủ yếu vì khó mà thuyết phục hoàn toàn được tất cả mọi người). Thông thường, mục tiêu không phải để thuyết phục, mà là tạo ra đủ sự không chắc chắn, và xa lạ để giảm bớt sự phản kháng. Có thể nhìn bức áp phích tuyên truyền nổi tiếng mang tên Der Drahtzieher (Kẻ giật dây) dưới đây, và ta sẽ hiểu. Bức tranh tuyên truyền này, của Đảng Dân tộc-Xã hội Đức (Völkisch-Sozialer Block, một đảng có hệ tư tưởng gần với Đảng Quốc Xã), khắc họa một gã trùm tư bản phì nộn người Do Thái đang thao túng người lao động để họ bỏ phiếu cho mình. Bằng việc miêu tả bản chất của người Do Thái là xấu xa (Thuyết âm mưu về việc người Do Thái kiểm soát thế giới) và tạo ra một hình ảnh gây khó chịu hết mức có thể cho người xem, có thể tạo ra một sự liên kết trong tiềm thức là người Do Thái=xấu xa. Liên kết này yếu, nhưng đó là tất cả những gì cần thiết. Tại sao?

Đó là vì hầu hết mọi người không thực sự quan tâm đến những con người xa lạ đang chết ở một đất nước xa lạ nào đó mà bảo họ tìm trên bản đồ có lẽ cũng phải mất nửa tiếng. Khi chiến tranh còn ở xa, họ chỉ trải nghiệm nó như một khái niệm trừu tượng: Vài dòng tin tức, một vài con số thống kê, hay các bài diễn văn chính trị. Họ chỉ quan tâm đến cuộc sống và lợi hiện tại của bản thân. Vì thế, khi chiến tranh nhảy vào làm rối loạn đời sống của họ - kinh tế suy sụp, người thân chết trận, nhà cửa bị oanh tạc - họ biểu tình đòi hòa bình, chủ yếu là cho sự khôi phục của cuộc sống bình thường trước đây chứ không phải sự chấm dứt khổ đau của những con người cách họ nửa vòng Trái Đất. Nếu Mỹ lúc đó thực sự đang trên đà chiến thắng, và thương vong ít hơn nhiều, thì có lẽ phong trào phản chiến đã không bùng lên rầm rộ như thế. Sự "xói mòn đạo đức", qua những tấm áp phích tuyên truyền như bên trên, cũng góp phần củng cố và hợp lý hóa sự ích kỷ và vô cảm của con người. Khi phía bên kia ít "người" hơn, "đe dọa" hơn, "xa lạ" hơn, sự cắn rứt lương tâm và khó chịu sâu trong tâm can của mỗi người được giảm đi, và sự ích kỷ được hợp lý hóa - tại sao phải đồng cảm, nếu người Do Thái là "lũ bọ chét lan truyền sốt phát ban" hay "lũ sâu mọt khiến nước Đức chiến bại"?

3) Một số sự thúc đẩy khác
Như đã nói, chiến tranh là tổng hòa của vô cùng nhiều các yếu tố trộn lẫn và đan xen với nhau, và khẳng định rằng sự tham lam là yếu tố quyết định duy nhất sẽ là thiếu sót. Một trong các yếu tố quan trọng nhất chính là cảm xúc: Các cá nhân lại đặc biệt dễ dàng bị chi phối bởi cảm xúc - một sự thật đã được những Hitler hay những Mussolini tận dụng triệt để xuyên suốt lịch sử. Cảm giác sợ hãi, "bị làm nhục", cay đắng (như ở nước Đức hậu Thế chiến I); khao khát phục thù, "rửa hận"; sự tự hào dân tộc và lòng yêu nước; sự "hưng phấn tập thể" (cảm giác kích động mãnh liệt, như cuộc sống được lật sang một trang mới, đến từ anh hùng chủ nghĩa, cảm giác tìm được "lẽ sống", "mục tiêu chung", được có mặt trong một "thời khắc vĩ đại của lịch sử") đều có thể bị thổi phồng, đơn giản hóa và bơm lên bởi bộ máy tuyên truyền, những bản quân nhạc hào hùng, những bộ quân phục hồ phẳng lì và tiếng giày đinh nện xuống mặt đường từ những Stechschritt.

Lính Đức diễu hành đi qua Cổng Brandenburg năm 1940. Nguồn: Getty Images
Ngoài ra, đôi khi chiến tranh còn là một lối thoát dễ dàng cho một vấn đề trong nước. Bằng cách tạo ra một kẻ thù chung, mâu thuẫn nội bộ đến từ suy thoái, sự bất ổn chính trị và chia rẽ có thể được đóng băng tạm thời, khi xung đột bên ngoài được sử dụng như một sự chuyển hướng chú ý, xây dựng hình ảnh một Führer (Người Lãnh đạo) mạnh mẽ và biện minh cho tăng cường kiểm soát xã hội. Các cuộc chiến tranh cũng có xu hướng bắt nguồn từ sự kiêu ngạo - sự đánh giá rằng "đối thủ yếu hơn và một chiến thắng thần tốc hoàn toàn trong tầm tay". Trong khi đó, sự kiêu ngạo này cũng thường bắt nguồn từ các tiến bộ trong công nghệ: Luyện kim, chiến xa, thuốc súng, công nghiệp hóa, phân tách hạt nhân - Bằng cách thay đổi ngưỡng chi phí và cán cân sức mạnh, tiến bộ công nghệ có thể là tiền đề cho sự leo thang và chiến tranh.
II. Cái giá của chiến tranh

Một phần quang cảnh trung tâm thành phố Dresden sau khi bị không quân Đồng minh oanh tạc dữ dội, Tháng Hai năm 1945
War, it ain’t nothin’ but a heartbreaker War, friend only to the undertaker..."War". Edwin Starr
Đúng vậy. Chiến tranh chỉ là bạn của người hộ tang. Nó không chỉ chôn chặt hiện tại mà còn đào mộ cho cả tương lai.
Những cánh đồng thấm máu người vô tội. Những thành phố bị bom đạn san phẳng. Sự tiến bộ của nhiều thập kỷ biến thành gạch vụn Những "thế hệ đã bị chiến tranh huỷ hoại – cho dù họ đã thoát khỏi đạn pháo của chiến tranh", như lời của Remarque.
1) Cái giá kinh tế
Chiến tranh có thể kích thích nền kinh tế, làm giảm số người thất nghiệp và tăng GDP - hay có vẻ là như vậy. Quả thực đúng là không còn người thất nghiệp, vì hàng triệu người thất nghiệp đã được đưa vào quân đội hay các nhà máy để cầm súng, để chế tạo bom và tên lửa. Và cũng quả đúng là GDP có tăng - chủ yếu là "nhờ" chính phủ bơm tiền vào nền kinh tế và tăng chi tiêu quốc phòng. Vấn đề với sự kích cầu này là nó là ảo - sản xuất thêm xe tăng có thể làm tăng GDP chứ không thực sự làm xã hội giàu thêm, nâng cao chất lượng sống của người dân hay tăng năng lực phát triển dài hạn. Mỗi một đồng được chi cho xe tăng, đạn pháo và chiến hạm là lại bớt đi một đồng được chi cho giáo dục, khoa học, y tế, phát triển dân sự và nâng năng suất lao động. Thêm vào đó, hầu như mọi loại vũ khí được tạo ra để bị tiêu hủy, tức là sau khi được sử dụng chỉ đúng một lần thì chúng sẽ biến mất khỏi cõi đời này và nền kinh tế - hay về cơ bản là ném tiền ra ngoài cửa sổ.

Sản xuất xe tăng ở một nhà máy Đức, khoảng năm 1940
Chúng ta có thể lấy cú bùng nổ kinh tế của nước Đức Quốc Xã thời kỳ tiền-Thế chiến II (Vâng, lại nước Đức Quốc Xã) làm ví dụ. Trong khi chế độ cầm quyền chi mạnh tay cho các dự án cơ sở hạ tầng công cộng, tiêu biểu là mạng lưới cao tốc Autobahn; thì RAD (Bộ Lao động Đế chế) cưỡng ép người thất nghiệp tham gia vào các dự án nông nghiệp và dân sự (chính đội quân lao động này đã góp phần xây dựng hệ thống Autobahn nổi danh). Trong khi đó, sản lượng công nghiệp tăng phi mã nhờ tái vũ trang quy mô lớn và tổng động viên cho chiến tranh. Một trò phù thủy khác là việc phát hành các kỳ phiếu MEFO - nói thẳng ra là giấy lộn nhưng được ngân hàng gán cho giá trị và được đảm bảo bằng những lời hứa hão rằng sẽ "sớm được nhà nước chi trả" (Nhà nước Đức Quốc Xã sẽ chi trả cho các dịch vụ và mặt hàng bằng MEFO, và sau đó liên tục kéo dãn ngày đáo hạn ra). Tất nhiên, những trò phù phép kinh tế như vậy không kéo dài được lâu, và đến khoảng năm 1939 thì nước Đức một lần nữa lại ngấp nghé trên bờ vực của một cuộc khủng hoảng kinh tế khác - chỉ bằng cách liên tục bành trướng và cướp bóc tài nguyên, nhân lực và năng lực công nghiệp của các quốc gia láng giềng một cách có hệ thống thì nền kinh tế Đức mới tránh được sự sụp đổ (như được trình bày trong cuốn The Wages of Destruction của Adam Tooze).
Ngoài ra, chiến tranh còn thường kéo theo suy thoái và sang chấn kinh tế lâu dài sau khi chiến tranh đã kết thúc. Chi phí kinh tế vĩ mô của xung đột nhìn chung là rất lớn, với GDP bình quân đầu người giảm khoảng 28% sau mười năm kể từ khi xung đột bắt đầu. Điều này chủ yếu do tiêu dùng cá nhân giảm 25% sau mười năm kể từ khi xung đột bắt đầu. Xung đột cũng liên quan đến sự sụt giảm mạnh trong thương mại chính thức, với xuất khẩu và nhập khẩu ước tính giảm lần lượt 58% và 34% sau mười năm kể từ khi xung đột bắt đầu (Novta et al., 2020). Điều đáng chú ý là nếu sau một cuộc khủng hoảng tài chính, nền kinh tế có thể vực dậy và phục hồi tương đối nhanh chóng nếu niềm tin trở lại (vì cơ sở vật chất và lực lượng lao động vẫn còn đó); thì chiến tranh phá hủy hoặc làm co rút đồng thời cả tài sản vật chất, nhân lực, thể chế lẫn niềm tin xã hội.
Nhưng cái giá lớn nhất là sự mất mát tiềm năng. Tổn thất sâu nhất không phải những gì bị phá hủy hôm nay, mà là những gì sẽ không bao giờ được tạo ra nữa. Một đứa trẻ có thể đã trở thành một nhà khoa học có thể đã bị vùi dưới làn bom. Một thế hệ chỉ học được cách cầm súng thay vì được giáo dục để xây dựng đất nước. Chiến tranh không chỉ làm một hay nhiều nền kinh tế nghèo đi; nó còn làm mất hay lệch đi quỹ đạo phát triển lẽ ra sẽ đạt được nếu chiến tranh không xảy ra.
2) Cái giá con người

Bức ảnh nổi tiếng đoạt giải Pulitzer "Em bé Napalm" của nhiếp ảnh gia Huỳnh Công Út, ghi lại cảnh cô bé 9 tuổi Phan Thị Kim Phúc cùng các em chạy loạn sau khi máy bay Việt Nam Cộng Hòa ném bom Napalm xuống làng Trảng Bàng, Tây Ninh.
Phần lớn thương vong trong chiến tranh là của dân thường. Chỉ riêng trong thế kỷ qua, gần 200 triệu người đã thiệt mạng do nạn đói, diệt chủng và chiến tranh, với dân thường chiếm phần lớn trong số đó. Ví dụ, trong Chiến tranh Việt Nam, dân thường chiếm gần 70% thương vong; hoặc ~80% trong cuộc xâm lược của Israel. Trong chiến tranh tổng lực, không có ranh giới rõ ràng giữa chiến trường với hậu phương: Một bệnh viện chứa đầy thường dân hay một trường học đầy trẻ em cũng chỉ là một mục tiêu như một doanh trại hay một sở chỉ huy - mỗi một Khâm Thiên bị cày nát đều là một "mục tiêu lưỡng dụng bị loại trừ", là một phần trong kế hoạch nhằm đưa đối phương "về thời kỳ Đồ Đá". Con người thì bị đối xử như những công cụ tầm thường. Mạng người trở thành con số trong báo cáo. Giá trị con người bị đo bằng giá trị chiến thuật và mức độ hữu ích đối với một Endsieg (chiến thắng cuối cùng) - thay vì chính trị phục vụ con người, con người bị biến thành nhiên liệu phục vụ cho những mục tiêu chính trị và động cơ thấp hèn khác.
Con người đã luôn chết vì bệnh tật, thiên tai, đói nghèo. Điều làm chiến tranh khác biệt nằm ở chỗ nó chủ động nghiền nát những điều bình thường nhất của đời sống con người. Chiến tranh phá hủy cảm giác được sống như một con người bình thường, nó xóa sổ mọi ngày mai. Và chiến tranh không bao giờ kết thúc luôn - nó vẫn tồn tại trong những giấc mơ của những người sống sót, mỗi lần giật mình vì tiếng động lớn hay những đêm mất ngủ. Nó tồn tại trong chiếc ghế trống bên bàn ăn, nỗi đợi chờ khắc khoải của một người mẹ, một người vợ; hay nỗi bơ vơ của những đứa bé mồ côi cha.
III. Kết
All wars are civil wars, because all men are brothers.
Chất núi thây lên ở Austerlitz và Waterloo Chôn chúng xuống đi — rồi để ta làm nốt phần mình. Ta là cỏ. Ta phủ lấp tất cả. Và hãy chất cao lên ở Gettysburg Và hãy chất cao lên nữa ở Ypres, Verdun Chôn chúng xuống đi — rồi để ta làm nốt phần mình. Hai năm, rồi mười năm, hành khách hỏi người soát vé: "Đây là nơi nào? Chúng ta đang ở đâu?" Ta là cỏ. Hãy để ta làm nốt phần mình."Cỏ", Carl Sandburg

Lịch sử
/lich-su
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

